Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Đòi “quyền tự quyết dân tộc” ở Tây Nguyên: Chiêu bài nguy hiểm đe dọa toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam

 


Trong nhiều năm qua, vấn đề dân tộc, tôn giáo và quyền con người luôn bị một số tổ chức, cá nhân cực đoan lưu vong lợi dụng như một công cụ chính trị nhằm chống phá Việt Nam. Gần đây, dưới chiêu bài “bảo vệ quyền người bản địa”, nhiều tổ chức như BPSOS, KKF, MSFJ cùng tàn dư FULRO liên tục phát tán các báo cáo, tài liệu và chiến dịch truyền thông xuyên tạc tình hình dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, đặc biệt xoáy vào yêu sách gọi là “quyền tự quyết dân tộc”. Đằng sau lớp vỏ ngôn từ mang màu sắc “nhân quyền”, “bảo vệ người bản địa”, thực chất là âm mưu thúc đẩy tư tưởng ly khai, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tác động vào nhận thức quốc tế nhằm gây sức ép chính trị đối với Việt Nam.

Điều đáng chú ý là các luận điệu này không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mà chủ yếu được nhào nặn bởi các tổ chức lưu vong, số đối tượng chống đối cực đoan ở nước ngoài và một số tổ chức phi chính phủ mang động cơ chính trị. Chúng cố tình đánh tráo khái niệm giữa quyền của người dân tộc thiểu số với cái gọi là “quyền của người bản địa”, rồi từ đó suy diễn thành “quyền tự quyết”, “quyền lập quốc gia riêng”, nhằm từng bước quốc tế hóa vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên.

Theo luật pháp quốc tế, quyền tự quyết dân tộc là nguyên tắc được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và các công ước quốc tế về quyền con người. Tuy nhiên, quyền này không đồng nghĩa với việc mọi nhóm sắc tộc đều có quyền ly khai, thành lập nhà nước riêng. Trong thực tiễn quốc tế hiện đại, nguyên tắc quyền tự quyết luôn phải đi kèm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Liên hợp quốc chưa bao giờ công nhận việc lợi dụng quyền tự quyết để kích động ly khai, chia cắt đất nước hay phá hoại ổn định chính trị của các quốc gia có chủ quyền.

Tại Việt Nam, các dân tộc anh em cùng sinh sống lâu đời trên lãnh thổ thống nhất, bình đẳng, đoàn kết và cùng phát triển. Không tồn tại khái niệm “thuộc địa nội địa”, càng không có chuyện một dân tộc áp bức dân tộc khác như luận điệu mà các tổ chức chống phá cố tình gán ghép. Việc một số tổ chức cố tình gọi đồng bào Tây Nguyên là “người bản địa bị áp bức” nhằm tạo tiền đề pháp lý giả tạo để thúc đẩy yêu sách “tự trị”, “tự quyết”, thực chất là thủ đoạn đánh tráo bản chất quyền dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

Trong các tài liệu tuyên truyền, tàn dư FULRO thường xuyên nhắc lại “giấc mơ Nhà nước Đề Ga”, coi Tây Nguyên là “lãnh thổ riêng” của một số dân tộc thiểu số. Đây là luận điệu cực kỳ nguy hiểm và phản lịch sử. Tây Nguyên từ lâu là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, là không gian sinh tồn chung của nhiều cộng đồng dân cư khác nhau. Không có bất kỳ cơ sở lịch sử, pháp lý hay thực tiễn nào chứng minh sự tồn tại của một “quốc gia Đề Ga độc lập” như các đối tượng cực đoan rêu rao.

Sau khi FULRO tan rã, nhiều tổ chức biến tướng như MSFJ hay MFI tiếp tục kế thừa tư tưởng ly khai dưới lớp vỏ “bảo vệ người bản địa”, “đấu tranh nhân quyền”, “bảo vệ tự do tôn giáo”. Chúng sử dụng mạng xã hội, các diễn đàn quốc tế và một số tổ chức phi chính phủ để khuếch đại thông tin sai lệch về Tây Nguyên. Thủ đoạn quen thuộc là thu thập lời kể một chiều từ các đối tượng có tư tưởng chống đối, sau đó bóp méo thành “bằng chứng đàn áp”, rồi vận động một số cơ quan quốc tế gây sức ép với Việt Nam.

Nhiều báo cáo của các tổ chức này cố tình mô tả rằng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên “bị tước đất đai”, “bị xóa bỏ bản sắc”, “không được tiếp cận giáo dục và y tế”, “bị đàn áp tôn giáo”. Tuy nhiên, các thông tin này thường thiếu kiểm chứng, phiến diện và cố ý bỏ qua toàn bộ chính sách ưu tiên đặc biệt mà Nhà nước Việt Nam đang triển khai đối với vùng dân tộc thiểu số.

Thực tế cho thấy, Việt Nam là một trong số ít quốc gia dành nguồn lực rất lớn cho phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Theo Sách trắng về quyền con người ở Việt Nam, Nhà nước đã triển khai hàng trăm chính sách phát triển kinh tế – xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, với mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo đảm quyền bình đẳng và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.

Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn hiện nay có tổng vốn đầu tư lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng. Hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế, nước sạch được đầu tư sâu rộng đến các buôn làng vùng sâu, vùng xa. Tỷ lệ hộ nghèo ở nhiều địa phương Tây Nguyên giảm mạnh qua từng năm. Hàng triệu lượt đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ bảo hiểm y tế, giáo dục miễn giảm học phí, đào tạo nghề và hỗ trợ sinh kế.

Nếu như các tổ chức chống phá cố tình mô tả Tây Nguyên như một “vùng đất bị bỏ rơi”, thì thực tế hàng loạt tuyến đường, bệnh viện, trường học, hệ thống điện lưới quốc gia, hạ tầng viễn thông hiện đại đã phủ rộng khắp khu vực này. Nhiều địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số đã đạt chuẩn nông thôn mới, đời sống người dân không ngừng được cải thiện.

Một luận điệu khác thường được các tổ chức này sử dụng là cho rằng Việt Nam “đồng hóa văn hóa dân tộc thiểu số”. Đây cũng là sự xuyên tạc trắng trợn. Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách tôn trọng và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhiều lễ hội truyền thống, tiếng nói, chữ viết, nhạc cụ, trang phục và không gian văn hóa của đồng bào được phục dựng, bảo tồn và hỗ trợ phát triển. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên còn được quốc tế công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Các đối tượng chống phá cố tình bỏ qua thực tế rằng hàng nghìn nghệ nhân dân tộc thiểu số đang được hỗ trợ bảo tồn văn hóa truyền thống; nhiều trường phổ thông dân tộc nội trú được xây dựng; nhiều chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc được duy trì thường xuyên. Nếu có “đồng hóa”, thì không thể tồn tại sự đa dạng văn hóa phong phú như hiện nay ở Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, một số tổ chức còn lợi dụng vấn đề đất đai, tôn giáo và môi trường để kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ dân tộc. Chúng cố tình thổi phồng các vụ tranh chấp dân sự đơn lẻ rồi quy kết thành “đàn áp sắc tộc có hệ thống”. Mọi động thái xử lý vi phạm pháp luật của chính quyền đều bị chúng xuyên tạc thành “đàn áp người bản địa”.

Trong khi đó, các báo cáo này gần như im lặng trước thực trạng đáng báo động về quyền của người bản địa tại chính các quốc gia phương Tây. Ở Mỹ, cộng đồng người da đỏ bản địa vẫn phải đối mặt với nghèo đói, thất nghiệp, nghiện ma túy, bạo lực và tỷ lệ tự tử cao. Nhiều khu bảo tồn bản địa có điều kiện sống thiếu thốn kéo dài hàng chục năm. Các vụ việc liên quan đến bạo lực cảnh sát, phân biệt chủng tộc hay tình trạng phụ nữ bản địa mất tích vẫn là vấn đề nhức nhối.

Tại Canada, những phát hiện về hàng loạt ngôi mộ trẻ em bản địa trong các trường nội trú từng gây chấn động dư luận quốc tế, phản ánh lịch sử đau thương của chính sách đồng hóa cưỡng bức đối với người bản địa. Ở Australia, cộng đồng thổ dân vẫn thuộc nhóm có tuổi thọ thấp hơn, tỷ lệ nghèo đói và giam giữ cao hơn nhiều so với phần còn lại của xã hội.

Rõ ràng, trong khi các nước phương Tây còn chưa giải quyết được những vấn đề lịch sử và hiện tại liên quan đến quyền người bản địa, thì một số tổ chức lại cố tình sử dụng “tiêu chuẩn kép” để áp đặt, công kích Việt Nam. Đây là biểu hiện điển hình của động cơ chính trị núp bóng nhân quyền.

Không khó để nhận ra rằng mục tiêu sâu xa của các chiến dịch này không phải vì lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu thực sự quan tâm đến đời sống người dân, các tổ chức đó phải ghi nhận khách quan những thành tựu giảm nghèo, phát triển hạ tầng, bảo tồn văn hóa và nâng cao chất lượng sống ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam. Nhưng điều họ theo đuổi lại là tạo dựng hình ảnh méo mó về Việt Nam như một quốc gia “đàn áp sắc tộc”, từ đó kích động chia rẽ dân tộc, gây mất ổn định chính trị và từng bước quốc tế hóa vấn đề Tây Nguyên.

Các luận điệu này nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời có thể gây tác động tiêu cực đến hình ảnh, uy tín quốc tế của Việt Nam. Chúng tạo ra nhận thức sai lệch trong một bộ phận dư luận quốc tế, gây khó khăn cho hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế và thu hút đầu tư. Đồng thời, việc gieo rắc tư tưởng ly khai, cực đoan còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, thực tiễn khách quan là minh chứng rõ ràng nhất bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang ngày càng có điều kiện phát triển tốt hơn, được bảo đảm quyền tham gia quản lý xã hội, quyền tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa và các chính sách an sinh. Nhiều cán bộ là người dân tộc thiểu số giữ vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền các cấp. Tỷ lệ đại biểu dân tộc thiểu số trong Quốc hội Việt Nam luôn ở mức cao so với nhiều quốc gia đa sắc tộc khác.

Không thể phủ nhận rằng Việt Nam vẫn còn những khó khăn nhất định trong phát triển vùng sâu, vùng xa do điều kiện địa lý, lịch sử và trình độ phát triển kinh tế chưa đồng đều. Nhưng thay vì nhìn nhận khách quan và thiện chí, các tổ chức chống phá lại cố tình bóp méo mọi vấn đề nhằm phục vụ ý đồ chính trị.

Đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc về “quyền người bản địa” ở Việt Nam vì thế không chỉ là phản bác thông tin sai trái, mà còn là bảo vệ sự thật lịch sử, bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc và bảo vệ nền tảng pháp lý quốc tế về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động ly khai, chia rẽ đều đi ngược lại lợi ích của đồng bào dân tộc thiểu số cũng như lợi ích chung của đất nước Việt Nam thống nhất.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét