Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

QUỸ ĐẤT MỚI CHO BÁO CHÍ: MỞ CỬA RỘNG RÃI TỰ DO NGÔN LUẬN TẠI VIỆT NAM NĂM 2023

 

Sáng 27/2, tại Geneva, Thụy Sĩ, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam dự khai mạc và phát biểu tại Phiên họp Cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ), tại phiên họp Phó Thủ tướng cùng đoàn Việt Nam đã có nhiều phát biểu  về những thành tựu đáng tự hào của Việt Nam trong đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, nhấn mạnh chủ trương của Việt Nam luôn đặt con người ở vị trí trung tâm trong quá trình phát triển, cùng với quyết tâm gánh vác các trọng trách quốc tế trên cơ sở đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế.



Tại phiên họp, ông cung phát biểu rằng “Các nước có chung khát vọng về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người dân. Mỗi quốc gia, từng khu vực có thể có cách tiếp cận khác nhau do những đặc thù riêng về lịch sử, hệ thống chính trị, văn hóa, kinh tế-xã hội. Vì vậy, cần thông hiểu và tôn trọng những đặc thù đó để cùng tìm ra mẫu số chung, thay vì chính trị hóa, áp đặt, can thiệp…”.

Lâu nay tự do ngôn luận luôn là chiêu bài để một số quốc gia, tổ chức không thân thiện với Việt Nam lợi dụng để xuyên tạc chế độ chính trị ở Việt Nam lợi dụng nó làm chiêu bài tập hợp lực lượng, kêu gọi lật đổ chế độ. Năm 2023, Việt Nam đã chứng kiến một “cuộc cách mạng” quan trọng trong lĩnh vực tự do ngôn luận và báo chí, thể hiện cam kết mạnh mẽ của chính phủ đối với những giá trị cơ bản của xã hội dân chủ, bài viết này tập trung vào những biện pháp cụ thể mà chính phủ Việt Nam đã thực hiện để nâng cao tự do ngôn luận và báo chí, khám phá những cơ hội mới mở ra cho các phương tiện truyền thông đa dạng tại Việt Nam:

Tính đến năm 2023, Việt Nam có hơn 800 cơ quan báo chí; khoảng hơn 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí; cả nước hiện có hơn 20.500 thẻ nhà báo đã được cấp (theo số liệu của Thông tấn xã Việt Nam). Cùng với đó, gần 40 hãng truyền thông quốc tế đã có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)… Các cơ quan truyền thông quốc tế như CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều dễ dàng đến được với công chúng Việt Nam thông qua nhiều nền tảng chính thức, chính quy, mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp…

 

1. MỞ CỬA RỘNG RÃI CHO TỰ DO NGÔN LUẬN:

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp để mở rộng không gian cho tự do ngôn luận. Việc giảm bớt các rắc rối pháp lý, có chế tài bảo vệ phóng viên, người làm báo bằng các quy định pháp luật chặt chẽ, giảm áp đặt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thảo luận và trao đổi ý kiến đã đánh dấu một bước tiến lớn trong việc tạo ra một môi trường ngôn luận mở và đa dạng.

2. TĂNG CƯỜNG ĐA DẠNG PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG:

Chính sách hỗ trợ cho các phương tiện truyền thông độc lập và đa dạng đã được triển khai mạnh mẽ. Quỹ đất mới đã được cấp phép và tài trợ cho các tờ báo và các trang thông tin điện tử hoạt động theo tôn chỉ, mục đích của mỗi trang… từ đó giúp tăng cường giọng nói và quan điểm đa chiều trong không gian truyền thông. Điều này không chỉ thúc đẩy sự đa dạng thông tin mà còn giúp xây dựng một xã hội có khả năng phản ánh đầy đủ ý kiến và quan điểm.

3. TẠO RA MÔI TRƯỜNG THÔNG TIN ĐA CHIỀU:

Việt Nam đã tập trung vào việc xây dựng một môi trường thông tin đa chiều, cần thiết cho sự phát triển và thịnh vượng của một xã hội dân chủ. Việc tạo ra cơ hội cho nhiều quan điểm và giọng nói khác nhau không chỉ làm phong phú thêm cuộc trò chuyện công dân mà còn tăng cường khả năng đối thoại và hiểu biết trong cộng đồng.

4. KHẢO SÁT CƠ HỘI MỚI MỞ RA:

Chính phủ đã chủ động thực hiện các cuộc khảo sát và tương tác với cộng đồng truyền thông để đánh giá hiệu quả của các biện pháp mới. Sự đồng thuận và tham gia của cộng đồng trong việc xây dựng môi trường truyền thông đa chiều đã làm cho các chính sách mới trở nên linh hoạt và thích ứng với nhu cầu ngày càng biến động của xã hội.

KẾT LUẬN:

ăm 2023, Việt Nam đã chứng tỏ sự quyết tâm đối với việc tạo ra một môi trường tự do ngôn luận và báo chí đa dạng. Những bước tiến cụ thể và hiệu quả đã tạo ra quỹ đất mới cho báo chí, nâng cao chất lượng thông tin và khích lệ sự tham gia tích cực của cộng đồng. Thành công này không chỉ là bước quan trọng trong hành trình nhân quyền của Việt Nam mà còn góp phần quan trọng vào sự thịnh vượng và phát triển bền vững của đất nước.

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2023

Cơ sở nào khẳng định tỉ lệ phụ nữ tham chính trong nhóm dẫn đầu thế giới?

 


Khẳng định của Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang tại Phiên họp Cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 27/2/2023 với sự tham dự của hơn 100 lãnh đạo cấp cao các nước khi cho rằng . Không phải tự dưng mà Phó Thủ tướng nhấn mạnh thành tựu này của Việt Nam trước diễn đàn về nhân quyền lớn nhất thế giới.



Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung vừa thay mặt Chính phủ có báo cáo gửi Quốc hội về kết quả thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới năm 2022.

Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến tháng 12-2022, có 15/30 bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ, đạt 50%, tăng 3,4% so với năm 2021.

Trong đó các bộ, cơ quan ngang bộ có lãnh đạo chủ chốt là 13/22, tăng 6% so với năm 2021. 2/8 cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ, đạt 25%.

Theo thống kê, có ba nữ bộ trưởng, trưởng ngành gồm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng.

Một thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ là Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam Vũ Việt Trang. Ngoài ra có 12 nữ thứ trưởng và tương đương.

Báo cáo cũng nêu rõ so với cuối năm 2021, số lượng và tỉ lệ bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt là nữ đã tăng đáng kể.

Tỉ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ có nữ lãnh đạo chủ chốt đã tiệm cận với chỉ tiêu đề ra đến năm 2025 là 60%. Trong khi đó tỉ lệ cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo chủ chốt vẫn khiêm tốn.

Tỉ lệ UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ theo báo cáo không có nhiều biến động so với đầu nhiệm kỳ 2021 - 2025. Trong đó cấp tỉnh là 37,7%, cấp huyện là 31,77%, còn cấp xã 24,94%.

Còn theo số liệu của Bộ Nội vụ, đến đầu tháng 3-2023, cán bộ nữ tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII có 19 người (chiếm 9,5%).

Trong đó có một ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư, trưởng Ban Tổ chức Trung ương là bà Trương Thị Mai.

Hai người trong Ban Bí thư là bà Trương Thị Mai và bà Bùi Thị Minh Hoài. Phó chủ tịch nước là bà Võ Thị Ánh Xuân.

Ba bộ trưởng và một người trong cơ quan thuộc Chính phủ; 10 thứ trưởng và tương đương.

Ba ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội là bà Nguyễn Thị Thanh (trưởng Ban Công tác đại biểu), bà Lê Thị Nga (chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp), bà Nguyễn Thúy Anh (chủ nhiệm Ủy ban Xã hội) và 34 nữ phó chủ nhiệm và ủy viên thường trực ủy ban, cơ quan của Quốc hội.

Ban chấp hành đảng bộ cấp tỉnh (nhiệm kỳ 2020 - 2025) có 16% nữ, trong đó có bảy bí thư, 15 phó bí thư tỉnh, thành ủy. Ban chấp hành đảng bộ cấp huyện có 17% là nữ.

Tỉ lệ nữ tham gia các cơ quan dân cử tăng so với nhiệm kỳ trước với 151 đại biểu nữ tham gia Quốc hội khóa XV, đạt 30,2% (cao hơn 3,5% so với nhiệm kỳ trước và vượt chỉ tiêu 30%). Tỉ lệ nữ tham gia HĐND cấp tỉnh, cấp huyện đạt 29% (tăng so với nhiệm kỳ trước).

Với tỉ lệ này Việt Nam nằm trong nhóm 1 các nước có tỉ lệ nữ tham gia chính trị cao đứng đầu thế giới. Đây là kết quả được chứng minh bằng con số thuyết phục, cụ thể, chứ không phải ông Phó Thủ tướng đứng trước diễn đàn cấp cao HDNQ Việt Nam đã quyết tâm thực hiện điều đó

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2023

Vì sao Việt Nam kêu gọi giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu?

 


Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 52 của Hội đồng Nhân quyền LHQ, trong các phát biểu tại nhiều phiên họp, phiên thảo luận, đoàn Việt Nam luôn kêu gọi các nước cần đoàn kết và tăng cường tham gia, đóng góp thiết thực nhằm giải quyết các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, xem đây như nhân tố quyết định, nhân tố đảm bảo quyền con người trong bối cảnh hiện nay. Không chỉ có vậy, Việt Nam đã cùng hai nước Bangladesh và Philippines - Nhóm nòng cốt về biến đổi khí hậu và quyền con người, đã soạn thảo và đưa ra Phát biểu chung về biến đổi khí hậu và quyền con người tại khóa họp này, cũng thu hút đông đảo các nước tham gia đồng bảo trợ. Vì sao và dựa trên cơ sở nào mà Việt Nam nhấn mạnh thách thức này?



Biến đổi khí hậu đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn, nghiêm trọng hơn, trở thành một trong những vấn đề cấp bách toàn cầu. Biến đổi khí hậu có ảnh hưởng to lớn đến toàn nhân loại, gia tăng mạnh mẽ cả về cường độ và mức độ với một số hiện tượng nổi bật:

Nhiệt độ toàn cầu gia tăng tới mức báo động: Thế kỷ XX ghi nhận mức nhiệt độ tăng cao nhất trong lịch sử quan trắc thế giới kể từ thế kỷ XV với mức tăng 0,75. Đặc biệt, kể từ năm 1970, nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng nhanh hơn bất kỳ khoảng thời gian 50 năm nào khác trong vòng 2.000 năm. Theo báo cáo năm 2023 của Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), trong giai đoạn 2023 - 2027, nhiệt độ trung bình năm toàn cầu có thể sẽ cao hơn 1,5°C so với mức thời kỳ tiền công nghiệp trong ít nhất một năm do sự kết hợp giữa ô nhiễm bẫy nhiệt và hiện tượng El Nino.

Mực nước biển dâng nhanh, vốn chỉ xuất hiện với chu kỳ 100 năm/lần, đã trở thành hiện tượng phổ biến từ đầu thế kỷ XXI: Tháng 9-2022, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) cho biết, khối lượng băng suy giảm mạnh trên phạm vi toàn cầu, nhất là tại khu vực Bắc Cực với tốc độ băng tan vào mùa hè hiện nay ở mức 12,6%/thập niên. Theo dự báo của Liên hợp quốc tại Báo cáo các mục tiêu phát triển bền vững năm 2022(2), trong thế kỷ XXI, mực nước biển sẽ tăng thêm ít nhất từ 30 - 60cm vào cuối năm 2100 nếu lượng khí thải nhà kính giảm mạnh và sự nóng lên toàn cầu được giới hạn ở mức dưới 20C và lên tới 60 - 110cm nếu lượng khí thải nhà kính tiếp tục tăng như hiện nay.

Thảm họa thiên nhiên (bão, lũ, động đất, sóng thần, hạn hán...) diễn ra ngày càng nhiều với cường độ lớn: Trong 50 năm qua, số lượng thảm họa thiên nhiên đã tăng gấp 5 lần và gây thiệt hại gấp 7 lần. Các hiện tượng thiên tai khiến hàng triệu gia đình mất nhà cửa, phương tiện sản xuất; ảnh hưởng đến giáo dục, sức khỏe của hàng trăm triệu người. Tại báo cáo tháng 5-2023, WMO cho biết, trong giai đoạn 1970 - 2021, thế giới ghi nhận 11.778 thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu, khiến 2 triệu người chết và thiệt hại kinh tế khoảng 4,3 nghìn tỷ USD(3).

Trước những tác động to lớn tới mọi lĩnh vực và quốc gia, biến đổi khí hậu đã trở thành một trong những vấn đề cấp bách toàn cầu, là thách thức an ninh phi truyền thống lớn nhất và là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI, đòi hỏi sự tham gia giải quyết của tất cả các quốc gia trên thế giới. 

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu. IPCC cho rằng, khi mực nước biển dâng lên 100cm, diện tích đất bị mất đi của Việt Nam sẽ lên tới 40.000km2, chiếm 12,1% tổng diện tích đất hiện có, kéo theo hệ quả khiến khoảng 17,1 triệu người sẽ mất đi nơi sinh sống. Biến đổi khí hậu là nhân tố chính gây ra bão, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở, chiếm 87 - 91% số lượng thiên tai, ảnh hưởng đến 70% dân số, gây thiệt hại khoảng 1 - 1,5% GDP, đe dọa nghiêm trọng tới việc thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong giai đoạn 2011 - 2020, khí hậu cực đoan đã gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế với tổng thiệt hại lên tới khoảng 10 tỷ USD.

Trước tác động to lớn của biến đổi khí hậu, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng vấn đề này, luôn nhất quán chủ trương chủ động, tích cực hợp tác quốc tế về biến đổi khí hậu.  Chính phủ đã kịp thời thể chế hóa, ban hành một số luật, văn bản quan trọng để thúc đẩy, ứng phó với biến đổi khí hậu và nhất quán đẩy mạnh thực hiện chủ trương từ “tham gia” thành “chủ động, tích cực tham gia” hợp tác quốc tế trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu tại nhiều thể chế đa phương, quốc tế, khu vực. Không chỉ tham gia với tư cách quốc gia thành viên, mà Việt Nam còn chủ động đề xuất nhiều sáng kiến, cơ chế, phương thức hợp tác hiệu quả, góp phần quan trọng thu hút nguồn lực bên ngoài trong ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao hình ảnh và vị thế đất nước, nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Trong hợp tác đa phương, Việt Nam đã: 1- Ký kết và sớm phê chuẩn nhiều thỏa thuận lớn về biến đổi khí hậu, như Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992, Nghị định thư Ky-ô-tô năm 1998, Thỏa thuận Pa-ri năm 2016...; 2- Tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế lớn về biến đổi khí hậu, như Diễn đàn biến đổi khí hậu Á - Âu năm 2011 hay phiên Đối thoại cấp cao “Việt Nam chung tay cùng các đối tác quốc tế ứng phó với các thách thức của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long” năm 2015...; 3- Đóng góp tích cực thúc đẩy các sáng kiến trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP). Tại các Hội nghị COP lần thứ 26 và 27, Việt Nam đã cam kết đưa mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong hợp tác song phương, Việt Nam chủ động, tích cực đẩy mạnh hợp tác, đối thoại với các quốc gia phát triển, nhận được nguồn vốn hỗ trợ lớn thông qua các tổ chức quốc tế, như Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Thế giới (WB),... Báo cáo về đầu tư và chi tiêu công cho biến đổi khí hậu tại Việt Nam năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2010 - 2019, Việt Nam đã nhận được khoảng 600 dự án quốc tế hỗ trợ ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu có tổng số vốn ước tính đạt 18,5 tỷ USD. Trong đó, tổng số nguồn vốn viện trợ không hoàn lại đạt khoảng 1,1 tỷ USD, còn lại là vay ưu đãi. Tháng 12-2022, Việt Nam đã nhận được cam kết hỗ trợ 15,5 tỷ USD từ Anh, Mỹ, các nước EU hỗ trợ chuyển đổi năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo, giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050(19

Như vậy, sáng kiến và vận động quốc tế quan tâm đến vấn đề biến đổi khi hậu được Nhà nước, Chính phủ quan tâm nên triển khai thực chất, hiệu quả. Việc Việt Nam nhấn mạnh và khởi xướng ban hành Tuyên bố, …không khác nào cú tạt mặt cho những thành phần xuyên tạc, chống phá

Việt Nam xứng đáng với vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền LHQ!

 


Khóa họp thứ 52 của Hội đồng nhân quyền LHQ là khóa họp đầu tiên mở đầu nhiệm kỳ HĐNQ (2023-2025) mà Việt Nam tham gia với tư cách là thành viên. Trái ngược với luận điệu xuyên tạc, hoạt động chống phá quyết liệt nhằm phủ nhận, cho rằng Việt Nam không xứng đáng trở thành Thành viên Hội đồng nhân quyền LHQ thì Việt Nam đã chứng minh ngay vai trò, trách nhiệm và hiệu quả của mình tại diễn đàn lớn nhất thế giới về nhân quyền này. Thực tế đó không khác nào cú tát vào mặt những kẻ từng không từ thủ đoạn nào chống phá Việt Nam ứng cứ vị trí này trước đó.

Ngay từ đầu khóa họp, ngày 27/2, phát biểu tại phiên họp cấp cao ngay sau khai mạc khóa họp, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đã nêu bật nhiều thông điệp mạnh mẽ về cam kết, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong phát triển đất nước, bảo đảm quyền con người; kêu gọi các nước thông hiểu và tôn trọng các đặc thù về lịch sử, hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội của nhau, thúc đẩy hợp tác và đối thoại, tiếp cận các quyền con người một cách tổng thể.



Đặc biệt, Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đã đưa ra sáng kiến về việc kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA) bằng một văn kiện của Hội đồng Nhân quyền nhằm khẳng định lại và tăng cường các nỗ lực, cũng như hành động nhằm đạt được những mục tiêu và giá trị lớn, bao trùm của tuyên ngôn và tuyên bố trên và cam kết chung của cộng đồng quốc tế về quyền con người cho tất cả mọi người.

Tiếp theo phiên cấp cao, Ðoàn Việt Nam tích cực tham dự suốt tiến trình Khóa họp lần thứ 52 Hội đồng Nhân quyền diễn ra trong hơn một tháng từ ngày 27/2 - 4/4, với khối lượng công việc lớn và thời lượng dài kỷ lục, bao gồm: phiên họp cấp cao (từ ngày 27/2 - 2/3); 9 phiên thảo luận chuyên đề (về đánh giá 5 năm triển khai Chiến lược của Liên hợp quốc về thanh niên và phương hướng cho thời gian tới, án tử hình, kỷ niệm 35 năm Tuyên ngôn về quyền phát triển, Quỹ tự nguyện nhằm triển khai các khuyến nghị theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR), quyền trẻ em trong môi trường số); hàng loạt các phiên thảo luận, đối thoại với khoảng 45 Thủ tục đặc biệt và các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc; các phiên thảo luận, đối thoại về tình hình nhân quyền tại các nước cụ thể như Afghanistan, Myanmar, CHDCND Triều Tiên, Syria, Ethiopia, Venezuela...

Tại khóa họp, Đoàn Việt Nam cùng các đoàn các nước tham dự hàng loạt cuộc thảo luận về khoảng 80 báo cáo, nhiều tham vấn không chính thức về 43 dự thảo nghị quyết chuyên đề, xem xét thông qua các báo cáo Kiểm điểm định kỳ phổ quát của 14 nước và thông qua quyết định bổ nhiệm 10 nhân sự cho các Thủ tục đặc biệt.

Trong tiến trình khóa họp, đóng góp mang tính dấu ấn nổi bật của Việt Nam là sáng kiến được Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang đưa ra ngay ngày mở đầu khóa họp về Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna. Đoàn Việt Nam tham dự khóa họp phối hợp chặt chẽ với đơn vị chức năng của Bộ Ngoại giao đã đề xuất, soạn thảo nội dung và tham vấn, thương lượng cùng với đoàn đại biểu của các nước để đi đến nhất trí nội dung dự thảo nghị quyết, vận động các nước đồng bảo trợ, ủng hộ nghị quyết. Ngày 3/4, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua nghị quyết bằng đồng thuận, với đông đảo các nước tham gia đồng bảo trợ.

Ngoài phát biểu của Phó Thủ tướng Trần Lưu Quang tại phiên họp cấp cao và sáng kiến nghị quyết nêu trên, Đoàn Việt Nam đã tích cực phát biểu tại nhiều phiên họp khác như các phiên thảo luận về đảm bảo quyền nhà ở, quyền lương thực, quyền văn hóa, quyền phát triển, quyền trẻ em, đảm bảo quyền tiếp cận công bằng, bình đẳng, kịp thời, với giá cả hợp lý của tất cả các quốc gia đối với vaccine ngừa COVID-19...

Ngoài ra, Đoàn Việt Nam đã tích cực tiếp xúc, trao đổi, tham vấn với các đoàn đại biểu của các nước, đồng bảo trợ một số sáng kiến trên tinh thần đối thoại và hợp tác; thực hiện nhiệm vụ của thành viên Hội đồng Nhân quyền trong việc tham vấn, bỏ phiếu thông qua 43 dự thảo Nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền.

Nghị quyết này cũng đề nghị Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc triển khai chương trình hoạt động kỷ niệm tuyên ngôn và tuyên bố nêu trên, trong đó có Sự kiện cấp cao của Liên hợp quốc về quyền con người vào tháng 12 và có Báo cáo về các hoạt động kỷ niệm lên Khóa họp 56 Hội đồng Nhân quyền vào đầu năm tới.

Có thể nói, nghị quyết này là một dấu ấn nổi bật của Việt Nam tại khóa họp đầu tiên trên cương vị thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, thể hiện đóng góp thực chất, trách nhiệm của Việt Nam vào công việc của Hội đồng Nhân quyền.

Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Geneva đã trực tiếp triển khai soạn thảo, tham vấn, thương lượng dự thảo nghị quyết, sau khi Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang nêu sáng kiến tại khóa họp.

Ngày 3/4 vừa qua, Hội đồng Nhân quyền đã thông qua nghị quyết bằng đồng thuận, với sự tham gia đồng bảo trợ nghị quyết của 98 nước (tính đến cuối giờ chiều ngày 3/4, theo giờ Geneva), bao gồm 14 nước đồng tác giả (Việt Nam, Áo, Bangladesh, Bỉ, Bolivia, Brazil, Chile, Costa Rica, Fiji, Ấn Độ, Panama, Romania, Nam Phi và Tây Ban Nha), 34 nước thành viên Hội đồng Nhân quyền, cả các nước phương Tây và nhiều nước đang phát triển từ cả 5 nhóm khu vực, trong đó có hầu hết các nước ASEAN.

Trong số 43 nghị quyết được Hội đồng Nhân quyền thông qua, một số nghị quyết có những nội dung mà các nước, nhóm nước còn nhiều quan điểm khác biệt, thậm chí mâu thuẫn, nhiều ý kiến đề nghị chỉnh sửa dự thảo nghị quyết nên không đạt được đồng thuận và Hội đồng Nhân quyền đã phải tiến hành bỏ phiếu để thông qua.

Với nội dung nêu trên, việc nghị quyết do Việt Nam đề xuất, soạn thảo được thông qua bằng đồng thuận, có sự đồng bảo trợ của đông đảo các nước như vậy cho thấy nghị quyết thể hiện sự quan tâm và ưu tiên chung của các nước và cộng đồng quốc tế, thu hút được sự hưởng ứng, tham gia ủng hộ của đông đảo các nước, được sự đánh giá cao của các bên.

Việc Việt Nam đề xuất nghị quyết này tại Hội đồng Nhân quyền rất kịp thời, đáp ứng sự quan tâm của cộng đồng quốc tế về kỷ niệm và đề cao UDHR và VDPA, hai văn kiện quan trọng về quyền con người là nền tảng của khuôn khổ các công ước quốc tế, các cơ chế, đối thoại và hợp tác ở các cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia về quyền con người.

Nghị quyết này sẽ giúp tăng cường hơn nữa nỗ lực và hành động của các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong hiện thực hóa các mục tiêu, tôn chỉ, cam kết hành động đề ra tại hai văn kiện trên, góp phần nâng cao vai trò của Hội đồng Nhân quyền, Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cho mọi người, thông qua đối thoại và hợp tác, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau.

Ðây cũng là kết quả của những nỗ lực chủ động, sáng tạo và triển khai bài bản của Bộ Ngoại giao, Phái đoàn Việt Nam tại Geneva trong việc đưa ra sáng kiến Nghị quyết, soạn thảo nội dung, cũng như nỗ lực của Ðoàn Việt Nam trực tiếp tham vấn, vận động, thương lượng với đoàn của các nước tại Geneva để đi đến nhất trí về nội dung dự thảo nghị quyết bao gồm những nội dung tích cực, cân bằng sự quan tâm của các nước, trong bối cảnh các nước và các nhóm nước còn có quan điểm khác nhau trên các vấn đề cụ thể về quyền con người. Bên cạnh đó, sự phối hợp của các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã góp phần tích cực trong việc vận động các nước ủng hộ nghị quyết.

Còn nhớ, vào cuối tháng 02/2021, ngay sau khi Phó Thủ tướng thường trực Phạm Bình Minh thông báo tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc việc Việt Nam, với tư cách ứng cử viên của ASEAN, tham gia ứng cử vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam đã ngay lập tức đặt ra mục tiêu ngăn cản Việt Nam ứng cử vào Hội đồng này. Họ ra sức vận động để tạo dựng “Phong trào hưởng ứng Luật Magnisky toàn cầu”1 hướng vào Việt Nam. Dưới chiêu bài bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực tăng cường lôi kéo, kích động quần chúng đòi tự do dân chủ, nhân quyền theo tiêu chí phương Tây. Dựa vào các thông tin sai lệch về tình hình tự do tôn giáo và tình hình nhân quyền do một số phần tử phản động ở trong nước, một số tổ chức phi chính phủ không thiện chí với Việt Nam, một số tổ chức phản động lưu vong chống phá Việt Nam, như: Ủy ban Cứu người vượt biển - BPSOS; “Tin lành người dân tộc thiểu số Tây Nguyên”; Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ định kỳ công bố các Báo cáo Nhân quyền, Báo cáo Tự do tôn giáo quốc tế, trong đó có nhiều thông tin xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Dựa vào đó, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi đưa Việt Nam trở lại “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo”, đòi Chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho tất cả những người vi phạm pháp luật mà họ tự gọi là “tù nhân lương tâm”. Một số tổ chức phản động, thiếu thiện chí ở nước ngoài cũng đẩy mạnh các chiến dịch đòi Nhà nước Việt Nam phải đáp ứng ngay các tiêu chuẩn về tự do lập hội, tự do xuất bản báo chí tư nhân, hoạt động tôn giáo không cần sự quản lý của Nhà nước,… theo tiêu chí của Mỹ và phương Tây; gắn “dân chủ”, “nhân quyền” với các vấn đề hợp tác phát triển. Một số tổ chức phi chính phủ thù địch người Việt Nam và nước ngoài có quy chế quan sát viên tại Hội đồng Kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) cũng lợi dụng diễn đàn của Hội đồng Nhân quyền để vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người; tổ chức trao giải cho các đối tượng chống đối  để tạo dựng “ngọn cờ” chống phá Việt Nam. Một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi cái gọi là “thư ngỏ” tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025.

Tuy nhiên, bất chấp mọi sự vu cáo, xuyên tạc, ngăn cản của các tổ chức và cá nhân nói trên, tình hình nhân quyền tại Việt Nam được thế giới nhìn nhận ngày một khách quan hơn. Bởi thế, trong cuộc bỏ phiếu ngày 11/10/2022 tại trụ sở Liên hợp quốc, trong bối cảnh cạnh tranh giữa các ứng viên rất quyết liệt, Đại hội đồng Liên hợp quốc vẫn đặt niềm tin và lựa chọn Việt Nam cùng 13 quốc gia khác làm thành viên mới của Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023 - 2025. Với gần 80% tổng số phiếu bầu, Việt Nam đứng vào nhóm nước trúng cử với số phiếu cao nhất. Kết quả đó là “cái tát” đích đáng của cộng đồng quốc tế vào mặt những kẻ rắp tâm phá hoại uy tín của Việt Nam, trong đó có cả những kẻ ở trong nước nhân danh bảo vệ “nhân quyền” để phá hoại uy tín của Việt Nam. Việc Việt Nam lần thứ hai được bầu là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu cao, thể hiện sự khẳng định của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực và thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; đồng thời, đặt niềm tin đối với Việt Nam trong lĩnh vực này.

Cùng với kết quả bỏ phiếu ghi nhận sự ủng hộ đa số với ứng cử của Việt Nam, hoạt động hiệu quả với vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền ngay từ khóa họp đầu tiên của Nhiệm kỳ càng khẳng định Việt Nam xứng đáng vào vị trí này và cộng đồng quốc tế đã ghi nhận điều đó.

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

Sự thật cái gọi là “Đảng ra Quy định siết chặt đối với báo chí”

 


“Trung ương Đảng lại ra Quy định siết chặt đối với báo chí” là bản tin RFA đưa ra trên mạng xã hội nói về quy định mới nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam với báo chí. Cách diễn đạt “mập mờ” của RFA khiến rất nhiều độc giả bị nhầm tưởng. Thực tế, Ban Bí thư vừa ban hành Quy định 101-QĐ/TW về trách nhỉệm, quyền hạn và việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật lãnh đạo cơ quan báo chí. Quy định này nói nhiều đến những quy định, điều kiện và tiêu chuẩn về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các cá nhân lãnh đạo, đứng đầu cơ quan báo chí. Trong đó điều kiện tiên quyết lãnh đạo báo chí phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quy định mới nêu rõ ba mức độ kỷ luật đối với lãnh đạo các cơ quan báo chí: Nhắc nhở, khiển trách; Kỷ luật cảnh cáo, cách chức và Khai trừ Đảng, khi những người mắc phải các lỗi: Lãnh đạo cơ quan báo chí sẽ bị nhắc nhở, khiển trách khi viết bài, duyệt đăng bài mà thông tin, hình ảnh được lấy từ các hội nhóm, mạng xã hội bị cho là không đúng sự thật…Mức kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức đối với hành vi duyệt đăng thông tin sai lệch chủ trương của Đảng, pháp luật hoặc không chấp hành chỉ đạo của cơ quan chỉ đạo, cơ quan quản lý về thông tin tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ Việt Nam với các quốc gia và các tổ chức quốc tế.

Thực ra, tất cả những quy định này không mới chỉ là cách mà Ban Bí thư tập hợp lại có hệ thống những quy định dựa trên nền tảng là luật báo chí năm 2016. Khoản 1 Điều 4 Luật Báo chí 2016 đã nêu rõ: “Báo chí ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; là diễn đàn của nhân dân”.

Lịch sử phát triển và thực tiễn đã chứng minh, báo chí Việt Nam là nền báo chí do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng chính trị tư tưởng; đồng thời là lực lượng xung kích, đi đầu trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng: “Báo chí – xuất bản đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị, xã hội và là diễn đàn của nhân dân; luôn luôn đi đầu trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”.

Với việc được định nghĩa rõ ràng rằng báo chí Việt Nam “đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý Nhà nước và hoạt động theo khuôn khổ pháp luật”. Việc báo chí Việt Nam tuân thủ các định hướng và là tiếng nói quan trọng trong việc “bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Sự thực thì những luận điệu mập mờ của RFA cho rằng “báo chí không thể trung thực nếu bị định hướng”, hay những câu hỏi đặt ra về “tự do báo chí ở Việt Nam” đều là những chiêu trò quen thuộc nhằm mục đích chống phá là chính.

Những tiếng nói lạc lõng như của RFA dường như cố tình quên rằng việc đảm bảo mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế.

Theo thống kê chưa đầy đủ cho đến 12/2022, Việt Nam có hàng nghìn cơ quan báo chí (báo in, báo điện tử); gần 100 đài phát thanh và truyền hình; 75 kênh truyền hình nước ngoài “online”, trong đó có các kênh lớn như: CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg…Có hơn 20 cơ quan báo chí nước ngoài đã có phóng viên thường trú tại Việt Nam và hoạt động tự do theo đúng quy định; nhiều báo, tạp chí in bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài được phát hành rộng rãi. Qua Internet, người dân Việt Nam có thể tiếp cận tin tức, bài viết của các cơ quan thông tấn, báo chí lớn trên thế giới, như: AFP, AP, BBC, VOA, Reuters, Kyodo, Economist, Financial Times…Nhiều chuyên gia đánh giá Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển Internet hàng đầu khu vực, đặc biệt là mạng xã hội.

Những con số ấy thể hiện sự phát triển lớn mạnh của báo chí Việt Nam. Và cũng khẳng định một điều Việt Nam không cấm tự do báo chí, tự do ngôn luận, mà chỉ nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do ấy để chống phá Đảng, nhà nước, chế độ, xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cản trở sự phát triển của đất nước. Trong vài năm gần đây có hàng trăm nhà báo bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý bằng nhiều hình thức khác nhau vì đã vi phạm những điều quy định trong Luật Báo chí.

Đáng tiếc là những luận điệu như kiểu RFA không hiểu hoặc cố tình không hiểu, nhập nhằng giữa những điều này để xuyên tạc sự thật lợi dung chiêu bài “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” để nhằm mục đích đả phá thể chế, chính quyền. Mọi người hãy tỉnh táo trước những thông tin của RFA trong bài viết này để tránh bị lèo lái nhé.

 

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2023

Vì sao Việt Nam phản bác Báo cáo nhân quyền của Mỹ?

 


Vừa qua, bà Phạm Thu Hằng- Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định: Việt Nam lấy làm tiếc vì Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra một số nhận định thiếu khách quan dựa trên thông tin không chính xác về tình hình thực tiễn tại Việt Nam…Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi thẳng thắn, cởi mở trên tinh thần xây dựng với Hoa Kỳ về những vấn đề còn có sự khác biệt để tăng cường hiểu biết và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ Đối tác toàn diện giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Ý kiến của Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao đã khái quát về đánh giá thiếu khách quan trong Báo cáo nhân quyền của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khi cho rằng, “ Một số quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam đã vi phạm nhân quyền có hệ thống”.

Chúng ta thấy rằng, việc đánh giá này là hết sức phiến diện, mang tính quy kết và thiếu chính xác. Chính vì vậy, nội dung Báo cáo lặp lại những nhận định đã đưa ra từ các năm trước đó. Trong báo cáo này đã thể hiện đầy đủ cách nhìn nhận sai lệch và phiến  diện, như: Nhà nước CHXHCN Việt Nam là một nhà nước độc tài. Cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 5-2021 không tự do và không công bằng…Có thể thấy rằng, những thông tin trong báo cáo này bị ảnh hưởng bởi định kiến cá nhân, không dựa trên những thông tin khách quan thu thập được, như báo cáo cho rằng: “ Ở Việt Nam xảy ra bắt bớ và giam giữ tùy tiện, những người thực thi các quyền được quốc tế công nhận, chẳng hạn quyền tự do ngôn luận, hội họp ôn hòa và lập hội”. Nhưng các thông tin này là không căn cứ vào các nguồn tin chính thống mà lại lấy từ các nguồn sai lệch, biến những trường hợp vi phạm pháp luật thành những cái tên không hề có ở Việt Nam, như “ tù nhân lương tâm”, “ tù nhân tôn giáo”…

Mặt khác, trong bản báo cáo này khi nhắc đến dân chủ, nhân quyền họ lại cố tình nhắc đến những đối tượng: Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Bắc Truyền, Nguyễn Thúy Hạnh, Huỳnh Thục Vy và khoác lên cho họ những cái tên mà ở Việt Nam cũng không hề có, “ nhà đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”… để họ quy kết việc các cơ quan chức năng của Việt Nam giam giữ, xử lý các đối tượng này là “ chính quyền đàn áp người vô tội”…Trên thực tế thì đây là những đối tượng chống đối bị chính quyền xử lý theo pháp luật.

Điều nực cười ở chỗ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại bênh vực các đối tượng trên khi phê phán Việt Nam bắt giữ tùy tiện, xét xử không công bằng, đàn áp xuyên quốc gia, can thiệp bất hợp pháp vào các quyền riêng tư, không tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, thiếu tự do Internet…Sự đánh giá này là sai lệch về bản chất về dân chủ và nhân quyền mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang hướng đến và ngày càng hoàn thiện. Chính vì vậy mà Việt Nam lần thứ hai trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc. Nhiều người cũng biết trước khi bỏ phiếu bầu chọn, các thế lực thù địch và phản động ở trong và ngoài nước ra các “ Lời kêu gọi”, “ Thỉnh nguyện thư” gửi cho một số tổ chức trên thế giới, gửi cho Chính giới một số nước để không ủng hộ Việt Nam tham gia lần thứ hai vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhưng họ đã không thực hiện được. Điều đó đặt ra một câu hỏi: Nếu Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền như báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ viết thì liệu các nước có bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc khóa thứ hai không?

Cá nhân tôi nghĩ trong câu hỏi đã có sự trả lời xác đáng. Do vậy, để quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển thì nhất thiết phải vượt qua rào cản về định kiến nhân quyền, trên cơ sở bình đẳng và hợp tác để làm sâu sắc hơn Đối tác toàn diện mà Việt Nam và Hoa Kỳ đã có nhiều năm gắn bó sau khi bình thường hóa quan hệ!

 

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

HRW ngày càng trơ trẽn vì không hiểu pháp luật và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

 


Vừa qua trên nhiều trang chống phá Việt Nam, trong đó có tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW, trụ sở ở Hoa Kỳ) đưa tin: “Chính phủ Việt Nam phản hồi cơ chế đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp quốc (tố cáo): “Chính phủ Việt Nam “trơ trẽn” khi giải trình với LHQ về việc bắt 9 nhà hoạt động” (trên RFA).

Theo đó, ngày 24/3 RFA đưa tin: “Phái đoàn thường trực Việt Nam ( bên cạnh Liên Hiệp quốc (LHQ), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy sỹ) đã phản hồi văn bản chất vấn hồi tháng 11/2021 của 3 Báo cáo Viên đặc biệt về việc bắt giữ tùy tiện 9 nhà hoạt động(nhân quyền) ở Việt Nam.

Những người bị bắt bao gồm các ông/bà: 1-Chung Hoàng Chương; 2-Nguyễn Văn Nghiêm; 3-Lê Văn Dũng; 4-Đinh Thị Thu Thuỷ; 5-Đỗ Nam Trung; 6-Đinh Văn Hải; 7-Lê Trọng Hùng; 8-Trần Quốc Khánh; và 9-Lê Chí Thành.

Vẫn theo trang tin này, có cựu đại úy công an Lê Chí Thành bị bắt và kết án vì hai tội danh “Chống người thi hành công vụ” và “Lợi dụng quyền tự do dân chủ”. Còn ông Chung Hoàng Chương bị án về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ…”. Một tài khoản bình luận rằng: “Cựu đại tá Công an cũng bị bắt” …, không có gì lạ. Vì Việt Nam xử lý mọi người theo pháp luật “ không có vùng cấm”, “ không có ngoại lệ”. Còn Chung Hoàng Chương bị bắt về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ”. Có lẽ đây cũng là điều dễ hiểu. Pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận…Nhưng không cho phép bất cứ ai lợi dụng quyền này để xuyên tạc, bôi nhọ chế độ. Ngày nay trong điều kiện internet, mạng xã hội…quyền này còn là quyền truy cập, phát tán tin tức trên internet…đương nhiên cũng cấm lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá Chế độ-Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo Luật báo chí 2016 và Nghị định về sử dụng internet.

Những người còn lại đều bị kết án về tội “Tuyên truyền chống nhà nước” với mức án từ  5 đến 10 năm (Tù giam). 8 người trong số họ đang thụ án tù, riêng ông Chương đã thi hành xong án tù 18 tháng từ giữa năm 2021.

Trong văn bản giải trình, Hà Nội nói: “Việc bắt giữ và kết án họ đều tuân thủ pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế về nhân quyền”.

Ông Phil Robertson ( Phó Giám đốc Phân ban Á châu của HRW trong email gửi Đài Á Châu Tự Do (RFA) ngày 30/3 cho rằng: “ lập luận của Chính phủ Việt Nam là trơ trẽn” vì:

“Phản ứng của Chính phủ Việt Nam hoàn toàn hai mặt, từ chối  ( trên thực tế) tuân thủ các cam kết quốc tế (về nhân quyền- PV) nhưng sau đó lại viết phản hồi như thể họ đang tuân thủ”. Một tài khoản viết: Không phải Việt Nam mà chính ông Phil Robertson mới là người thiểu năng về trí tuệ…và cũng có thể nói là “ trơ trẽn” vì ông ta không hiểu gì về pháp luật nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng. Pháp luật của tất cả các quốc gia đều bảo vệ các quy định pháp luật của mình. Tất nhiên pháp luật giữa các quốc gia luôn luôn có sự khác biệt nào đó để bảo vệ chế độ của đảng cầm quyền. Ở Việt Nam pháp luật nghiêm cấm các hành vi xuyên tạc, chống phá chế độ: Bôi nhọ Đảng cộng sản Việt Nam…Trong đó có nói xấu những người lãnh đạo của  Đảng và Nhà nước.

Trở lại bài viết của ông Phil Robertson, ông viết: “Vấn đề cơ bản là Việt Nam đã liên tục thất bại trong việc đưa luật pháp quốc gia tuân thủ Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) mà Việt Nam đã phê chuẩn”… “Sau đó, Việt Nam lại tuyên bố (một cách dối trá và ngụy biện) rằng bởi vì họ đang hoạt động trong khuôn khổ luật pháp Quốc gia”, “Nên không có quyền nào bị vi phạm.” Thiết nghĩ ông Phil giả vờ “không hiểu” pháp luật Việt Nam. Quan điểm của Việt Nam không có gì là mâu thuẫn cả: Việt Nam ký kết, gia nhập nhiều Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có 2 công ước cơ bản…là “Công ước về các quyền Dân sự, Chính trị”, 1966 và “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa”, 1966 ( vào năm 1982). Đồng thời cũng như các nước- Việt Nam đã nội luật hóa 2 công ước trên vào hệ thống pháp luật Quốc gia ( trong các Hiến pháp, pháp luật…cho đến Hiến pháp 2013). Điều này có nghĩa: Các quy định của 2 Công ước trên đã được đưa vào hệ thống pháp luật Việt Nam, bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật Quốc gia với Công ước Quốc tế…chứ không phải Việt Nam thực hiện nguyên văn các Công ước Quốc tế.   

Trở lại với bài viết của Mr Phil…Việt Nam nói:  “Việc bắt giữ và kết án đúng pháp luật Việt Nam”. Còn “ Các báo cáo viên đặc biệt thì nói: Họ nhận được thông tin về việc bắt giữ tuỳ tiện chín nhà hoạt động chỉ vì họ thực hiện quyền tự do biểu đạt, giam giữ họ trong thời gian dài mà không cho tiếp xúc với luật sư và gia đình, và xét xử không tuân thủ quy trình về xét xử công bằng.” Một tài khoản viết: Việc cái gọi là “các báo cáo viên” đặc biệt “ nhận được thông tin…” chẳng có bằng chứng nào…mà chỉ có Mr Phil… cung cấp, đưa lên mạng  mà thôi.

Trở lại với bài viết của Mr Phil… “Trong thư phản hồi, Việt Nam khẳng định những việc mà các cơ quan chức năng làm đều tuân thủ luật pháp Việt Nam và tuân thủ khoản 3 Điều 9 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR). Cụ thể là: “Bất kỳ ai bị bắt hoặc giam giữ vì cáo buộc hình sự sẽ nhanh chóng được đưa ra trước một thẩm phán hoặc viên chức khác được pháp luật ủy quyền để thực thi quyền tư pháp và có quyền được xét xử trong một thời gian hợp lý hoặc được trả tự do.”; “ 9 nhà hoạt động bị kết án vì tuyên truyền thông tin không đúng sự thật, lợi dụng quyền tự do ngôn luận và dân chủ để xuyên tạc và bôi nhọ chính quyền” thì không!

Vẫn theo ông Phil: Phía Việt Nam cũng biện hộ việc từ chối cho những người bị tạm giam được gặp luật sư và người thân trong quá trình điều tra nhằm “bảo vệ bí mật điều tra” trong các vụ án liên quan đến an ninh quốc gia” (SIC). Về trường hợp Mr Chung Hoàng Chương ( người bị bắt ngày 11/01/2020 ngay sau vụ thảm sát Đồng Tâm và mãn hạn tù vào tháng 7/2021), Y nói với RFA về trường hợp của mình:

“Tôi bị bắt về cáo buộc theo Điều 331 vì một số bài viết góp ý trên Facebook. Trong khi hỏi cung, công an không cho tôi cơ hội giải thích, sở Thông tin và Truyền thông đã cường điệu quá mức khi thẩm định các bài viết của tôi, còn toà án thì cắt ngang khi tôi trình bày bản tự bào chữa…” Ông cho rằng bản thân “bị tù tội vì nói ra sự thật,” đó là “những điều mà chế độ không muốn nghe và không muốn người dân biết”.( SIC). Theo Phương Nhithì tòa án ở quốc gia nào cũng có quyền này (Cho phép hoặc cắt ngang người nói dù đó là ai). Vì tòa án không cho kẻ phạm tội lợi dụng phiên tòa để tuyên truyền chống phá chế độ. Tòa án chỉ hỏi để làm rõ những cáo buộc mà thôi.

Ở Việt Nam ngày nay, công dân và cả người nước ngoài đều có quyền tự do ngôn luận, kể cả trên Fb. Việc những kẻ lợi dụng trang mạng phổ biến này để đăng tải  thông tin sai sự thật, xuyên tạc chính sách, chế độ thì tất nhiên cũng bị xử lý như trên tất cả phương tiện truyền thông khác.

Còn chuyện phạm nhân nói với Mr Phil: “Ông bị hạn chế gặp vợ trong thời gian tạm giam, không được nhận thuốc gia đình gửi vào và cũng không được điều trị dù bị bệnh tim. Thêm nữa, dù có thị lực kém và cần phải đeo kính nhưng trại tạm giam không cho ông sử dụng kính, kể cả kính gọng nhựa” thì một tài khoản bình luận rằng: Việc hạn chế cho gặp vợ là điều dễ hiểu. Được biết, các trại giam đều có quy định chế độ vào thăm…không phải ai, lúc nào cũng có quyền vào thăm. Còn chuyên không cho dùng kính thì nhiều khả năng – người cung cấp thông tin cho Mr Phil bịa đặt.

Trở lại với thông tin của Mr Phil- và Báo cáo viên đặc biệt quan ngại về “Những điều khoản mơ hồ của Bộ luật Hình sự” và cho rằng điều này dường như “không phù hợp với các nghĩa vụ của (Việt Nam) theo luật nhân quyền quốc tế” trong đó có “Phát tán tài liệu nhằm chống Nhà nước” (Điều 117) và tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ” (Điều 331) dùng để chống lại những cá nhân “Chỉ đơn giản thực hành quyền tự do biểu đạt và truyền đạt thông tin.” Về nội dung trên (“Những điều khoản “mơ hồ của Bộ luật Hình sự” và tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ”) thì thiết nghĩ Mr Phil đã đi quá xa quyền của mình…Ông không có quyền, kể cả bất cứ tổ chức nào cũng không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ, trong đó có pháp luật Quốc gia của Việt Nam.

Để kết thúc, tác giả bài viết này có mấy bình luận:

1-Pháp luật Việt Nam quy định bảo đảm quyền tự do ngôn luận…nhưng không cho  bất cứ ai lợi dụng quyền này để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá chế độ, Nhà nước Việt Nam. Trường hợp cựu đại úy công an Lê Chí Thành, ông Chung Hoàng Chương bị án về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ…” là điều dễ hiểu. Vì Việt Nam xử lý mọi người theo pháp luật “ không có vùng cấm”, “ không có ngoại lệ”.

2-Pháp luật của Việt Nam do Quốc hội Việt Nam quy định không có cá nhân, tổ chức nào có thể can thiệp được. Mr Phil cần hiểu rõ điều này. Điều ông đưa lên mạng những thông tin nói trên là trái với đạo đức, quy định của pháp luật Việt Nam…hậu quả đối với ông và những kẻ cùng hội cùng thuyền là không thể lường trước được.

3- Còn đối với tổ chức HRW-khi đưa thông tin và bình luận xuyên tạc sự thật…đây mới chính là sự “ trơ trẽn” (vì đã không hiểu pháp luật và can thiệp vào công việc của Việt Nam).

Nên nhớ rằng thời kỳ chiến tranh lạnh đã lùi xa, HRW hay bất kể cá nhân, tổ chức nào nếu vẫn giữ tư duy thời kỳ lịch sử đã qua- kỳ thị với chế độ xã hội Việt Nam do Đảng cộng sản lãnh đạo sẽ bị người Việt Nam và cộng đồng quốc tế tẩy chay/ ghét bỏ mà thôi./.