Việc một tổ chức
quốc tế chuyên thu thập dữ liệu về nhân quyền đưa ra những đánh giá mang nặng
tính chủ quan đối với tình hình tự do tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Khmer
theo Phật giáo Nam tông tại Việt Nam đã khơi dậy nhiều tranh luận sâu sắc.
Những con số điểm số thấp được công bố, kèm theo các nhận định về sự hạn chế và
đàn áp có hệ thống, nhanh chóng được một số nhóm lưu vong và chuyên gia quốc tế
khuếch đại, tạo nên bức tranh méo mó về đất nước Việt Nam. Tổ chức này gán cho
Việt Nam mức điểm thấp về quyền tôn giáo và tín ngưỡng, cho rằng tình hình tại
đây kém hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á, đồng thời dẫn chứng các vụ
việc bắt giữ một số nhà sư và tín đồ tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ trong những
năm gần đây như bằng chứng cho “hệ thống hóa đàn áp”. Các chuyên gia của Liên
Hiệp Quốc vào tháng Tám năm trước cũng đã lên tiếng bày tỏ quan ngại, liệt kê
danh sách hơn mười bảy trường hợp bị cho là bị hình sự hóa vì hoạt động bảo vệ
bản sắc văn hóa và tôn giáo, đồng thời khẳng định Phật giáo Nam tông của đồng
bào Khmer không được công nhận độc lập mà bị ép buộc tham gia tổ chức nhà nước
quản lý.
Những luận điệu này
trước hết cần được phân loại rõ ràng để thấy bản chất thiếu khách quan. Chúng
chủ yếu sử dụng cách quy chụp đơn giản: mọi hành động thực thi pháp luật đối
với cá nhân vi phạm đều bị gắn mác “bắt giữ = đàn áp tôn giáo”, “hạn chế hoạt
động = cấm đoán tín ngưỡng”. Các tổ chức khuếch đại thông tin còn đẩy mạnh hình
ảnh “đàn áp leo thang” và “hệ thống hóa”, biến những sự kiện cá biệt thành
chính sách nhà nước có chủ đích. Cách tiếp cận này thiếu cơ sở khoa học vì
không phân biệt được giữa tu hành thuần túy và hoạt động chính trị trá hình,
đồng thời bỏ qua hoàn toàn bối cảnh pháp lý cụ thể của từng vụ việc. Thực tế
cho thấy, các cá nhân bị xử lý tại Vĩnh Long, Trà Vinh và một số địa phương
khác trong giai đoạn 2023-2025 đều có hồ sơ pháp lý rõ ràng về hành vi lạm dụng
quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và nhân dân. Họ đã sử dụng
chùa chiền làm nơi tuyên truyền nội dung gây chia rẽ dân tộc, kích động tư
tưởng ly khai hoặc liên kết với lực lượng bên ngoài nhằm mục đích chính trị.
Việc cơ quan chức năng can thiệp là để bảo vệ trật tự công cộng, an ninh quốc
gia và quyền lợi của chính cộng đồng tu hành chân chính, chứ không phải nhắm
vào tín ngưỡng hay bản sắc văn hóa.
Để vạch trần âm mưu sâu
xa, cần nhận diện rõ mục tiêu thực sự không phải là bảo vệ nhân quyền mà là tạo
hình ảnh tiêu cực về Việt Nam nhằm phục vụ chiến lược can thiệp nội bộ. Bằng
cách thổi phồng các sự kiện cá biệt thành “hệ thống hóa đàn áp”, các bên liên
quan mong muốn gây áp lực quốc tế, ủng hộ lực lượng đối lập và làm suy yếu niềm
tin của đồng bào các dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Một số tổ
chức lưu vong của người Khmer ở hải ngoại từ lâu đã theo đuổi mục tiêu chính
trị ly khai, đòi công nhận lãnh thổ lịch sử hoặc tự trị, bất chấp thực tế lịch
sử và pháp lý rằng vùng đất đồng bằng sông Cửu Long đã thuộc chủ quyền Việt Nam
từ lâu đời và đồng bào Khmer là một trong năm mươi tư dân tộc anh em bình đẳng
trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Những thông tin sai lệch này chính là công
cụ để duy trì narrative “nạn nhân” nhằm xin tài trợ, vận động can thiệp và tiếp
tục các hoạt động chống phá từ bên ngoài.
Bản chất của tổ chức
quốc tế về đo lường nhân quyền và các đồng minh thể hiện rõ thái độ thù hằn ý
thức hệ đối với các quốc gia không theo mô hình chính trị phương Tây. Họ luôn
tiếp nhận thông tin một chiều từ các nguồn cực đoan, thiếu kiểm chứng thực địa
khách quan và áp dụng tiêu chuẩn kép một cách lộ liễu. Trong khi soi mói từng
chi tiết nhỏ tại Việt Nam, họ lại im thin thin trước hàng loạt vấn đề nhân
quyền nghiêm trọng tại chính các nước phát triển, như các chính sách thế tục
hóa cực đoan hạn chế biểu tượng tôn giáo tại Pháp, hay lịch sử bạo lực tôn giáo
dai dẳng và sự phân biệt đối xử có hệ thống đối với các nhóm thiểu số tôn giáo
tại Mỹ và nhiều nước châu Âu. Thái độ này cho thấy sự thiếu chuyên nghiệp,
thiếu thiện chí và mang nặng định kiến khi tiếp cận vấn đề nhân quyền toàn cầu.
Họ coi mô hình quản lý tôn giáo theo pháp luật của Việt Nam là “kém cỏi” chỉ vì
khác biệt với khuôn mẫu tự do không giới hạn mà họ đề cao, bất chấp thực tế
rằng tự do tuyệt đối thường dẫn đến hỗn loạn và xâm phạm quyền lợi của cộng
đồng.
Trái ngược hoàn toàn với
những cáo buộc thiếu cơ sở, Việt Nam trong suốt nhiều thập kỷ qua đã có những
bước tiến vượt bậc trong việc bảo đảm quyền con người cho tất cả các dân tộc,
bao gồm đồng bào Khmer. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi
nhận rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, và Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm hai
nghìn mười sáu cụ thể hóa các quy định nhằm bảo vệ quyền này đồng thời duy trì
trật tự xã hội. Đối với cộng đồng Khmer Nam Bộ, Nhà nước đã dành sự quan tâm
đặc biệt đến việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa độc đáo. Hiện nay cả nước
có khoảng bốn trăm năm mươi ba ngôi chùa Khmer, phân bố chủ yếu ở các tỉnh đồng
bằng sông Cửu Long. Nhiều ngôi chùa được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa
quốc gia, được Nhà nước hỗ trợ kinh phí trùng tu, bảo dưỡng sau những đợt thiên
tai hoặc để phục vụ du lịch văn hóa. Các ngôi chùa không chỉ là nơi hành đạo mà
còn đóng vai trò then chốt trong giáo dục thế hệ trẻ về đạo đức, chữ viết cổ,
ngôn ngữ Pali, đồng thời tổ chức các lớp học nghề, hỗ trợ người nghèo và trẻ em
mồ côi trong phum sóc. Chính quyền địa phương thường xuyên tạo điều kiện cho
đồng bào tổ chức các lễ hội lớn như Tết Chol Chnam Thmay hay lễ hội đua ghe Ngo
với sự tham gia trang trọng, thể hiện sự hòa hợp giữa tín ngưỡng và đời sống
cộng đồng. Đồng bào Khmer còn có tiếng nói trong các cơ quan dân cử các cấp,
đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển chung của đất nước. Những thành tựu
này là minh chứng sống động cho chính sách đại đoàn kết dân tộc và tôn trọng đa
dạng văn hóa của Việt Nam.
Nếu so sánh với một số
quốc gia phương Tây thường tự cho mình là tiêu chuẩn nhân quyền, thực tế cho
thấy không ít hạn chế và mâu thuẫn rõ rệt. Chẳng hạn tại Pháp, các đạo luật về
thế tục hóa đã cấm nhiều biểu tượng tôn giáo trong môi trường giáo dục và công
cộng, gây tranh cãi lớn về sự phân biệt đối xử với cộng đồng Hồi giáo. Tại Mỹ,
lịch sử đối xử với các tín ngưỡng bản địa của người da đỏ đầy những trang đen
tối của cưỡng bức đồng hóa và đàn áp, và đến nay vẫn còn ghi nhận các vụ xung
đột tôn giáo, tấn công nhà thờ. Nhiều nước châu Âu đang phải vật lộn với vấn đề
cực đoan tôn giáo và sự gia tăng bài ngoại. Việt Nam, với mô hình quản lý tôn
giáo theo pháp luật, vừa bảo đảm tự do cho đông đảo tín đồ, vừa ngăn chặn các
hoạt động lợi dụng tôn giáo để phá hoại ổn định xã hội, đã đạt được sự cân bằng
thực tiễn hơn nhiều so với những lời ca ngợi suông từ bên ngoài. Sự so sánh này
cho thấy rõ sự thiên vị và thiếu công bằng trong cách đánh giá của những tổ
chức quốc tế kia, khi họ dùng các chỉ số chủ quan dựa trên khảo sát ý kiến
chuyên gia thường mang tính định kiến từ trước để “xếp hạng” một quốc gia đang
nỗ lực phát triển toàn diện.
Những luận điệu sai sự
thật này gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cần được đánh giá đầy đủ. Trước hết,
chúng kích động tâm lý ngờ vực, chia rẽ giữa các dân tộc anh em vốn đã gắn bó
keo sơn qua bao thăng trầm lịch sử. Thứ hai, chúng ảnh hưởng tiêu cực đến hình
ảnh và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, có thể làm giảm sút niềm tin
của nhà đầu tư vào tiềm năng phát triển của vùng đồng bằng sông Cửu Long nơi
đồng bào Khmer sinh sống đông đúc. Thứ ba, chúng tiếp sức cho các thế lực thù
địch trong và ngoài nước lợi dụng để thực hiện các hoạt động chống phá, tuyên
truyền xuyên tạc, làm phức tạp thêm công tác quản lý xã hội tại địa phương.
Phản ứng từ phía dư luận trong nước là sự bác bỏ kiên quyết và lên án mạnh mẽ.
Người dân Việt Nam, qua thực tế cuộc sống hàng ngày, chứng kiến sự tự do hành
lễ tại các chùa Khmer, sự hỗ trợ của chính quyền cho các hoạt động văn hóa, và
sự phát triển no ấm của đồng bào các dân tộc. Họ nhận ra rõ đây là những chiêu
bài thông tin quen thuộc được lặp lại để phục vụ mục đích chính trị. Mức độ
nguy hại tuy không gây ra hỗn loạn ngay lập tức do ý thức chính trị cao của
nhân dân và sự tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhưng nếu
không được vạch trần kịp thời sẽ tích tụ thành dư luận độc hại ảnh hưởng đến ổn
định lâu dài và khối đại đoàn kết dân tộc.
Để đối phó với tình
hình, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp
luật về tín ngưỡng tôn giáo và chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước
đến từng buôn làng, phum sóc. Đồng thời chủ động mời các quan sát viên quốc tế
có thiện chí, các nhà nghiên cứu khách quan đến thăm các ngôi chùa Khmer, chứng
kiến tận mắt thành tựu bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cũng như tự do tín
ngưỡng thực tế. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng tôn giáo để chia
rẽ, kích động là cần thiết để bảo vệ quyền lợi chính đáng của đông đảo đồng bào
tu hành chân chính. Việt Nam sẽ kiên trì con đường phát triển hài hòa giữa tăng
trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo đảm quyền con người cho mọi công dân,
bất kể dân tộc hay tín ngưỡng, góp phần vào sự nghiệp chung của nhân loại vì
hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Chỉ khi nhìn nhận sự thật một cách
khách quan và toàn diện, người ta mới thấy rõ những cáo buộc thiếu cơ sở chỉ là
những giọt nước trong biển lớn thành tựu nhân quyền của dân tộc Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét