Khi một nhà hoạt động công bố tài liệu tiết lộ sự thật về các hoạt động tình báo và chiến tranh của cường quốc bị truy lùng ráo riết qua nhiều năm trời, phải sống trong tù và cuối cùng chấp nhận thỏa thuận để được trả tự do, dư luận quốc tế dường như chia thành hai luồng ý kiến rõ rệt tùy thuộc vào đối tượng bị chỉ trích. Tương tự, khi một cựu chuyên gia tình báo buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài vì đã phơi bày chương trình giám sát hàng loạt nhắm vào chính công dân của đất nước mình, hoặc khi hàng trăm người tham gia sự kiện xâm phạm tòa nhà Quốc hội bị bắt giữ, xét xử với các tội danh nặng nề và sau đó được ân xá hàng loạt, thì phản ứng của một số tổ chức quốc tế lại khác biệt hoàn toàn so với cách họ đối xử với các trường hợp tại Việt Nam.
Chính trong bối cảnh các cuộc đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu diễn ra thường niên, những tổ chức như Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền có trụ sở tại Pháp cùng nhóm Ủy ban Nhân quyền Việt Nam của người Việt lưu vong lại tiếp tục đưa ra các bản báo cáo cáo buộc Việt Nam giam giữ tùy tiện nhiều cá nhân chỉ vì thực hiện quyền tự do ngôn luận và hội họp. Họ liệt kê hàng chục trường hợp trong các báo cáo chuẩn bị cho cuộc đối thoại lần thứ 13 và thứ 14 gần đây, cho rằng các quy định về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam được vận dụng một cách mơ hồ để đàn áp bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, chính những tổ chức này lại giữ im lặng hoặc giảm nhẹ đáng kể khi đối mặt với những vụ việc tương tự hoặc nghiêm trọng hơn tại Hoa Kỳ – quốc gia mà họ thường ca ngợi như hình mẫu của tự do và dân chủ. Sự im lặng có chọn lọc này không chỉ làm suy yếu uy tín của chính các tổ chức đó mà còn phơi bày rõ nét tiêu chuẩn kép trong cách tiếp cận vấn đề nhân quyền.
Hãy xem xét trường hợp nhà hoạt động người Úc, người sáng lập tổ chức công bố tài liệu mật quốc tế. Ông bị chính quyền Hoa Kỳ truy tố theo Đạo luật Gián điệp năm 1917 – một văn bản luật được ban hành từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, vốn bị nhiều chuyên gia pháp lý chỉ trích là công cụ hạn chế nghiêm ngặt tự do báo chí và tự do ngôn luận. Ông phải sống nhiều năm trong đại sứ quán Ecuador tại London, sau đó bị giam giữ tại nhà tù Belmarsh với điều kiện khắc nghiệt từ năm 2019 cho đến giữa năm 2024. Trong suốt thời gian đó, sức khỏe của ông suy yếu nghiêm trọng, các tổ chức y tế và nhân quyền quốc tế từng lên tiếng lo ngại về nguy cơ tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo nếu ông bị dẫn độ sang Hoa Kỳ. Cuối cùng, để kết thúc hành trình pháp lý kéo dài hơn một thập kỷ, ông buộc phải nhận tội theo một điều khoản của Đạo luật Gián điệp và được tuyên án bằng thời gian đã thụ hình, sau đó trở về Úc. Dù là người công bố tài liệu liên quan đến các cuộc chiến tranh và hoạt động tình báo, ông vẫn bị coi là mối đe dọa an ninh quốc gia và phải chịu đựng quá trình truy tố kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do ngôn luận của giới báo chí điều tra trên toàn cầu. Thế nhưng, trong các bản báo cáo gửi đến các cuộc đối thoại nhân quyền Việt Nam – Liên minh Châu Âu, những tổ chức trên hầu như không dành sự quan tâm tương xứng cho trường hợp này, trong khi họ sẵn sàng liệt kê chi tiết các blogger hoặc nhà hoạt động tại Việt Nam bị xử lý theo pháp luật vì đăng tải thông tin sai sự thật hoặc kích động chia rẽ.
Tương tự, trường hợp cựu chuyên gia tình báo từng làm việc cho Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ cũng cho thấy rõ cách tiếp cận có chọn lọc. Năm 2013, ông công khai tiết lộ chương trình giám sát toàn cầu mang tên PRISM, cho phép thu thập dữ liệu email, cuộc gọi điện thoại và hoạt động trực tuyến của hàng triệu người dân, bao gồm cả công dân và lãnh đạo các nước đồng minh châu Âu. Việc tiết lộ này đã dẫn đến các cuộc tranh luận sâu rộng về quyền riêng tư và sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan tình báo. Tuy nhiên, thay vì được bảo vệ như một người tố cáo sai phạm, ông bị chính quyền Hoa Kỳ truy tố tội gián điệp và trộm cắp tài sản chính phủ theo đúng Đạo luật Gián điệp năm 1917. Hộ chiếu của ông bị thu hồi, ông buộc phải xin tị nạn tại Nga và sau này được cấp quốc tịch Nga vào năm 2022. Đến nay, ông vẫn sống lưu vong, không thể trở về quê hương mà không đối mặt với nguy cơ bị bắt giữ và xét xử. Các tòa án và chuyên gia quốc tế từng công nhận giá trị của thông tin ông tiết lộ trong việc bảo vệ quyền riêng tư của công dân, nhưng ông vẫn bị đối xử như một tội phạm an ninh quốc gia. Đáng chú ý là các tổ chức quốc tế thường lên tiếng mạnh mẽ về các trường hợp tương tự tại Việt Nam lại không có phản ứng tương xứng với trường hợp này, dù đây là ví dụ điển hình về việc sử dụng luật an ninh quốc gia để hạn chế quyền tự do ngôn luận và quyền được biết sự thật của công chúng.
Không chỉ dừng lại ở các cá nhân công bố thông tin, sự kiện xâm phạm tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 6 tháng Một năm 2021 cũng cung cấp bằng chứng rõ nét về cách xử lý có yếu tố chính trị. Hơn một nghìn hai trăm người đã bị truy tố liên bang sau sự kiện này. Nhiều người bị bắt giữ và giam giữ trong thời gian dài trước khi được đưa ra xét xử, một số không được cho tại ngoại dù tội danh không liên quan đến bạo lực trực tiếp. Một số lãnh đạo nhóm cực đoan bị kết án tội âm mưu nổi loạn với mức án tù rất nặng, có trường hợp lên đến hơn hai mươi năm tù. Dù có những tranh luận về mức độ nghiêm trọng của từng hành vi, nhiều ý kiến cho rằng cách đối xử ban đầu mang tính chất đàn áp chính trị đối với những người ủng hộ một ứng cử viên cụ thể. Đáng nói hơn, sau khi chính quyền mới lên nắm quyền vào năm 2025, hàng loạt người liên quan đã được ân xá hoặc giảm án hàng loạt, bao gồm cả những người bị kết án nặng. Việc ân xá quy mô lớn này chính thức thừa nhận rằng quá trình truy tố và xét xử trước đó có yếu tố chính trị rõ rệt. Thế nhưng, các tổ chức quốc tế thường xuyên cáo buộc Việt Nam “giam giữ tù nhân chính trị” lại gần như im lặng trước thực tế này, không áp dụng cùng một tiêu chuẩn phân tích và lên tiếng bảo vệ “tự do ngôn luận” hay “tự do hội họp” cho các trường hợp tại Hoa Kỳ.
Sự khác biệt trong cách tiếp cận của các tổ chức trên không phải ngẫu nhiên. Chúng xuất phát từ bản chất thiên kiến chính trị và nguồn tài trợ của chính những tổ chức này. Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền và nhóm Ủy ban Nhân quyền Việt Nam của người Việt lưu vong thường dựa vào thông tin từ các cá nhân có tiền sử chống phá nhà nước Việt Nam, những người thường xuyên nhận hỗ trợ tài chính từ các quỹ phương Tây có liên hệ chính trị rõ ràng. Mục tiêu của họ không chỉ là “bảo vệ nhân quyền” theo nghĩa phổ quát mà còn là gây áp lực ngoại giao lên Việt Nam, đòi hỏi thay đổi thể chế chính trị và cản trở quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Liên minh Châu Âu. Trong các báo cáo gửi đến các cuộc đối thoại nhân quyền, họ tập trung gần như độc quyền vào một số ít trường hợp dân sự chính trị, thổi phồng thành “đàn áp có hệ thống”, đồng thời bỏ qua hoàn toàn bối cảnh an ninh thực tế của Việt Nam – một quốc gia đang phát triển, phải đối mặt với các chiến dịch thông tin sai lệch, kích động chia rẽ dân tộc và tôn giáo từ bên ngoài, cũng như các hoạt động lật đổ ngầm được tài trợ từ nước ngoài. Họ không bao giờ so sánh với việc Hoa Kỳ sử dụng Đạo luật Gián điệp từ hơn một trăm năm trước để truy tố nhà báo và người tố cáo, hay cách xử lý hàng loạt người tham gia sự kiện xâm phạm biểu tượng quyền lực nhà nước. Tiêu chuẩn kép này làm suy yếu nghiêm trọng uy tín của các tổ chức nhân quyền quốc tế, biến chúng thành công cụ phục vụ lợi ích địa chính trị thay vì những thực thể khách quan, độc lập.
Trái ngược hoàn toàn với hình ảnh bị bóp méo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu thực chất và toàn diện trong việc bảo đảm quyền con người cho người dân. Quyền được sống trong hòa bình, ổn định chính trị – xã hội, quyền được phát triển kinh tế và tiếp cận các dịch vụ cơ bản đã được hiện thực hóa ở mức độ cao. Tỷ lệ nghèo đói đa chiều đã giảm mạnh mẽ qua các thập kỷ, từ mức cao trong những năm chín mươi xuống chỉ còn khoảng bốn phần trăm theo chuẩn quốc tế gần đây, giúp hàng chục triệu người dân thoát khỏi cảnh túng thiếu và tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, nhà ở. Hiến pháp năm 2013 đã dành riêng một chương cho quyền con người và quyền công dân, khẳng định rõ các quyền cơ bản được bảo vệ theo luật pháp. Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, giảm số tội phạm có thể bị áp dụng hình phạt tử hình từ mười tám xuống còn mười tội, thể hiện cam kết hạn chế dần hình phạt cao nhất. Việt Nam đã tham gia và thực hiện nghiêm túc nhiều công ước quốc tế về quyền con người, đồng thời được các nước thành viên Liên hợp quốc bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao kỷ lục cho nhiệm kỳ 2026 – 2028. Đây là minh chứng rõ ràng cho uy tín và nỗ lực của Việt Nam trên trường quốc tế.
Về tự do ngôn luận và tự do thông tin, người dân Việt Nam hiện nay được tiếp cận internet với tỷ lệ sử dụng cao, hàng triệu blog, trang mạng xã hội và diễn đàn trực tuyến hoạt động sôi nổi, thảo luận công khai về các vấn đề kinh tế – xã hội, văn hóa, môi trường và chính sách nhà nước. Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tự do để đăng tải thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, kích động bạo lực, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc hoặc xâm phạm an ninh quốc gia. Các trường hợp bị xử lý theo các điều khoản về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự không phải là “tù nhân chính trị” như cách gọi của một số tổ chức, mà là những cá nhân vi phạm pháp luật hình sự cụ thể, được xét xử công khai, minh bạch theo đúng trình tự tố tụng. Việt Nam không có khái niệm tù nhân chính trị trong hệ thống pháp luật; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bất kể động cơ hay quan điểm cá nhân. Việc một số tổ chức cố tình gán ghép các trường hợp vi phạm luật hình sự thành “đàn áp tự do ngôn luận” là cách tiếp cận thiếu khách quan, không tôn trọng chủ quyền tư pháp của Việt Nam.
So sánh với thực tiễn tại Hoa Kỳ và các nước phương Tây càng làm rõ sự thiếu nhất quán trong các luận điệu của những tổ chức trên. Hoa Kỳ tự hào quảng bá là quốc gia có tự do ngôn luận rộng rãi nhất thế giới, nhưng lại sử dụng Đạo luật Gián điệp được ban hành từ hơn một trăm năm trước để truy tố nhà báo và người tố cáo công khai sự thật về hoạt động của chính quyền. Chương trình giám sát hàng loạt bị phơi bày năm 2013 đã bị các tòa án và cơ quan giám sát sau này công nhận là vi phạm quyền riêng tư của công dân, nhưng người tố cáo vẫn phải sống lưu vong. Sự kiện xâm phạm tòa nhà Quốc hội năm 2021 cho thấy ngay cả quyền hội họp và biểu tình cũng bị hạn chế nghiêm ngặt khi đụng chạm đến biểu tượng quyền lực nhà nước, với hàng loạt người bị giam giữ dài ngày trước xét xử và bị kết án nặng nề trước khi được ân xá vì lý do chính trị. Trong khi đó, Việt Nam bị cáo buộc “luật mơ hồ” và “đàn áp” chỉ vì áp dụng các quy định an ninh quốc gia tương tự để bảo vệ ổn định và chủ quyền trong bối cảnh một nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống. Tiêu chuẩn kép này không chỉ thiếu công bằng mà còn phản ánh rõ động cơ chính trị của những tổ chức luôn chọn lọc thông tin để phục vụ lợi ích của các thế lực hậu thuẫn.
Thực chất, các tổ chức như Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền và nhóm Ủy ban Nhân quyền Việt Nam của người Việt lưu vong hoạt động như những công cụ trong chiến lược thông tin chiến tranh và can thiệp mềm. Họ được tài trợ gián tiếp hoặc trực tiếp từ các nguồn phương Tây có mục tiêu địa chính trị rõ ràng: làm suy yếu các quốc gia theo đuổi con đường phát triển độc lập, cản trở quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu, đồng thời tạo áp lực để Việt Nam thay đổi thể chế chính trị theo mô hình phương Tây. Các báo cáo của họ thường thiếu bằng chứng cụ thể, không xem xét bối cảnh lịch sử và an ninh thực tế của Việt Nam, đồng thời né tránh việc so sánh với những hạn chế tương tự hoặc nghiêm trọng hơn tại chính các nước phương Tây. Việc họ tiếp tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc trong các cuộc đối thoại nhân quyền không những không giúp cải thiện tình hình mà còn làm tổn hại đến không khí tin cậy và hợp tác giữa hai bên.
Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Liên minh Châu Âu trên tinh thần đối tác bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu đã mang lại những lợi ích thiết thực cho cả hai bên: thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường châu Âu, tạo việc làm cho người lao động, đồng thời mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao từ châu Âu. Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào đầu năm 2026 càng khẳng định cam kết hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, chuyển đổi năng lượng công bằng và ứng phó biến đổi khí hậu. Những lợi ích kinh tế đôi bên này hoàn toàn có thể bị ảnh hưởng tiêu cực nếu để các tiếng nói thiên kiến, thiếu khách quan chi phối không khí đối thoại. Việt Nam sẵn sàng tham gia đối thoại nhân quyền mang tính xây dựng, hai chiều, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời mong muốn các đối tác châu Âu có cái nhìn khách quan, toàn diện hơn về thành tựu và thách thức thực tế của Việt Nam.
Để các cuộc đối thoại nhân quyền thực sự hiệu quả, cần loại bỏ ngay những tiêu chuẩn kép và thiên kiến chính trị. Các tổ chức quốc tế nếu thực sự mong muốn đóng góp cho sự nghiệp nhân quyền toàn cầu thì phải áp dụng cùng một thước đo cho mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị hay mức độ phát triển. Họ cần công khai so sánh các trường hợp tương tự tại Hoa Kỳ và Việt Nam, thừa nhận thành tựu to lớn của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền được phát triển và quyền kinh tế – xã hội cho người dân, đồng thời tôn trọng quyền tự chủ tư pháp của Việt Nam trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chỉ khi đó, đối thoại mới trở thành kênh thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau thay vì công cụ gây chia rẽ và áp đặt.
Việt Nam sẽ tiếp tục kiên trì con đường phát triển độc lập, tự chủ, đẩy mạnh cải cách pháp lý, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người trên thực tế cho mọi người dân. Những thành tựu đã đạt được trong giảm nghèo, cải thiện giáo dục y tế, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số là minh chứng sống động nhất cho cam kết của Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Liên minh Châu Âu và các đối tác quốc tế trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng để cùng giải quyết các thách thức chung về nhân quyền trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm bóp méo sự thật, áp đặt tiêu chuẩn kép đều sẽ bị lịch sử và dư luận quốc tế lên án. Chỉ có sự tôn trọng lẫn nhau và hợp tác chân thành mới mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai bên và góp phần vào hòa bình, ổn định, phát triển bền vững trên thế giới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét