Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

Việt Nam nỗ lực học hỏi kinh nghiệm chống bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới tại nơi làm việc!

 


Tại Khóa họp 53 HĐNQ, diễn ra từ ngày 19/6-14/7/2023, theo hình thức kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, thu hút sự tham dự của đông đảo đại diện các nước, tổ chức quốc tế liên chính phủ và một số tổ chức phi chính phủ. Phái đoàn Việt Nam tại Genevađã phối hợp với các Phái đoàn Hoa Kỳ và Argentina đồng tổ chức Tọa đàm quốc tế về chống phân biệt đối xử, bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới tại nơi làm việc (ngày 3/7 trực tiếp tại Geneva và trực tuyến). Phát biểu dẫn đề tại Toạ đàm, Trợ lý Bộ trưởng Nguyễn Minh Vũ khẳng định dù đang trong quá trình nghiên cứu khả năng gia nhập Công ước số 190 năm 2019 về chủ đề này của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Việt Nam mong muốn thúc đẩy đối thoại giữa các nước và các tổ chức quốc tế và các bên liên quan để chia sẻ kinh nghiệm và nhu cầu hợp tác quốc tế nhằm giải quyết vấn đề phân biệt đối xử, bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới tại nơi làm việc. Cũng tại Tọa đàm, các đại biểu đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm phong phú về tăng cường hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức và bảo đảm sự tham gia của người lao động, nhất là lao động nữ, các doanh nghiệp, các tổ chức công đoàn… trong việc chuẩn bị điều kiện, năng lực để tham gia Công ước ILO 190.



Có thể nói, quấy rối trên cơ sở giới tại nơi làm việc luôn là vấn đề nóng bỏng, được dư luận quan tâm,, Đảng và Chính phủ luôn tìm mọi cách giảm thiểu, bảo vệ nạn nhân vấn đề này.

“Quấy rối tình dục” có thể hiểu là hành vi có tính chất tình dục gây ảnh hưởng tới nhân phẩm của nữ giới và nam giới, đây là hành vi không được chấp nhận, không mong muốn và không hợp lý làm xúc phạm đối với người nhận, gây ra bất ổn, đáng sợ, thù địch và khó chịu cho người bị quấy rối. Luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2019 đưa ra định nghĩa về quấy rối tình dục nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được sự đồng ý của người đó. (Theo khoản 9 Điều 3).Nơi làm việc được hiểu là là bất cứ địa điểm nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động. Theo quy định của pháp luật, những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như các hoạt động xã hội, tập huấn, hội thảo, bữa ăn, chuyến đi công tác chính thức, các hoạt động giao tiếp qua phương tiện điện tử, phương tiện đi lại do người sử dụng lao động bố trí từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nơi ở do người sử dụng lao động cung cấp và địa điểm khác do người sử dụng lao động quy định đều được tính là nơi làm việc.

Theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, người thực hiện hành vi quấy rối tình dục sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội; Phòng chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy chữa cháy; Phòng ngừa và kiểm soát bạo lực gia đình. Cụ thể, tại điểm a khoản 1 Điều 5, Nghị định này quy định những người có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Theo văn bản này, cử chỉ thô bạo, trêu ghẹo, khiêu khích, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác đều được xem là tội quấy rối tình dục.

Ngoài ra, trường hợp hành vi quấy rối xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị xử lý hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 155 Bộ Luật Hình sự 2015: “Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”. Người phạm tội có thể bị xử lý các khung hình phạt cao hơn nếu có các yếu tố tăng nặng.

Bên cạnh đó, để xử lý hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, Bộ luật Lao động năm 2019 cũng cho phép người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần phải báo trước khi bị quấy rối và người lao động nếu có hành vi quấy rối người khác tại nơi làm việc sẽ bị sa thải.  Quấy rối tình dục tại nơi làm việc là một hình thức phân biệt đối xử liên quan đến giới tính, gây ảnh hưởng xấu tiêu cực tới môi trường lao động, phá vỡ sự bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ. Nó dẫn đến những tác động xấu về tâm lý, thậm chí gây lo lắng, căng thẳng và tổn thương về cả thể xác lẫn tinh thần cho người bị hại. Môi trường công sở từ đó trở nên thiếu an toàn, hiệu suất cũng như năng suất làm việc bị giảm sút. Vì vậy, các hành vi quấy rối, xâm phạm tình dục nơi làm việc cần được đấu tranh mạnh mẽ để ngăn chặn và loại bỏ, tạo điều kiện cho tất cả mọi lao động phát huy tối đa khả năng để cống hiến hết mình cho nơi mà họ đã lựa chọn gắn bó.

Việc Việt Nam khởi xướng, chủ động và tích cực tham gia diễn đàn này tại Khóa họp 53 Hội đồng Nhân quyền LHQ phản ánh sự quan tâm học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm từ các nước chống bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới tại nơi làm việc, từ đó nghiên cứu, vận dụng vào Việt Nam

 

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2023

Có phải không có tự do ngôn luận, tự do báo chí là nguyên nhân dẫn đến vụ “các chuyến bay giải cứu”?

 


Lợi dụng sự quan tâm của dư luận tới vụ án “các chuyến bay giải cứu”,  các thế lực “té nước theo mưa” suy luận, bình luận, thậm chí bóp méo nhằm “lái” những bức xúc, bất bình của người dân sang bôi nhọ chính quyền, phủ nhận chế độ xã hội XHCN, đồng thời, dẫn dắt tình cảm, suy nghĩ của mọi người đến mô hình xã hội ngoại nhập “dân chủ đa nguyên, tam quyền phân lập”. Họ phân tích, bình luận nguyên nhân quan trọng dẫn đến các đại án tham nhũng là do độc đảng, không có tự do ngôn luận, tự do báo chí từ đó dẫn dắt đến vấn đề phải thay đổi chế độ xã hội, chế độ đó phải “có nhiều hơn một đảng”… Đặc biệt, họ xoáy sâu, đòi số tiền hàng trăm tỉ đồng tiền nhận hối lộ của nhiều bị cáo nộp lại phải được dùng để trả lại tiền chênh cho những người dân từng phải nộp nhiều tiền để được lên những chuyến bay giải cứu, từ đó dẫn lái cho rằng nộp vào công quỹ như hiện nay là “cướp tiền của dân”, đồng thời kích động “200 ngàn nạn nhân của vụ “chuyến bay giải cứu” phải tiến hành một vụ kiện tập thể, chống lại Chính phủ VN theo điều 170, 174, 168 BLHS” vì chỉ khi khởi kiện và bị truy tố bởi những điều khoản trên thì vụ án mới có nạn nhân và nạn nhân mới được bồi thường”.

Việc đổ lỗi cho chế độ một Đảng gây ra những vụ án tham nhũng, tiêu cực như trên là nhận thức rất sai, cần phải phê phán. Việc nhìn nhận và đánh giá về một vấn đề cần khoa học, người đánh giá phải là người có cái tâm, cái tài, cái tình trong khi đánh giá. Mang tà tâm vào việc đánh giá chế độ xã hội sẽ dẫn đến sự méo mó trong cách nhìn nhận. Theo đó, nếu nhìn vào phiên tòa xét xử 54 bị cáo, những người có tâm sẽ nhìn thấy sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong chống tham nhũng, cuộc chống tham nhũng hiện nay là không có vùng cấm. Nhưng những kẻ có tà tâm thì lợi dụng việc này để hướng lái từ vụ án hình sự sang vấn đề chính trị, tạo cớ bôi nhọ đất nước, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Nhìn nhận vấn đề này cần phải tách bạch 2 vấn đề.

Thứ nhất, việc Đảng, Nhà nước chủ trương thực hiện những chuyến bay giải cứu đưa người dân vùng dịch có nguyện vọng trở về nước tránh dịch là một việc làm ý nghĩa, nhân văn và đúng đắn. Trong tình hình nước sôi lửa bỏng, toàn dân chống dịch như chống giặc, mặc dù hiển hiện nguy cơ “đưa dịch” về nước qua những chuyến bay giải cứu nhưng với phương châm “không ai bị bỏ lại phía sau”, hơn 1000 chuyến bay đưa hơn 200 nghìn người dân từ 62 quốc gia, vùng lãnh thổ trở về, rất nhiều gia đình đã đoàn tụ, đã bày tỏ sự biết ơn đối với Chính phủ VN qua những bức thư, những bài thơ ca ngợi… Tuy nhiên, tất cả ý nghĩa tốt đẹp của chủ trương này đã bị lu mờ trước tội ác tày trời của 54 bị cáo.

Việc xét xử cùng một lúc 54 cán bộ, đảng viên, trong đó có những cán bộ cấp cao là một sự việc đau lòng, bởi  những cá nhân chỉ vì lòng tham làm mờ mắt, ngã gục trước sức mạnh của đồng tiền đã biến một chủ trương nhân đạo lớn, đúng đắn của Đảng, Nhà nước VN thành cơ hội để tham nhũng, tư lợi và hậu quả trước mắt là 54 người phải đứng trước vành móng ngựa và hậu quả lâu dài là gây dư luận xấu trong xã hội, làm mất niềm tin của dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. 

Thứ hai, tòa xét xử đại án “chuyến bay giải cứu” nhiều tội danh, trong đó có tội Đưa hối lộ, Nhận hối lộ, Môi giới hối lộ, Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đây là một vụ án hình sự, do vậy số tiền đưa nhận hối lộ mà các bị cáo nộp lại sẽ được xử lý theo quy định tại điều 364 bộ luật hình sự và nguyên tắc xử lý vật chứng. Theo đó, tất cả số tiền đưa hối lộ, số tiền gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân, tiền do phạm tội mà có thì sẽ bị tịch thu, sung công quỹ nhà nước theo quy định về xử lý vật chứng trong vụ án hình sự.Trường hợp bị cáo bị ép buộc đưa hối lộ và chủ động khai báo thì mới được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại tiền. Đối với trường hợp bị cáo không bị ép buộc hoặc không thuộc trường hợp tự thú thì số tiền đó sẽ bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Do đó, việc nhiều người cho rằng, số tiền các bị cáo nộp khắc phục hậu quả phải dành để trả lại cho những người dân từng phải nộp nhiều tiền để được lên những chuyến bay giải cứu là không hiểu luật. Vì những người này tự nguyện nộp số tiền lớn cho các đơn vị tổ chức chuyến bay để được về nước là quan hệ dân sự, không năm trong phạm vi giải quyết của vụ án này. Những người dân trở về nước trong các “chuyến bay giải cứu” nếu thấy việc thu phí không có căn cứ pháp luật, giao dịch bị vô hiệu do bị ép buộc, lừa dối thì có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự để yêu cầu các doanh nghiệp hoàn trả số tiền đã thu bất hợp pháp. Tuy nhiên, người khởi kiện phải chứng minh quan hệ dân sự đó bị vô hiệu do lừa dối, bị ép buộc và số tiền toàn bộ hoặc một phần phải trả lãi theo quy định của pháp luật. Còn trường hợp thỏa thuận giá cả là tự nguyện, mặc dù giá cao nhưng không bị ép buộc thì không có căn cứ để đòi lại số tiền đó.  Bên cạnh đó, giá vé máy bay, giá dịch vụ lưu trú có thể biến động theo giá thị trường, trong khi Nhà nước không quy định cụ thể giá đối với các dịch vụ này. Do đó rất khó để xác định chính xác mức chênh lệch giá vé và giá trị trách nhiệm hoàn trả đối với chủ thể đã thu tiền dịch vụ của công dân trong vụ án nói trên.

Những “con sâu làm rầu nồi canh” đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi cá nhân với số tiền lớn, phạm vi rộng đang phải chịu sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chính là những cuộc đấu tranh diễn ra hàng ngày trong chính bản thân mỗi người. Nếu không đủ bản lĩnh, rất dễ bị sa ngã trước sự cám dỗ của đồng tiền. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định chỉ có những người với “bàn tay sạch”, “tấm lòng sạch” mới có đủ dũng khí để dọn sạch tàn dư của những thói hư tật xấu đã len lỏi vào một bộ phận cán bộ của chúng ta; “Tay đã nhúng chàm không thể chống tham nhũng”. Chính vì vậy, mỗi một cán bộ, đảng viên phải  không ngừng trau dồi bản lĩnh và trí tuệ ; luôn giữ trái tim nhiệt huyết, đôi chân vững chắc và bàn tay sạch để “đứng vững, đứng thẳng và khước từ mọi sự cám dỗ tầm thường”.

 

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

Việt Nam: 80% số người chịu các tác động tiêu cực của tình trạng biến đổi khí hậu là phụ nữ!

 


Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đặc thù, Việt Nam là đất nước dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, với những biểu hiện, như: lũ lụt bất thường, hạn hán, nước biển dâng, hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiệt độ tăng cao... Theo đánh giá hằng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan giai đoạn 1997 - 2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn

 


Biến đổi khí hậu gây ra những tác động khác nhau đối với phụ nữ và nam giới. Các nghiên cứu cho thấy, khoảng 80% số người chịu các tác động tiêu cực của tình trạng biến đổi khí hậu là phụ nữ(7). Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số phụ nữ và trẻ em tử vong bởi các thảm họa thiên nhiên cao hơn 14 lần so với nam giới(8). Biến đổi khí hậu tác động lên cuộc sống và sinh kế của người dân theo những cách thức khác nhau và phụ nữ luôn được coi là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu. Trên thực tế, biến đổi khí hậu có thể làm tồi tệ thêm những bất bình đẳng giới, tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ. Báo cáo thảo luận chính sách của Liên hợp quốc và Oxfam khẳng định, nhiều thiên tai xảy ra do biến đổi khí hậu dẫn đến di cư tăng lên ở Việt Nam. Phụ nữ di cư thường kiếm được việc làm ít hơn nam giới và nếu họ ở lại khi các thành viên khác trong gia đình di cư thì họ sẽ phải gánh vác trách nhiệm của nam giới. Một tình trạng phổ biến khác là nam giới trong gia đình thường làm việc xa nhà, nên khi thiên tai tàn phá thì phụ nữ buộc phải gánh vác hầu hết các hậu quả của rủi ro thiên tai.

Sinh kế của người nghèo, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em nông thôn, phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, sản xuất nông nghiệp, đánh bắt hải sản gần bờ. Cuộc sống của họ phụ thuộc khá nhiều vào các hệ sinh thái có sẵn trong tự nhiên. Nhưng biến đổi khí hậu đang làm mất đi nhiều khu rừng tự nhiên, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Điều này ảnh hưởng đến phụ nữ, trẻ em, vốn cuộc sống chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn trong tự nhiên. Hơn nữa, phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, thường phải gánh vác nhiều công việc nặng nhọc, đóng vai trò người chủ gia đình và lao động chính ở những nơi khí hậu khắc nghiệt, tài nguyên khan hiếm, các vùng bị nhiều thiên tai, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, khiến họ bị giảm cơ hội được giải phóng và bình đẳng. 

Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm giảm chất lượng nước và trữ lượng nước sạch, nguy cơ gia tăng các bệnh truyền nhiễm và đây chính là các yếu tố đe dọa sức khỏe sinh sản, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc bà mẹ và trẻ em. 

Do vậy, để thực hiện Chiến lược quốc gia chống BĐKH, Việt Nam đặt nhiệm vụ đẩy mạnh hợp tác quốc tế bảo đảm quyền con người trong BĐKH. Những năm qua, Việt Nam đã “chủ động, tích cực tham gia” hợp tác quốc tế trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu tại nhiều thể chế đa phương, quốc tế, khu vực. Tiêu biểu, mới đây nhất, tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 53 của Hội đồng nhân quyền LHQ, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines soạn thảo, đề xuất và thành công thông qua Nghị quyết về biến đổi khí hậu (BĐKH) và quyền con người, trong đó nêu bật ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH đối với sinh kế và quyền con người, nhấn mạnh yêu cầu hợp tác quốc tế để khắc phục những ảnh hưởng này. Đây là Nghị quyết được Việt Nam, Bangladesh và Philippines giới thiệu hằng năm kể từ năm 2014, để Hội đồng Nhân quyền xem xét, thông qua với trọng tâm mỗi năm tập trung vào từng chủ đề cụ thể (như quyền trẻ em, quyền sức khỏe, quyền của người di cư, quyền phụ nữ… trong bối cảnh biến đổi khí hậu). Thành công đáng ghi nhận này không chỉ thể hiện trách nhiệm, mà còn phản ánh uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam tại Diễn đàn Nhân quyền LHQ

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2023

Nhận diện tác động của biến đổi khí hậu đến bình đẳng giới và vận động hợp tác quốc tế các diễn đàn nhân quyền

 

Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 53 của Hội đồng nhân quyền LHQ, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines soạn thảo, đề xuất và thành công thông qua Nghị quyết về biến đổi khí hậu (BĐKH) và quyền con người, trong đó nêu bật ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH đối với sinh kế và quyền con người, nhấn mạnh yêu cầu hợp tác quốc tế để khắc phục những ảnh hưởng này. Đây là Nghị quyết được Việt Nam, Bangladesh và Philippines giới thiệu hằng năm kể từ năm 2014, để Hội đồng Nhân quyền xem xét, thông qua với trọng tâm mỗi năm tập trung vào từng chủ đề cụ thể (như quyền trẻ em, quyền sức khỏe, quyền của người di cư, quyền phụ nữ… trong bối cảnh biến đổi khí hậu).



Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu. IPCC cho rằng, khi mực nước biển dâng lên 100cm, diện tích đất bị mất đi của Việt Nam sẽ lên tới 40.000km2, chiếm 12,1% tổng diện tích đất hiện có, kéo theo hệ quả khiến khoảng 17,1 triệu người sẽ mất đi nơi sinh sống. Biến đổi khí hậu là nhân tố chính gây ra bão, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở, chiếm 87 - 91% số lượng thiên tai, ảnh hưởng đến 70% dân số, gây thiệt hại khoảng 1 - 1,5% GDP, đe dọa nghiêm trọng tới việc thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong giai đoạn 2011 - 2020, khí hậu cực đoan đã gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế với tổng thiệt hại lên tới khoảng 10 tỷ USD.

Liên quan đến quyền con người, một trong số tác động của BĐKH là ảnh hưởng nghiêm trọng đến bình đẳng giới.

Cả nam và nữ giới đều chịu tác động bất lợi của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, xét về năng lực ứng phó theo giới, nữ giới là nhóm có xu hướng dễ bị tổn thương, chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu và các rủi ro thiên tai hơn do các yếu tố về sức khỏe, khả năng tiếp cận thông tin, hạn chế trong tham gia vào quá trình ra quyết định tại cộng đồng. Hiểm họa tác động lên phụ nữ và nam giới không đồng đều như nhau do họ các đặc điểm và mối quan hệ kinh tế, văn hóa và xã hội khác nhau. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ thường bị ảnh hưởng nặng nề hơn từ các loại hiểm họa so với nam giới. Những tác động khác nhau đó không hoàn toàn do sự khác biệt của phụ nữ và nam giới về sinh học, thể chất hay mức độ tiếp xúc với hiểm họa mà còn do tình trạng dễ bị tổn thương mang tính xã hội bắt nguồn từ các vai trò xã hội khác nhau cũng như các mô hình phân biệt giới hiện tại. Trong mỗi vùng, nhóm người nghèo, dân tộc thiểu số, những người có thu nhập phụ thuộc vào khí hậu, người già, phụ nữ, trẻ em, người bị bệnh tật được xác định là nhóm có mức tổn thương cao nhất do BĐKH. Nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số có mức độ tổn thương cao trước tác động bất lợi của BĐKH do họ bị hạn chế hơn về khả năng tiếp cận giáo dục và ít có cơ hội tham gia các công việc phi nông nghiệp. 

Phụ nữ chiếm 50,7% tổng dân số Việt Nam, trong đó tỷ lệ phụ nữ ở thành thị và nông thôn lần lượt là 34,5% và 65,5%. Lao động nữ trong ngành nông nghiệp chiếm 63%, nhiều hơn so với nam giới (57%). Ở nông thôn, đa phần phụ nữ gắn bó với hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và công việc sau thu hoạch. Do đó khả năng bị tổn thương của lao động nữ cũng cao hơn nam giới khi ngành nông nghiệp là một trong những ngành chịu tác động bất lợi nhất của BĐKH.S ự phân công lao động theo giới trong từng lĩnh vực và trách nhiệm mà phụ nữ phải đảm nhận thêm do các chuẩn mực giới thường hạn chế sự tham gia tích cực của họ vào việc ra quyết định trong và ngoài phạm vi hộ gia đình. Phụ nữ ở các vùng nông thôn được Chính phủ tạo điều kiện tiếp cận tín dụng ưu đãi nhưng hiện không có thông tin nêu bật mối liên hệ của chương trình này với tính dễ bị tổn thương do BĐKH hoặc mức độ chịu rủi ro khí hậu của phụ nữ. Ở nông thôn, phụ nữ cần tiếp cận với công nghệ mới và đa dạng hóa sinh kế để chủ động ứng phó những tác động của BĐKH.

Báo cáo mới đây của Bộ TN&NT cho thấy, hiện tượng thời tiết cực đoan gia tăng làm tăng tác động bất lợi đến đời sống kinh tế của gia đình, giảm thu nhập, tăng đói nghèo, gây khó khăn cho sinh kế của người dân góp phần gia tăng tỷ lệ di cư. Số lượng phụ nữ di cư khỏi nơi sinh sống từ khu vực nông thôn, miền núi ra các thành phố, đô thị, khu công nghiệp ngày càng tăng và cao hơn nhiều so với số lượng nam giới di cư. Trong bối cảnh di cư và xa gia đình, phụ nữ phải bươn chải, đối mặt với nhiều loại rủi ro, khó khăn, thách thức lớn hơn trong cuộc sống. Trong các nhóm lao động nữ, phụ nữ dân tộc thiểu số có mức độ rủi ro cao hơn trước BĐKH do khả năng tiếp cận với giáo dục hạn chế và không có khả năng rời khỏi cộng đồng, thiếu quyền ra quyết định và trình độ học vấn thường thấp hơn nam giới.

Trong thiên tai và BĐKH, nếu xác định được nguyên nhân dẫn tới tình trạng dễ bị tổn thương của phụ nữ và nam giới thì việc tìm ra các biện pháp giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương của từng giới sẽ giúp cho họ giảm nhẹ hoặc phòng tránh được những rủi ro của thiên tai. Trong Chiến lược quốc gia về BĐKH giai đoạn đến năm 2050 có nhiều nhóm nhiệm vụ và giải pháp quan trọng. Trong đó có việc thực hiện tăng cường các giải pháp cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn, miền núi, ven biển đặc biệt là những vùng chịu tác động của bão, lũ, hạn hán, xâm nhập mặn. Phát triển mạng lưới y tế, chăm sóc sức khỏe, đáp ứng yêu cầu về phòng chống dịch bệnh và các bệnh mới phát sinh do BĐKH. Bảo đảm điều kiện vệ sinh môi trường; đầu tư phát triển công nghệ, trang thiết bị trong dự phòng và điều trị các bệnh gia tăng do BĐKH. Xây dựng và nhân rộng các mô hình của ngành y tế và sức khỏe cộng đồng nhằm nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng, thích ứng với BĐKH. Từ nay đến năm 2030, tập trung tăng cường hệ thống cơ sở hạ tầng cấp nước và năng lực cung cấp nước sạch cho dân cư; phát triển mạng lưới y tế, chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, ưu tiên các đối tượng dễ bị tổn thương, các vùng dân tộc ít người; tăng cường hệ thống giám sát và cảnh báo sớm các tác động của BĐKH đến sức khỏe. Bảo đảm an sinh xã hội và bình đẳng giới: Phát triển các mô hình sinh kế bền vững, chú trọng đào tạo, chuyển đổi nghề và hỗ trợ công nghệ, tiếp cận các nguồn vốn cho người dân ở những vùng chịu nhiều rủi ro, dễ bị tổn thương trước tác động của BĐKH. Nâng cao nhận thức, kiến thức, năng lực quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH cho cán bộ, hội viên phụ nữ, thanh thiếu niên, người dân, đặc biệt ở vùng có nguy cơ cao về thiên tai. Từ nay đến năm 2030, tăng cường vai trò, năng lực và sự tham gia của phụ nữ và thanh thiếu niên trong hoạt động thích ứng với BĐKH và quản lý rủi ro thiên tai; đẩy mạnh các phong trào, hoạt động nâng cao nhận thức, kiến thức cho thanh thiếu niên về BĐKH và các giải pháp trong phòng chống thiên tai, thích ứng với BĐKH.

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời thể chế hóa, ban hành một số luật, văn bản quan trọng để thúc đẩy, ứng phó với biến đổi khí hậu và nhất quán đẩy mạnh thực hiện chủ trương từ “tham gia” thành “chủ động, tích cực tham gia” hợp tác quốc tế trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu tại nhiều thể chế đa phương, quốc tế, khu vực. Không chỉ tham gia với tư cách quốc gia thành viên, mà Việt Nam còn chủ động đề xuất nhiều sáng kiến, cơ chế, phương thức hợp tác hiệu quả, góp phần quan trọng thu hút nguồn lực bên ngoài trong ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao hình ảnh và vị thế đất nước, nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Trong hợp tác đa phương, Việt Nam đã: 1- Ký kết và sớm phê chuẩn nhiều thỏa thuận lớn về biến đổi khí hậu, như Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992, Nghị định thư Ky-ô-tô năm 1998, Thỏa thuận Pa-ri năm 2016...; 2- Tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế lớn về biến đổi khí hậu, như Diễn đàn biến đổi khí hậu Á - Âu năm 2011 hay phiên Đối thoại cấp cao “Việt Nam chung tay cùng các đối tác quốc tế ứng phó với các thách thức của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long” năm 2015...; 3- Đóng góp tích cực thúc đẩy các sáng kiến trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP). Tại các Hội nghị COP lần thứ 26 và 27, Việt Nam đã cam kết đưa mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong hợp tác song phương, Việt Nam chủ động, tích cực đẩy mạnh hợp tác, đối thoại với các quốc gia phát triển, nhận được nguồn vốn hỗ trợ lớn thông qua các tổ chức quốc tế, như Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Thế giới (WB),... Báo cáo về đầu tư và chi tiêu công cho biến đổi khí hậu tại Việt Nam năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2010 - 2019, Việt Nam đã nhận được khoảng 600 dự án quốc tế hỗ trợ ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu có tổng số vốn ước tính đạt 18,5 tỷ USD. Trong đó, tổng số nguồn vốn viện trợ không hoàn lại đạt khoảng 1,1 tỷ USD, còn lại là vay ưu đãi. Tháng 12-2022, Việt Nam đã nhận được cam kết hỗ trợ 15,5 tỷ USD từ Anh, Mỹ, các nước EU hỗ trợ chuyển đổi năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo, giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Nhìn nhận tác động, hiểm họa này, xuất phát từ chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lý, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã và đang nỗ lực tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa quan hệ với các đối tác nhằm huy động nguồn viện trợ, hỗ trợ tài chính ưu đãi, và chủ động hợp tác với các nước, nhất là các nước phát triển, như Mỹ, Pháp, Đức, EU,... vừa góp phần tranh thủ sự quan tâm của các nước trong nỗ lực thúc đẩy ứng phó với biến đổi khí hậu trên toàn cầu, vừa huy động được nguồn vốn viện trợ ưu đãi, bảo đảm nguồn lực tài chính đầu tư, giảm áp lực vốn khi nguồn lực của đất nước còn hạn chế.

Việc trở thành Thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tranh thủ diễn đàn này lan tỏa tiếng nói tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế chống BĐKH nhằm bảo đảm quyền con người, đặc biệt liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, phụ nữ, trẻ em, người DTTS.

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2023

Không thể lợi dụng vụ Việt Á để phủ nhận chủ trương, chính sách nhân đạo trong đại dịch!


 Khi đại dịch COVID-19 bùng phát mạnh, thực hiện chính sách, chủ trương nhân đạo của Đảng, Nhà nước, các cơ quan nhà nước đã tổ chức trên 1.000 chuyến bay đưa hơn 200.000 công dân từ 62 vùng lãnh thổ về nước. Tuy nhiên, chủ trương tốt đẹp đã bị một số cán bộ biến chất gây hoen ố, làm mất uy tín với nhân dân và bạn bè quốc tế.

Hành vi phạm tội của 54 bị cáo trong vụ án là đặc biệt nguy hiểm. Các bị cáo phạm tội với số tiền đặc biệt lớn, trong thời điểm dịch COVID-19 bùng phát, bị dư luận xã hội lên án gay gắt nên việc đưa vụ án ra xét xử thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước một vụ việc gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cũng như gây mất niềm tin của nhân dân. Trong đó, bị cáo Phạm Trung Kiên (42 tuổi, cựu thư ký Thứ trưởng Y tế), đang bị đề nghị mức án tử hình về tội Nhận hối lộ. Bị cáo Kiên được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là thư ký, trực tiếp giúp việc cho Thứ trưởng. Khi có chủ trương đưa công dân hồi hương trong đại dịch, Kiên đã lợi dụng việc trình Thứ trưởng Y tế ký văn bản trả lời Bộ Ngoại giao về việc cấp phép chuyến bay, gây khó khăn cho đại diện các doanh nghiệp.

Khi họ xin tổ chức chuyến bay đưa công nhân, người lao động về nước, Kiên yêu cầu phải chi cho anh ta để được Bộ Y tế đồng ý xét duyệt các chuyến bay. Một số bị cáo là đại diện doanh nghiệp khai do bị Kiên o ép và quát tháo, họ đành chi phí tiền cho Kiên. “Bị cáo nhận hối lộ số lần nhiều nhất, với tổng số tiền nhiều nhất và thủ đoạn cũng trắng trợn nhất trong các bị cáo, với 253 lần nhận hối lộ tổng số tiền hơn 42,6 tỷ đồng”, Viện Kiểm sát nêu khi luận tội các bị cáo. Cũng theo VKS, trong 54 bị cáo thì Phạm Trung Kiên, Tô Anh Dũng và Vũ Hồng Nam (hai cựu thứ trưởng Bộ Ngoại giao) và 18 bị cáo khác bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần trở lên, lợi dụng hoàn cảnh dịch bệnh để phạm tội. Người bị đề nghị mức án cao thứ hai (sau Phạm Trung Kiên) là Vũ Anh Tuấn (cựu cán bộ Cục Quản lý xuất nhập cảnh) với 19-20 năm tù. Theo VKS, ông Tuấn nhận hối lộ hơn 27,3 tỷ đồng, hưởng lợi 22,8 tỷ đồng. Qua đó, bị cáo chiếm hưởng 19,6 tỷ đồng và nộp khắc phục 20 tỷ đồng, được VKS ghi nhận là đã khắc phục toàn bộ hậu quả để làm căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo Nguyễn Thị Hương Lan (cựu Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao) cũng bị VKS truy tố ở mức 20 năm tù, chung thân hoặc tử hình do bà Lan nhận hối lộ trên 25 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi luận tội, VKS đề nghị phạt nữ bị cáo này mức án 18-19 năm tù (dưới khung truy tố)… Tổng kết lại, một án tử hình, trên 350 năm tù được đề nghị chia lần lượt cho 53 bị cáo còn lại là mức đề nghị nghiêm khắc của VKS TP Hà Nội khi công bố bản luận tội. Phiên tòa còn tiếp tục trong nhiều ngày tới trước khi chính thức đưa ra bản án với các bị cáo, những người phải chịu sự trừng phạt của pháp luật với các tội danh khác nhau liên quan đến đại án “chuyến bay giải cứu”.

Phiên tòa xét xử đại án “Chuyến bay giải cứu” sau chưa đầy một tuần diễn ra với các phiên xét hỏi, bào chữa, tranh luận… đã cho thấy khối lượng thông tin đồ sộ, sự móc ngoặc chia lợi ích của “nhóm lợi ích” và cả đường dây chạy án triệu USD trong chính lực lượng công an.

Những lời khai của các bị cáo trong phiên xét xử khiến nhiều người ngậm ngùi, đằng sau chính sách nhân đạo vì dân của Nhà nước lại có một bộ phận những người đương chức trục lợi. Có những lời cảm thán tại phiên xét xử được thốt lên, người Việt Nam mình sang nước ngoài chủ yếu là lao động, chủ yếu là du học sinh thì thu nhập không thể bằng nước sở tại được. Nước sở tại khi dịch bùng ra đương nhiên họ ưu tiên công dân của họ, còn công dân của mình thì làm sao có tiền để chi phí theo như mức thu nhập ở nước đó. Đó là lý do tại sao Nhà nước có những chuyến bay như vậy. Nhưng, cái khó, cái khổ vẫn đổ lên đầu đồng bào khi phải cõng trên lưng cả lợi nhuận doanh nghiệp, phí hối lộ quan chức.

Sự nghiêm minh cũng như tính nhân văn của luật pháp Việt Nam thể hiện rõ trong phiên tòa xét xử vụ đại án “chuyến bay giải cứu”. Những thông tin minh bạch, trực tiếp và đa chiều của nó cũng là một cách để xóa đi các luận điệu rác rưởi kiểu như kẻ cuồng ngôn Thái Hạo nêu ra trong bài viết “Đây là câu chuyện thể chế” tung trên mạng xã hội.

Tay này láo xược khi đưa ra những luận điểm với cái nhìn đầy cực đoan: “một là bộ máy nhà nước có quá nhiều kẻ “biến chất”, bên cạnh những kẻ trực tiếp ra tay là những kẻ im lặng quay lưng ngoảnh mặt. Nghĩa là đều xấu xa. Nhưng dù thế nào, nếu một bộ máy mà đa phần là kẻ xấu thì không cách gì để có thể nói rằng bộ máy ấy là tốt đẹp được. Hai là bản thân bộ máy ấy hỏng. Vì hỏng nên làm hư con người, hoặc không thể ngăn chặn sự sa đọa của con người” hoặc “Không thẳng thắn nhìn nhận gốc rễ của vấn đề mà chỉ loanh quanh đổ lỗi cho cá nhân thì việc chống tham nhũng và tội phạm nhà nước nói chung vẫn chỉ là đập ruồi trên bãi rác. Khi nào còn nói “cán bộ biến chất” mà không trung thực thừa nhận “bộ máy hư hỏng” thì khi đó những phiên tòa như đang diễn ra chỉ an ủi được những tâm hồn nông nổi, và quốc nạn tham nhũng thì vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt.”.

Lạ kỳ thay những kẻ như Thái Hạo, tất tần tật, bất cứ điều gì không như ý hoặc sự cố nào đó xảy ra đều đổ lỗi hết cho thể chế, và không bao giờ đưa ra được biện pháp, đóng góp nào tích cực cho xã hội. Theo nhận xét của các chuyên gia tâm lý, đó là biểu hiện của những người đi thụt lùi, không có tinh thần xây dựng, luôn tư duy và suy nghĩ với quan điểm méo mó và cái đầu cực đoan đầy thiên kiến.

Một phiên tòa minh bạch, công khai thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật mà hắn còn xiên xẹo, bẻ lái được. Thật thương hại cho cái tư duy hèn mạt của Thái Hạo. Một kẻ chống đối luôn hậm hực với chính quyền và sẵn sàng đổ lỗi một cách vôi lối với tất cả những gì mà ông ta không thích…

 


Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2023

Việt Nam phát huy chính sách đối ngoại trong bảo đảm quyền con người trong biến đổi khí hậu!

 

Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 53 của Hội đồng nhân quyền LHQ, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines một lần nữa soạn thảo, đề xuất và thành công thông qua Nghị quyết về biến đổi khí hậu (BĐKH) và quyền con người, trong đó nêu bật ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH đối với sinh kế và quyền con người, nhấn mạnh yêu cầu hợp tác quốc tế để khắc phục những ảnh hưởng này. Đây là Nghị quyết được Việt Nam, Bangladesh và Philippines giới thiệu hằng năm kể từ năm 2014, để Hội đồng Nhân quyền xem xét, thông qua với trọng tâm mỗi năm tập trung vào từng chủ đề cụ thể (như quyền trẻ em, quyền sức khỏe, quyền của người di cư, quyền phụ nữ… trong bối cảnh biến đổi khí hậu).



Trước thực trạng BĐKH đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn, nghiêm trọng hơn, trở thành một trong những vấn đề cấp bách toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đều coi trọng hội nhập, hợp tác quốc tế trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu. Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã xây dựng và luôn thực hiện nhất quán chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chủ động, tích cực hợp tác quốc tế trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu, đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đưa đất nước phát triển bền vững nói chung, đảo đảm quyền con người nói riêng.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất với biến đổi khí hậu. IPCC cho rằng, khi mực nước biển dâng lên 100cm, diện tích đất bị mất đi của Việt Nam sẽ lên tới 40.000km2, chiếm 12,1% tổng diện tích đất hiện có, kéo theo hệ quả khiến khoảng 17,1 triệu người sẽ mất đi nơi sinh sống. Biến đổi khí hậu là nhân tố chính gây ra bão, lũ, ngập lụt, lũ quét, sạt lở, chiếm 87 - 91% số lượng thiên tai, ảnh hưởng đến 70% dân số, gây thiệt hại khoảng 1 - 1,5% GDP, đe dọa nghiêm trọng tới việc thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam. Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong giai đoạn 2011 - 2020, khí hậu cực đoan đã gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế với tổng thiệt hại lên tới khoảng 10 tỷ USD.

Trước tác động to lớn của biến đổi khí hậu, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng vấn đề này, luôn nhất quán chủ trương chủ động, tích cực hợp tác quốc tế về biến đổi khí hậu. Đại hội VI (năm 1986) của Đảng cho rằng, tất cả các dân tộc và cộng đồng nhân loại cần có sự phối hợp với nhau để giải quyết những vấn đề toàn cầu, trong đó có bảo vệ môi trường. Kể từ đó, nhận thức của Đảng về tầm quan trọng đặc biệt của ứng phó, khắc phục các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu được nâng cao, trong đó ưu tiên tăng cường hợp tác quốc tế. Đại hội VII (năm 1991) của Đảng đề ra chủ trương: “Nhà nước dành một phần quỹ dự phòng của ngân sách để chủ động cứu giúp những người gặp tai nạn do thiên tai”. Đại hội VIII (năm 1996) của Đảng đưa ra quan điểm cần phải có sự hợp tác đa phương trong giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu, trong đó có bảo vệ môi trường(6). Đại hội IX (năm 2001) của Đảng lần đầu tiên sử dụng cụm từ “biến đổi khí hậu”, nhấn mạnh chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai, của sự biến động khí hậu bất lợi. Đại hội X (năm 2006) của Đảng nhận định, tình trạng môi trường tự nhiên bị hủy hoại, khí hậu diễn biến ngày càng xấu, là vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết. Đại hội XI (năm 2011) của Đảng chứng kiến sự phát triển nhận thức ngày càng đầy đủ về vấn đề biến đổi khí hậu, nhận định biến đổi khí hậu có tính cấp bách liên quan đến vận mệnh loài người, sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp và chủ trương “Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu”, “tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế”. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (năm 2013) của Đảng đã ban hành một nghị quyết riêng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, khẳng định sự coi trọng đặc biệt tới vấn đề biến đổi khí hậu, nhấn mạnh sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu, thể hiện trách nhiệm quốc tế, đóng góp tích cực vào các nỗ lực chung toàn cầu.

Đại hội XII (năm 2016) của Đảng đánh giá “Hợp tác quốc tế về quản lý tài nguyên, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai được đẩy mạnh”, đề ra nhiệm vụ “thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu” và lần đầu tiên đề ra chủ trương “chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, tránh thiên tai, giảm mức phát thải khí nhà kính”. Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng nhấn mạnh “thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới” và chủ trương “Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế trong việc chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu, quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên, bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu... Thực hiện các cam kết quốc tế, góp phần cùng cộng đồng quốc tế thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ sinh thái toàn cầu”.

Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời thể chế hóa, ban hành một số luật, văn bản quan trọng để thúc đẩy, ứng phó với biến đổi khí hậu và nhất quán đẩy mạnh thực hiện chủ trương từ “tham gia” thành “chủ động, tích cực tham gia” hợp tác quốc tế trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu tại nhiều thể chế đa phương, quốc tế, khu vực. Không chỉ tham gia với tư cách quốc gia thành viên, mà Việt Nam còn chủ động đề xuất nhiều sáng kiến, cơ chế, phương thức hợp tác hiệu quả, góp phần quan trọng thu hút nguồn lực bên ngoài trong ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cao hình ảnh và vị thế đất nước, nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Trong hợp tác đa phương, Việt Nam đã: 1- Ký kết và sớm phê chuẩn nhiều thỏa thuận lớn về biến đổi khí hậu, như Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) năm 1992, Nghị định thư Ky-ô-tô năm 1998, Thỏa thuận Pa-ri năm 2016...; 2- Tổ chức thành công nhiều sự kiện quốc tế lớn về biến đổi khí hậu, như Diễn đàn biến đổi khí hậu Á - Âu năm 2011 hay phiên Đối thoại cấp cao “Việt Nam chung tay cùng các đối tác quốc tế ứng phó với các thách thức của biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long” năm 2015...; 3- Đóng góp tích cực thúc đẩy các sáng kiến trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP). Tại các Hội nghị COP lần thứ 26 và 27, Việt Nam đã cam kết đưa mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong hợp tác song phương, Việt Nam chủ động, tích cực đẩy mạnh hợp tác, đối thoại với các quốc gia phát triển, nhận được nguồn vốn hỗ trợ lớn thông qua các tổ chức quốc tế, như Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Ngân hàng Thế giới (WB),... Báo cáo về đầu tư và chi tiêu công cho biến đổi khí hậu tại Việt Nam năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, trong giai đoạn từ năm 2010 - 2019, Việt Nam đã nhận được khoảng 600 dự án quốc tế hỗ trợ ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu có tổng số vốn ước tính đạt 18,5 tỷ USD. Trong đó, tổng số nguồn vốn viện trợ không hoàn lại đạt khoảng 1,1 tỷ USD, còn lại là vay ưu đãi. Tháng 12-2022, Việt Nam đã nhận được cam kết hỗ trợ 15,5 tỷ USD từ Anh, Mỹ, các nước EU hỗ trợ chuyển đổi năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo, giảm phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Thời gian tới, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở Việt Nam được dự báo sẽ diễn ra ngày càng nhanh, phức tạp, tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, bên cạnh phát huy kinh nghiệm hợp tác trong những mặt đã đạt được, việc nhận định và giải quyết thách thức đặt ra đối với hợp tác quốc tế trong ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu đóng vai trò hết sức quan trọng.

 Như  vậy, xuất phát từ chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lý, cả hệ thống chính trị của Việt Nam đã và đang nỗ lực tăng cường hợp tác quốc tế, đa dạng hóa quan hệ với các đối tác nhằm huy động nguồn viện trợ, hỗ trợ tài chính ưu đãi, và chủ động hợp tác với các nước, nhất là các nước phát triển, như Mỹ, Pháp, Đức, EU,... vừa góp phần tranh thủ sự quan tâm của các nước trong nỗ lực thúc đẩy ứng phó với biến đổi khí hậu trên toàn cầu, vừa huy động được nguồn vốn viện trợ ưu đãi, bảo đảm nguồn lực tài chính đầu tư, giảm áp lực vốn khi nguồn lực của đất nước còn hạn chế.

Việc trở thành Thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tranh thủ diễn đàn này lan tỏa tiếng nói tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác quốc tế chống BĐKH nhằm bảo đảm quyền con người, hỗ trợ, hiện thực hóa lộ trình chính sách của Đảng, Nhà nước trong vấn đề này.

Thứ Ba, 11 tháng 7, 2023

Không thể phán xét vấn đề tôn giáo Việt Nam bằng “định kiến”

 


 

 Do tư tưởng định kiến với Việt Nam, các thế lực phản động, thù địch ở trong nước và ngoài nước, trong đó có Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) luôn luôn xuyên tạc trắng trợn về tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF vẫn thường xuyên sử dụng thông tin, tài liệu cũ, không chính xác từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được nhà nước công nhận cùng số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để đưa vào các báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu, phê phán việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam và khuyến nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần theo dõi đặc biệt về tự do tôn giáo. Họ tự cho mình quyền được khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo”(!). Họ cho rằng “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”(!). Họ lợi dụng triệt để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”(!). Họ dựa vào việc các tổ chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long An),… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”, v.v.



 

Thứ nhất, luật pháp về tôn giáo Việt Nam tương thích, phù hợp luật pháp quốc tế về tín ngưỡng, tôn giáo.

 

Hiến pháp Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không đưa ra giới hạn nào về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà chỉ nghiêm cấm “xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cụ thể hóa nội dung này, Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm: “(1). Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; (2). Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; (4). Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo mà: (a). Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; (b). Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; (c). Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; (d). Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; (5). Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi”. Những quy định trên hoàn toàn tương thích với các văn bản quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Trong luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của các quốc gia, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tự do tuyệt đối, tự do vô chính phủ.

 

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng và không ảnh hưởng đến quyền tự do của người khác và đặc biệt không được ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng, môi trường, đạo đức xã hội. Chính vì vậy, để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và ổn định, phát triển xã hội, Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc (năm 1966) đã nhấn mạnh: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định pháp luật và các giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”1. Điều 9, Công ước châu Âu về bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cũng khẳng định: “Quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng của một người chỉ bị luật pháp giới hạn nếu điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, phục vụ an ninh công cộng, bảo vệ trật tự trị an, sức khỏe, chuẩn mực đạo đức chung hoặc các quyền và sự tự do của người khác”2. Luật Phân ly 1905 của nước Pháp cũng quy định: “Cộng hòa Pháp bảo đảm tự do tín ngưỡng. Nó bảo đảm quyền tự do hành đạo với những hạn chế vì quyền lợi duy trì trật tự công cộng”3. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là phải có giới hạn, quyền ấy sẽ bị hạn chế vì an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội, môi trường, chứ không như những đòi hỏi vô lý của các thế lực phản động, thù địch, không thân thiện với chế độ chính trị ở Việt Nam.

 

Thứ hai, lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật thì ở nước nào đều bị xử lý.

 

 Hẳn chúng ta còn nhớ, năm 2012, cảnh sát Mỹ đã bắt giữ 07 thành viên nhóm Hutaree (Hu-ta-ri) tự xưng là “chiến binh Thiên chúa giáo” vì có âm mưu chống lại chính quyền; còn tháng 7/2018, Tòa án Tối cao Nhật Bản đã thi hành án tử hình đối với 06 thành viên giáo phái “Ngày tận thế” (Aum Shinrikyo) cùng thủ lĩnh là Giáo chủ Shoko Asahara do gây ra vụ tấn công bằng chất độc sarin năm 1995 nhằm vào hệ thống tàu điện ngầm Tokyo và các tội ác khác. Điều đó cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, ai lợi dụng quyền tự do tôn giáo để vi phạm pháp luật thì cũng đều bị trừng trị; ở Việt Nam không có “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân lương tâm” như các thế lực phản động, thù địch rêu rao, mà chỉ có những người lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật mới bị xử lý.

 

Thứ ba, hiện thực là minh chứng phản bác rõ ràng nhất.

 

 Những năm qua, ở Việt Nam, nhờ có chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo ngày càng được hoàn thiện và được thực hiện nhất quán trong thực tiễn, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức thuộc 06 tôn giáo với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc, thì năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo đã thu hút hàng vạn tín đồ nhân dân tham dự, nổi bật như: tháng 12/2017, Giáo hội Tin lành tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành; tháng 7/2019, Giáo hội Công giáo tổ chức Tổng hội Dòng Đa Minh thế giới tại Đồng Nai, với đại biểu của hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công 03 Đại lễ Phật đản Vesak Liên hợp quốc (năm 2008, 2014, 2019), riêng năm 2019 tổ chức tại chùa Tam Chúc (tỉnh Hà Nam) đã thu hút sự tham dự của trên 3.000 đại biểu chính thức (trong đó có 570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ). Với quy mô hoạt động tôn giáo hàng vạn người, chính quyền các cấp đã hỗ trợ các tôn giáo về các phương án đảm bảo an toàn giao thông, an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ, an toàn vệ sinh thực phẩm để nhân dân được tự do hành lễ, thoả mãn nhu cầu đời sống tâm linh, v.v.

Công tác đào tạo chức sắc được các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh. Trước năm 1990, cả nước có 06 cơ sở đào tạo tôn giáo, đến năm 2021 đã tăng lên thành 63 cơ sở đào tạo, mỗi năm có hàng nghìn người tốt nghiệp; ngoài ra, còn có hàng trăm người đang du học tại nước ngoài. Nhờ vậy, số chức sắc, nhà tu hành tăng rất nhanh, cơ bản đáp ứng được nhu cầu hướng dẫn việc đạo cho tín đồ. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hằng năm,... của các tôn giáo cũng được thực hiện thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật.

Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Theo báo cáo quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ III (năm 2019), cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ (trong đó có nhiều kinh sách được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, như Ba-na, Ê-đê, Gia-rai), 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Công tác xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự của các tôn giáo cũng được quan tâm đẩy mạnh trong những năm qua. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hoạt động của các tổ chức tôn giáo, chính quyền các địa phương đã quan tâm giải quyết, cấp đất cho các tổ chức tôn giáo. Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Vũ Chiến Thắng, trong 10 năm (2012 - 2022) thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm héc ta đất để xây dựng cơ sở thờ tự, như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500 m2 đất cho Tổng Liên hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện thành kinh thần học; tỉnh Đắk Lắk giao hơn 11.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột; Thành phố Đà Nẵng giao hơn 9.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng; tỉnh Quảng Trị giao thêm 15 héc ta cho Giáo xứ La Vang, v.v.

 

Những thành tựu đó không chỉ nhân dân trong nước, trong đó có tín đồ các tôn giáo ghi nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Việc Việt Nam lần thứ hai trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025 với số phiếu ủng hộ của 145/189 nước đã một lần nữa khẳng định quyền con người nói chung, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ở Việt Nam nói riêng được bảo đảm tốt, không thể phủ nhận.

 

Do vậy, những nhận định thiếu khách quan, không đúng với thực tế tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam sẽ không bao giờ có giá trị, mà chỉ làm tổn hại cho quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Mỹ, cần phải được vạch trần, phê phán, bác bỏ.