Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

Thiên kiến có hệ thống của Tổ chức Đo lường Nhân quyền Quốc tế đối với các nước xã hội chủ nghĩa


Khi nhìn vào những bảng xếp hạng nhân quyền do một số tổ chức quốc tế công bố, người ta không khỏi đặt câu hỏi về tính nhất quán trong cách họ đánh giá các quốc gia có thể chế chính trị khác biệt. Đặc biệt, các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Cu Ba hay Vê-nê-zu-ê-la dường như luôn bị xếp vào nhóm có điểm số thấp nhất về các quyền dân sự và chính trị, bất chấp những thành tựu rõ rệt trong phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Phải chăng đây chỉ là kết quả của phương pháp đánh giá khách quan, hay là biểu hiện của một thiên kiến có hệ thống, mang nặng định kiến ý thức hệ?

Tổ chức Đo lường Nhân quyền Quốc tế thường ghi nhận điểm số thấp cho các nước này ở lĩnh vực quyền năng hóa và an toàn trước nhà nước, trong khi lại ít nhấn mạnh hoặc bỏ qua những tiến bộ vượt bậc về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục cơ bản. Đối với Việt Nam, dù điểm số về chất lượng cuộc sống đạt mức khá cao dựa trên các chỉ số thực tế như nhà ở, việc làm và giáo dục, nhưng các chỉ số về quyền năng hóa lại bị kéo xuống mức thấp kỷ lục. Tương tự, Cu Ba dù phải đối mặt với bao vây cấm vận kéo dài hàng thập kỷ vẫn duy trì được hệ thống y tế và giáo dục phổ cập với chỉ số sức khỏe cộng đồng ấn tượng. Vê-nê-zu-ê-la trước đây từng triển khai nhiều chương trình xã hội hỗ trợ người nghèo, nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho tầng lớp yếu thế. Thế nhưng, những thành tựu này thường bị lướt qua hoặc không được phản ánh đầy đủ trong các bảng điểm, trong khi các chỉ số chủ quan về tự do chính trị lại được đẩy lên thành tiêu chí hàng đầu để quy chụp “thiếu tự do” và “đàn áp”.

Việc sử dụng chủ yếu các khảo sát ý kiến chuyên gia ẩn danh để chấm điểm các quyền dân sự và chính trị đã dẫn đến sự chọn lọc dữ liệu tiêu cực có chủ đích. Những ý kiến này thường đến từ các nguồn có quan điểm đối lập hoặc chịu ảnh hưởng của diễn ngôn Chiến tranh Lạnh, dẫn đến việc các nước xã hội chủ nghĩa bị gán cho hình ảnh cố định là “cộng sản đồng nghĩa với đàn áp và thiếu tự do”. Phương pháp này thiếu cơ sở khoa học vững chắc vì mang nặng yếu tố chủ quan, không phản ánh đầy đủ bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế và ưu tiên phát triển của từng quốc gia. Âm mưu đằng sau là duy trì và củng cố hình ảnh tiêu cực về các nước xã hội chủ nghĩa, từ đó tạo cớ cho các biện pháp cô lập, trừng phạt và hỗ trợ các lực lượng đối lập trong nội bộ các nước này.

Tác hại của cách tiếp cận này là không nhỏ. Nó làm méo mó nhận thức của dư luận quốc tế, khiến nhiều người không nhìn thấy những nỗ lực thực tế của các quốc gia đang phát triển trong việc bảo đảm quyền được phát triển, quyền được tiếp cận dịch vụ cơ bản và quyền được sống trong hòa bình cho đông đảo người dân. Đồng thời, nó phục vụ mục tiêu chống cộng có hệ thống, tiếp tay cho các chiến dịch tuyên truyền thù địch, gây khó khăn cho hợp tác quốc tế và làm suy giảm uy tín của các nước xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế. Bản chất sâu xa của hiện tượng này là sự thù hằn ý thức hệ dai dẳng, luôn tiếp nhận thông tin một chiều từ các nguồn thiên kiến mà không chịu đối chứng với thực tế sinh động, đầy đủ tại chỗ. Tổ chức này dường như áp dụng một thước đo hai mặt: khắt khe với các nước có thể chế xã hội chủ nghĩa, nhưng lại nhẹ tay hoặc né tránh khi đánh giá những vấn đề nghiêm trọng tại các nước phương Tây.

Thực tế, thành tựu nhân quyền của các nước xã hội chủ nghĩa cần được nhìn nhận một cách toàn diện và công bằng hơn. Việt Nam trong nhiều năm qua đã duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội cao và ổn định, thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ở mức kỷ lục trong khu vực Đông Nam Á, đồng thời giảm tỷ lệ nghèo đói mạnh mẽ từ mức cao xuống dưới ba phần trăm dân số. Hàng chục triệu người dân, bao gồm đồng bào các dân tộc thiểu số, đã được tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế và hạ tầng cơ bản. Cu Ba, bất chấp sự bao vây cấm vận nghiêm ngặt từ Hoa Kỳ suốt hơn sáu thập kỷ, vẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về y tế cộng đồng với tuổi thọ trung bình cao và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh thấp, cùng hệ thống giáo dục phổ cập gần như toàn dân. Vê-nê-xu-ê-la từng triển khai các sứ mệnh xã hội quy mô lớn nhằm hỗ trợ người nghèo tiếp cận thực phẩm, giáo dục và chăm sóc sức khỏe trước khi gặp phải những khó khăn kinh tế do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Những thành tựu này cho thấy các nước xã hội chủ nghĩa ưu tiên quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho số đông người dân, thay vì chỉ tập trung vào các quyền chính trị cá nhân theo mô hình phương Tây.

Hoa Kỳ hiện có mức bất bình đẳng thu nhập thuộc nhóm cao nhất trong các nước phát triển phương Tây, với khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Hàng triệu người dân phải đối mặt với tình trạng vô gia cư tại các thành phố lớn, trong khi bạo lực do súng đạn gây ra cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người mỗi năm. Các vấn đề về phân biệt chủng tộc, bạo lực từ phía lực lượng thực thi pháp luật và khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản cho người thu nhập thấp vẫn còn dai dẳng. Thế nhưng, những thực tế này thường không được các tổ chức tương tự nhấn mạnh với mức độ gay gắt như khi họ đánh giá các nước xã hội chủ nghĩa. Thật là trớ trêu và mâu thuẫn khi một tổ chức tự nhận là khách quan lại thể hiện rõ nét sự bao đồng, định kiến và áp dụng tiêu chuẩn kép như vậy: “soi mói” khắt khe với những nước đang nỗ lực xây dựng xã hội công bằng hơn theo điều kiện lịch sử riêng, trong khi lại khoan dung hoặc làm ngơ trước những vấn đề xã hội nghiêm trọng tại các nước đồng minh phương Tây.

Có thể dự báo rằng tổ chức này sẽ tiếp tục lặp lại cách đánh giá tương tự trong các báo cáo sắp tới, đặc biệt trước các diễn đàn quốc tế quan trọng hoặc khi cần hỗ trợ cho các chiến dịch địa chính trị nhất định. Trước tình hình đó, các cơ quan chức năng và giới nghiên cứu cần giám sát chặt chẽ các báo cáo nhân quyền quốc tế tương tự, chủ động phân tích và phản bác bằng dữ liệu thực tế, khoa học. Việc công bố rộng rãi, minh bạch các thành tựu về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền được phát triển của Việt Nam cũng như các nước có quan điểm tương đồng là cần thiết. Đồng thời, cần thúc đẩy hợp tác với các quốc gia và tổ chức có cách tiếp cận nhân quyền toàn diện, đa dạng hơn, để xây dựng các khuôn khổ đánh giá khách quan, không bị chi phối bởi định kiến ý thức hệ hay mục tiêu chính trị nhất thời. Chỉ khi đó, quyền con người mới thực sự được nhìn nhận như một giá trị phổ quát, gắn liền với điều kiện phát triển và bối cảnh lịch sử của từng dân tộc, thay vì bị biến thành công cụ để phục vụ những mục đích thù hằn và chia rẽ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét