Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Bàn về Chính phủ Trần Trọng Kim



Từ nhiều năm nay, đám rận nội ngoại bu vào “thống nhất”, “bảo vệ” sống chết với nhau rằng, Chính phủ Trần Trọng Kim đã được Nhật trao trả độc lập, được thành lập hợp pháp, bị Chính phủ Hồ Chí Minh cướp…Từ đó, chúng phủ nhận giá trị của Ngày Quốc khánh 2/9, phủ nhận ngày lễ Độc lập, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. Thực hư về “Chính phủ Trần Trọng Kim” này thế nào, mời bạn đọc phán xét.
                                                     Trần Trọng Kim (1883-1953)


Nếu đánh giá về ông Trần Trọng Kim hầu hết người am hiểu lịch sử, người nghiên cứu tử tế sẽ cho rằng: “ông Trần Trọng Kim là 1 trí thức giỏi, có lòng với đất nước, vậy thôi. Chấm hết . Một người bình thường cũng không thể nghĩ chính phủ Trần Trọng Kim là 1 chính phủ. Đã không thể là 1 chính phủ thì không có chủ thể, để ai đó nói là trao trả độc lập được” hay “Ông Trần Trọng Kim là một học giả yêu nước, một chính trị gia "bất đắc dĩ". Ông được Bảo Đại và quân phát xít Nhận lựa chọn đứng ra thành lập chính phủ. Tất nhiên, chính phủ của ông có làm được một vài điều có ích nhưng về toàn cục, chính phủ này vẫn là bù nhìn của Nhật. Một chính phủ quốc gia mà lại không có quân đội, không có tài chính độc lập. Hàng tháng quan chức lĩnh lương của Nhật. Nội các của ông Kim hầu như chỉ có tiếng ở cấp trung ương còn hoàn toàn không có mối liên hệ nào với các địa phương chứ chưa nói đến điều hành cả guồng máy chính trị cả nước. Dù rằng các cụ trong Nội các đều là những nhân sĩ trí thức nhưng trong bối cảnh trên đầu có cái ách Nhật Hoàng nên các cụ chưa làm được điều gì. Nói Việt Nam đã được Nhật "trao trả độc lập" là vớ vẩn, thiếu hiểu biết”…

Lịch sử ít viết về “Chính phủ Trần Trọng Kim” tồn tại 4 tháng cũng có cái lý của nó. Tiếp cận từ chính cuốn hồi ký của Lệ Thần Trần Trọng Kim mang tên “Một cơn gió bụi” – tên ông dành gọi về cuộc đời chính trị cũng như phản ánh bản chất số phận chính phủ của mình, và nhiều cuốn hồi ký đương thời, ít nhất cũng cho ta thấy chân dung thực của “chính trị gia”, “Thủ tướng Chính phủ” này
Nghiên cứu các học giả về lịch sử giai đoạn này đều có điểm chung thống nhất: Trần Trọng Kim là một Chính trị gia bất đắc dĩ. Chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ bù nhìn thân Nhật, không có thực quyền và không có được sự ủng hộ của dân chúng! 

Trần Trọng Kim, còn có bút hiệu Lệ Thần  (1883 - 1953) tại làng Kiều Lĩnh, xã Đan Phổ (nay là Xuân Phổ, trước thuộc tổng Đan Hải), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Cụ thân sinh ra Trần Trọng Kim là Trần Bá Huân, có tham gia phong trào Cần Vương. Em gái ông tên Trần Thị Liên là một cán bộ Xô Viết, hoạt động năm 1930 (mất năm 1964). Ngoài ra, ông còn có người con gái hiện đang ở Pháp (xem “Bàn thêm về Trần Trọng Kim”, Tạp chí Văn Hóa Nghệ An, 26.11. 2009). Riêng vợ ông là em gái nhà nghiên cứu văn học Bùi Kỷ.  Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, ông học chữ Hán từ nhỏ. Năm 1897, học chương trình Pháp ở Trường Pháp-Việt Nam Định. Năm 1900, thi đỗ vào Trường thông ngôn, tốt nghiệp năm 1903. Năm 1904, làm Thông sự ở Ninh Bình.

Ông là một học giả tên tuổi, là tác giả của tất cả những công trình đã in thành sách, liệt kê theo thứ tự thời gian như sau: Sơ học luân lý (Nhà in Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1914), Sư phạm khoa yếu lược (Trung Bắc Tân Văn, 1916), Việt Nam sử lược (2 quyển Thượng và Hạ, Trung Bắc Tân Văn, 1919), Truyện Thúy Kiều chú giải (1925, soạn chung với Bùi Kỷ), Quốc văn giáo khoa thư (3 tập: lớp Đồng ấu, lớp Dự bị, và lớp Sơ đẳng), Luân lý giáo khoa thư, Sử ký giáo khoa thư (cả ba loại giáo khoa thư này xuất bản năm 1926, và đều soạn chung với Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, do Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ vẽ minh họa), 47 điều giáo hóa của nhà Lê (Trung Bắc Tân Văn, 1928, dịch “Lê triều giáo hóa điều luật tứ thập thất điều” ra tiếng Pháp: Les 47 articles du Catéchisme moral de l’Annam d’autrefois), Nho giáo (Trung Bắc Tân Văn, 1930, ba quyển; sau in gộp lại thành hai quyển, 1932-1033), Việt thi (sao lục và chú giải) Phật lục (NXB Lê Thăng, Hà Nội, 1940), Phật giáo (Tân Việt xuất bản), Vương Dương Minh (1940), Việt Nam văn phạm (Lê Thăng, Hà Nội, 1941, soạn chung với Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ), Tiểu học Việt Nam văn phạm (Tân Việt xuất bản), Phật giáo thủa xưa và Phật giáo ngày nay (Tân Việt, 1953; “Lời mở đầu” của tác giả đề tháng 10.1952), Hạnh thục ca (Tân Việt xuất bản), Đường thi (Tân Việt xuất bản), Lăng ca kinh (Tân Việt, 1964), Một cơn gió bụi (Hồi ký, viết từ năm 1949, xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn do NXB Vĩnh Sơn). Đánh giá về vai trò, vị trí trong giới trí thức Việt Nam, trong Việt Nam văn học sử yếu, GS Dương Quảng Hàm xếp Trần Trọng Kim vào chương “Các văn gia hiện đại”. Đến Nhà văn hiện đại (4 tập, Tân Dân, Hà Nội, 1942-1945), nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan (1902-1987) xếp Trần Trọng Kim vào “Các nhà văn lớp đầu”. Đến Việt Nam văn học sử giản ước tân biên của Phạm Thế Ngũ, tập III, phần Văn học hiện đại 1862-1945 (Quốc Học Tùng Thư, Sài Gòn, 1965), nhà nghiên cứu văn học rất tài hoa uy tín này tiếp tục xếp Trần Trọng Kim vào hàng ngũ các nhà biên khảo tiêu biểu của giai đoạn 1907-1932…(http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=7246&CategoryID=42

Qua các nghiên cứu độc lập cho thấy, Trần Trọng Kim bị người Nhật tiếp cận khéo léo, khống chế bắt đi cùng một số đại trí thức, khi điều kiện chín muồi, đưa ông về lợi dụng tâm yêu nước, khát khao mong độc lập, tư tưởng bảo hoàng (sùng kính Bảo Đại) để lèo lái ông này đứng ra lập Chính phủ toàn trí thức không am hiểu, va chạm chính trị, ngây thơ tin rằng sẽ thuyết phục Nhật trao trả độc lập từ từ mà không đổ máu. Trần Trọng Kim trải qua quá trình bị biệt giam lúc nước sôi lửa bỏng, thả về và rơi vào tình thế “không thể không lập” ra Chính phủ mới khi hoàn toàn không hiểu biết gì thế giới và bối cảnh cách mạng, tình hình trong nước, dân chúng, không biết gì về Việt Minh (mà ông xem như “giặc cỏ”), không đảng phái, không lực lượng, dựa hoàn toàn vào danh nghĩa “Hoàng đế” Bảo Đại để “tay không đòi độc lập” trong sự ngây thơ chính trị khó có thể tưởng tượng nổi.

 Chính bởi vậy, khi đọc cuốn hồi ký của ông Trần Trọng Kim, thấy “tâm thế” của vị Thủ tướng dự định học theo cách “Chính phủ trung lập” của Thái Lan bất thành, sau chỉ còn mong mau chóng “đòi” được Nhật “trao trả” độc lập trên giấy tờ 3 miền, thấy đó là hoàn thành “sứ mệnh” để được thoái vị. Sau khi Nhật thua cuộc, ông cũng muốn tìm cách thức thỏa hiệp tương tự với Pháp để tránh cảnh đầu rơi máu chảy, ly thương, tang tóc của dân tộc nhưng rồi ông cũng nhận ra bản chất của Pháp và thừa nhận “Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi… Nay V.M. đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh”. Cuối đời ông tiếp tục theo Bảo Đại vào Nam, cái chết đột ngột của ông có nghi vấn ông bị Pháp sát hại.

Mời đọc trích đoạn sau để thấy quá trình thành lập Chính phủ “ngon như ăn cơm”, không quân đội, không tài chính, không vũ khí…tất tần tật đều dựa trên sự “thuyết phục” người Nhật. Nếu gọi đó là bộ máy Nhà nước thì đó không hơn là xự xuyên tạc, bịa đặt khái niệm này.

Nguyễn Biên Cương
=======

 
Chỉ một năm sau khi về hưu (1943), thời cuộc bắt đầu đưa đẩy chuyển ông sang một hướng rẽ đầy phong ba bão táp mà bình sinh có lẽ ông chưa bao giờ kịp nghĩ tới. Người Nhật, kéo vào Đông Dương từ những năm 40, với nhiều ý đồ có sẵn trong mối quan hệ tranh quyền với Pháp, đã bắt đầu cho người ve vãn, tìm cách lui tới làm quen, lấy cớ để hỏi han ông những kiến thức liên quan các vấn đề văn hóa, lịch sử. Việc này Trần Trọng Kim đã thuật lại khá rõ trong tập hồi ký cuối đời “Một cơn gió bụi”, mà gần đây đã được đưa lên mạng Internet nên rất dễ tìm đọc. Ngay từ chương đầu, thái độ sống và lập trường chính trị của ông đã được bộc lộ khá rõ:
     “Sau 31 năm làm việc trong giáo giới…, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển…
     “Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.
     “Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người ta theo mình….
     “Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ… Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "đồng minh cộng nhục" và lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp", nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào tròng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.
     “Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ. Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả” (Một cơn gió bụi, NXB Vĩnh Sơn, Sài Gòn, 1969, tr. 9-12).
         Việc dàn cảnh bắt Trần Trọng Kim đưa đi giấu sẵn ở Chiêu Nam Đảo (tức Singapour do Nhật chiếm đóng) để chuẩn bị cho một mưu đồ tương lai, lấy cớ là để bảo vệ ông thoát khỏi sự rình rập bắt bớ của mật thám Pháp, cũng đã được kể rõ trong chương tiếp theo của tập hồi ký Một cơn gió bụi, nhưng để tóm tắt hơn và có phần khách quan hơn, xin trích dẫn thêm vài đoạn kể tiếp sau của Bùi Diễm:
     “Vào một buổi sáng tự dưng có một sinh viên đứng tuổi người Nhật tên Yamaguchi đến nhà xin được phép nói chuyện với ông chú tôi. Yamaguchi diễn tả rất lưu loát bằng tiếng Pháp rằng ông đang nghiên cứu sử Việt Nam và đến tìm ông chú tôi để thỉnh cầu giúp đỡ. Yamaguchi cho biết ông đang tìm hiểu về một giai đoạn đặc biệt trong triều đại Nhà Nguyễn.
     “Từ đó Yamaguchi thường xuyên lui tới (…). Tuy chẳng làm cách nào rõ được ý đồ của Yamaguchi, chúng tôi biết rõ là ông đến với ý định khác (…), chắc chắn chẳng liên quan gì đến các triều đại Nhà Nguyễn. Trong khi đó Yamaguchi cũng xuất hiện tại nhiều nơi khác….Ông liên lạc với các giáo sư, nói về tình huynh đệ giữa những người Á, về việc giúp đỡ lẫn nhau dành lại chủ quyền. Ông cũng nhắc nhở, hô hào "Người Á, đất Á" và cố đề cao vai trò của Nhật trong các phong trào giúp đỡ, giao hảo với người Việt.
     (…)
     “Mặc dầu ông chú tôi vẫn chăm chỉ viết sách, cuộc sống của ông thực sự đã thay đổi rất nhiều vào năm vừa qua. Những biến chuyển chính trị dồn dập đã đẩy ông phần nào ra khỏi tư thế khách quan trong vấn đề tranh đấu cho độc lập. Lúc này ông khách sinh viên Yamaguchi đến thăm viếng ông chú tôi thường xuyên hơn bao giờ hết. Hơn nữa, cả mật thám Pháp cũng đã giám sát cẩn mật nơi cư ngụ và các hành động của ông chú tôi.
     “Tuy đã biết rành rọt mọi chuyện mà vào một hôm đến chơi tôi vẫn bàng hoàng khi được bà mợ cho biết tin chú tôi không còn ở nhà nữa. "Chú phải lên đường đi xa," mợ tôi tiếp tục cho thêm tin "vì mật vụ Pháp rình rập và đã lên đường đi Singapore cùng ông Yamaguchi rồi" (Gọng kềm lịch sử, sđd.).
(Trong hồi ký của mình Trần Trọng Kim mô tả ông chỉ muốn lánh sang nhà người Nhật quen biết tránh bị Pháp bắt nhưng bị Hiến binh Nhật đến “ép” đi trong tình thế không thể chống cự, không thể quay đầu trở lại)
     Chuyến đi đó, khởi đầu từ ngày 27.10. 1943 và chính thức xuống tàu thủy ngày 1.1.1944, cùng với một người bạn nữa cũng cảnh ngộ bị “bắt cóc” vào chung chỗ hiến binh Nhật như ông là cụ Dương Bá Trạc (1884-1944), nằm trong dự mưu do người Nhật khéo tác động và dẫn dắt, đối với Trần Trọng Kim được coi là một chuyến đi định mệnh, hướng cuộc đời ông vào một ngả rẽ hoàn toàn không chủ động, nếu không muốn nói gần như trái hẳn với lập trường chính trị ban đầu của ông. Tuy nhiên, có nhiều khả năng trong quá trình tiếp xúc sau này với các đại diện Nhật Bản ở Chiêu Nam Đảo và những nơi khác, Trần Trọng Kim đã được người Nhật tìm cách rỉ tai vận động để gieo cho ông mầm mống hi vọng về tương lai độc lập-canh tân xứ sở dưới sự bảo trợ của họ, nhưng điều này thì Trần Trọng Kim vẫn kín miệng không thấy kể ra trong hồi ký. Dù sao, mưu đồ của Nhật cũng đã quá rõ, không mấy cần phải có thêm tài liệu để chứng minh.
     Sau khoảng một năm trải qua cuộc sống chờ đợi buồn tẻ ở Chiêu Nam Đảo, Dương Bá Trạc đã mất tại đây vào ngày 11 tháng 12 năm 1944 (nhằm 26 tháng 10 năm Giáp Thân) vì bệnh ung thư phổi, thi hài được Nhật tổ chức hỏa táng đem về nước. Lúc này chỉ còn một mình Trần Trọng Kim ở lại với vài người khác do Nhật đã đưa qua sẵn trước đó, để đến ngày 16.1.1945 thì được bố trí đi Băng Cốc (Thái Lan) cùng với Đặng Văn Ký, một thành viên chủ chốt của đảng Phục Quốc thân Nhật.
     Ngày 9 tháng 3 năm 1945, vào lúc 21 giờ, sau khi bị Toàn quyền Pháp Decoux tìm cách trì hoãn yêu sách do đại sứ Nhật tại Đông Dương Shunichi Matsumoto đưa ra trong một tối hậu thư đã trao chỉ trước đó 2 giờ, đòi Pháp phải đặt toàn bộ quân đội và bộ máy cai trị thuộc địa dưới quyền điều khiển của mình, Tổng tư lịnh Nhật Yuichi Tsuchihashi đã ra lệnh mở màn cuộc đảo chánh lật đổ chế độ thực dân Pháp trên toàn cõi Đông Dương. Bị tấn công bất ngờ vì chưa hề hay biết trước, quân Pháp thất thế trên khắp cả ba kỳ Nam, Trung, Bắc và chỉ chống trả một cách yếu ớt rồi đầu hàng ngay trong ngày hôm sau. Toàn thể quan chức đầu não của Pháp đều bị bắt giam, kể cả Toàn quyền Decoux, một số khác cùng quân lính phải bỏ chạy thoát thân sang Lào hoặc Trung Quốc.
     Việc đảo chánh, Nhật đã chuẩn bị kỹ sẵn trước, nên chỉ từ 9 giờ tối hôm trước đến 8 giờ sáng hôm sau, toàn cõi Việt Nam rơi vào tay Nhật, cả thực dân Pháp và thường dân, công chức đều bất ngờ. Tình cảnh của họ lúc đó lao đao, nhưng nhờ tính rộng lượng cố hữu của người dân Việt, nên cũng không đến đỗi quá bi thảm: “… Các nhà chuyên môn Pháp được tiếp tục làm việc… Một vài kĩ sư Pháp mon men tới sở, bị đánh… Sau tôi nghe nói một số người Pháp ở miền Tây trốn vào bưng, không bị dân chúng đánh đập, giam giữ, tố cáo; có người còn giúp đỡ lương thực, che chở cho họ nữa. Ở Nam này như vậy, mà có lẽ ở Bắc, Trung cũng không khác mấy…. Có người bảo người Việt nào cũng có một ông Phật ở trong lòng, câu ấy đúng” (Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn Học, 1993, tr. 233-234).
     Ngày 10.3.1945, lúc 11 giờ, Đại sứ Nhật ở Huế là Masayuki Yokoyama vào gặp vua Bảo Đại giải thích tình hình, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam để cùng nhau xây dựng khối Đại Đông Á thịnh vượng”, đề nghị vua ra tuyên bố độc lập và chuẩn bị thành lập chính phủ mới trên cơ sở  hợp tác dưới sự bảo trợ của Nhật.
     Ngay hôm sau, ngày 11. 3.1945, triều đình Huế tuyên bố bãi bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, nước Việt Nam được quyền thu hồi độc lập (dưới bản tuyên bố ký tên vua Bảo Đại cùng toàn thể Cơ mật viện, đứng đầu là Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh).
      Ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và một vài thành phố lớn, do sự sách động của các nhóm thân Nhật, một số người xuống đường rầm rộ để tri ân quân đội Nhật hoàng, nhưng quảng đại quần chúng thì đều tỏ vẻ thờ ơ lạnh nhạt với phong trào “độc lập” do Kempeitai (Hiến binh) và quân đội Nhật dựng nên. Ngày 17.3.1945, ở các hương thôn, lý trưởng được lệnh tổ chức dân chúng mừng ngày độc lập tại các đình làng: “Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời ‘tuyên cáo độc lập’. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp” (Nguyễn Vỹ, Tuấn chàng trai nước Việt, Quyển II, Sài Gòn, 1970, tr. 513).    
     Cũng trong ngày 17.3.1945, Bảo Đại ban bố Đạo dụ số 1 theo đó nhà vua sẽ đích thân cầm quyền và chế độ chính trị mới sẽ quản lý đất nước theo khẩu hiệu “Dân vi quý” (dân trên hết), chỉnh đốn lại quốc gia, đồng thời kêu gọi các bậc hiền tài ra giúp nước.
     Ngày 18.3.1945, biểu tình lớn tại Sài Gòn để mừng độc lập, cảm ơn Nhật, và đón rước di hài nhà cách mạng Dương Bá Trạc đưa từ Chiêu Nam (Singapour) về (theo Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua 1945-1964-Việc từng ngày, Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn, 1966, tr. 5).
     Một ngày sau, giải tán Cơ mật viện gồm 6 quan chức tối cao của triều đình nhà Nguyễn do Phạm Quỳnh đứng đầu.
     Để chuẩn bị nội các mới, Bảo Đại hai lần gởi điện vào Sài Gòn mời Ngô Đình Diệm ra Huế, nhưng cả hai bức điện đều bị tình báo Nhật cố ý ngăn chặn, nêu giả lý do Ngô Đình Diệm cáo bệnh không ra Huế được, vì thật ra phương án sắp đặt cho hoàng thân Cường Để (1882-1951) lên ngôi vua và Ngô Đình Diệm (1901-1963) giữ chức thủ tướng trước đó không lâu đã bị giới lãnh đạo quân sự Nhật hủy bỏ, do không muốn gây nhiều xáo trộn, để thay vào bằng kế hoạch Bảo Đại-Trần Trọng Kim cũng được chuẩn bị sẵn từ hơn một năm trước.    
     Ngày 30.3.1945, Nhật cho người bố trí đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc về Sài Gòn, lấy cớ Tư lệnh bộ ở Sài Gòn mời về để “hỏi việc gì về lịch sử” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 42). Đến nơi viên trung tướng tham mưu trưởng thuộc Bộ tư lệnh Nhật mới cho hay Phạm Quỳnh và các thượng thư cũ đã từ chức, vua Bảo Đại mời ông cùng với các ông Hoàng Trọng Phu, Vũ Ngọc Oánh, Trịnh Bá Bích, Hoàng Xuân Hãn, Cao Xuân Cẩm về Huế hỏi ý kiến.
     Thấy tên mình mà không có tên Ngô Đình Diệm, Trần Trọng Kim hỏi viên trung tướng: “Tôi không có hoạt động gì, và không có phe đảng nào cả. Gọi tôi về Huế không có ích lợi gì. Xin cho tôi ra Hà Nội thăm nhà và uống thuốc”. Viên trung tướng trả lời: “Đó là ý của vua Bảo Đại muốn hỏi ông về việc lập chính phủ mới, ông cứ ra Huế rồi sẽ biết” (sđd., tr. 43).
     Ngày 2.4.1945, Nhật bố trí cho Trần Trọng Kim đáp xe lửa ra Huế. 19 giờ rưỡi ngày 5.4 xe lửa đến Huế, lát sau ông đã được gặp lại vợ con có sẵn ở đó, nói là đang trên đường ra Hà Nội định xin phép qua Xiêm tìm ông, nhưng sự tình cờ kỳ lạ này đã khiến có người suy diễn nhiều khả năng chính người Nhật đã sắp đặt sẵn sao đó. 
     Những thay đổi giai đoạn cuối trong sự sắp xếp nhân sự cho bộ máy cai trị mới này, cả Bảo Đại, Cường Để, Ngô Đình Diệm đều không hay biết. Duy Trần Trọng Kim có được người Nhật rỉ tai riêng cho biết hay không thì đây vẫn còn là một điểm nghi vấn, vì không thấy ông hé môi kể ra trong tập hồi ký, nhưng khả năng này là rất lớn, vì từ hôm ở Băng Cốc về Sài Gòn, chiều nào viên đại úy ở Bộ tư lệnh Nhật cũng mời ông đến ăn cơm và nói chuyện, có khi nói chuyện đến một hai giờ khuya. “Mấy ngày như thế, đến chiều hôm mùng hai tháng tư, đại úy đưa tôi ra xe lửa còn ngồi nói chuyện đến lúc xe chạy” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 46).
     Ngày 7.4.1945, Trần Trọng Kim vào yết kiến Bảo Đại. Theo như lời kể của ông trong tập hồi ký thì ông tìm cớ thoái thác việc đứng ra lập chính phủ, lấy lý do già yếu, không có đảng phái và không hoạt động chính trị, rồi đề nghị dùng “người đã dự định từ trước, như Ngô Đình Diệm chẳng hạn” (sđd., tr. 49) nhưng Bảo Đại cho hay đã gọi mà không thấy Ngô Đình Diệm về. Nhà vua không ép, chỉ yêu cầu ông ở lại Huế nghỉ ít lâu, xem thế nào rồi hãy ra Bắc. Có lẽ lúc này vua vẫn còn tiếp tục ngóng tin Ngô Đình Diệm, đâu có dè rằng kịch bản Cường Để-Diệm đã bị cánh tướng lãnh Nhật bác bỏ, nên tìm cách ngăn chặn hai bức điện liên lạc của Bảo Đại, giữa lúc ông Diệm đang ở Sài Gòn trong một tâm trạng đợi chờ thấp thỏm!
     Đợi tin Ngô Đình Diệm lâu không được, Bảo Đại sốt ruột quyết định mời Trần Trọng Kim vào làm việc lần thứ hai, thuyết phục  thành lập nội các. Xin trích tiếp đoạn hồi ký, qua đó vừa thấy được nội dung cuộc trao đổi giữa hai người, vừa luôn thể biết qua thành phần nội các do ông Trần đề nghị và được Bảo Đại chuẩn y ngay:     
     “Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột, triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới.
     “Ngài nói:
     “Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước”.
     Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế, liền tâu rằng:
     “Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả, xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước, thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người, hễ có thể được tôi xin tâu lại.
     “Tôi ra bàn với ông Hoàng Xuân Hãn để tìm người xứng đáng làm bộ trưởng. Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị, hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục...
     “Có một điều nên nói cho rõ, là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy, người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay, không làm nữa.
     Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng như sau:
- Trần Trọng Kim, giáo sư, Nội các Tổng trưởng
- Trần Ðình Nam, y sĩ, Nội vụ Bộ trưởng
- Trần Văn Chương, luật sư, Ngoại giao Bộ trưởng
- Trịnh Ðình Thảo, luật sư, Tư pháp Bộ trưởng
- Hoàng Xuân Hãn, toán học thạc sĩ, Giáo dục và Mỹ nghệ Bộ trưởng
- Vũ Văn Hiền, luật sư, Tài chánh Bộ trưởng
- Phan Anh, luật sư, Thanh niên Bộ trưởng
- Lưu Văn Lang, kỹ sư, Công chính Bộ trưởng
- Vũ Ngọc Anh, y khoa bác sĩ, Y tế Bộ trưởng
- Hồ Bá Khanh, y khoa bác sĩ, Kinh tế Bộ trưởng
- Nguyễn Hữu Thí, cựu y sĩ, Tiếp tế Bộ trưởng.
     “Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945, tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Vào đến nơi, tôi thấy ông Yokohama, tối cao cố vấn Nhật, đã ngồi đó rồi. Ông thấy tôi vào liền hỏi: "Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?". Tôi nói: "Vâng, hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y".
     “Tôi đệ trình vua Bảo Ðại, ngài xem xong phán rằng: "Ðược". Khi ấy ông Yokohama nói: "Xin cho tôi xem là những ai". Ông xem rồi, trả lại tôi và nói: "Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn". Sự thực là thế, chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước” (sđd., tr. 50-53).
     Ngoài các bộ trưởng đã nêu trong danh sách, bộ máy chính phủ Trần Trọng Kim còn lần lần được bổ sung, gồm có:
     - Phan Kế Toại (1892-1992), Tổng đốc, Khâm sai Bắc Bộ (sau giữ chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Nội vụ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
     - Nguyễn Văn Sâm, Nhà báo, Khâm sai Nam Bộ (được cử theo Đạo dụ 108 ngày 14.8.1945, sau bị ám sát ngày 10.10. 1947)
     - Trần Văn Lai, Bác sĩ, Đốc lý Hà Nội (sau giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính TP Hà Nội)
     - Đặng Văn Hướng (1887-1954), Phó bảng, Tổng đốc Nghệ An (sau giữ chức Quốc vụ khanh đặc trách công tác ở 3 tỉnh Thanh-Tĩnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
     - Vũ Trọng Khánh (1912-1996), Luật sư, Đốc lý Hải Phòng (sau giữ chức Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời)
     - Kha Vạng Cân (1908-1982), Kỹ sư, Đô trưởng Sài Gòn (sau giữ chức Bộ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
     Qua sự trình bày ở trên, có thể thấy ngày càng rõ hơn việc đưa Trần Trọng Kim đứng ra lập nội các cho Bảo Đại trước sau đều do người Nhật đạo diễn một cách khéo léo để dẫn dụ Trần Trọng Kim vào “tròng”. Được cái, cả họ và vua Bảo Đại đều không can thiệp sâu theo kiểu cơ cấu sẵn các thành phần nhân sự cấp bộ trưởng, như lối quy hoạch, cơ cấu nhân sự chặt chẽ bây giờ. Nhờ vậy Trần Trọng Kim đã có được sự chủ động trong việc tìm chọn nhân tài thích hợp theo quan niệm của mình.
     Tuy nhiên, theo luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), một thành viên chủ chốt của Nội các, Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai xứ sở”, nhưng ông Trịnh đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Đại với lý do “phải gấp rút thành lập chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các lực lượng Đồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ các hiệp ước bảo hộ…, tuyên cáo Việt Nam độc lập và thống nhất”. Ngoài ra ông Thảo còn cho biết Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan là cựu Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Pridi Banomyong chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” (jouer sur les deux tableaux) để có thể tồn tại như Thái Lan, đại khái bằng cách song song với phe thân Nhật, Thái Lan cần dự bị sẵn một lực lượng chính trị khác hợp tác với Đồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi Thế chiến II kết thúc. Vị chính khách này còn khuyên Trần Trọng Kim “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật” (Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne, Paris, 1994, tr.62, dẫn lại theo Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995, Tiên Rồng, USA, 2004, tr. 52-53).
     Nói gì thì nói, về mặt lịch sử, vẫn phải công nhận Nội các vừa thành lập ngày 17.4.1945 chính phủ đầu tiên của Việt Nam theo nghĩa hiện đại, và Trần Trọng Kim đã trở thành vị Thủ tướng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, dù chỉ mới độc lập trên danh nghĩa. Tham gia Nội các của ông đều là các nhà trí thức tên tuổi, có trình độ học vấn cao, nhiệt tâm, trong sạch và yêu nước, nhưng tất cả đều thiếu hẳn kinh nghiệm quản lý và nhất là sự lọc lõi chính trị trong thời loạn.
     “Trừ Thủ tướng Trần Trọng Kim, chỉ có bằng cấp Trung học, chư quý vị bộ trưởng toàn có những bằng cấp to lớn: nào thạc sĩ bác sĩ, tiến sĩ luật khoa v.v. cả. Người dân Việt mừng thầm khi đọc danh sách nội các… Nhưng…” (Bùi Nhung, Thối nát, Sài Gòn, 1965, tr. 50).
     Về thái độ của quần chúng trước việc thành lập nội các mới, nhìn chung các thành phần trí thức (gồm cả sinh viên học sinh) đều nao nức phấn khởi đón luồng gió mới, một số khác dè dặt chờ đợi, vì thấy vẫn còn lệ thuộc Nhật. Nhóm Thanh Nghị đứng đầu là Vũ Đình Hòe thậm chí từ ngày 20.4.1945 còn có hẳn một chương trình riêng gọi là TÂN VIỆT NAM HỘI để ủng hộ Chính phủ (xem Hồi ký Vũ Đình Hòe, NXB Hội Nhà Văn, 2004, tr. 166-167).
     Phấn khởi tiếp đón nền độc lập bán phần vừa vớ được, ông Nguyễn Duy Phương còn cho ra hẳn một tập sách mỏng chuyên đề lấy tên Lịch sử độc lập và Nội các đầu tiên Việt Nam, do Việt Đông Xuất Bản Cục xuất bản tại Hà Nội khoảng nửa tháng sau khi Nội các thành lập, để bày tỏ sự ủng hộ tích cực, bằng cách trích đăng khá đầy đủ và hệ thống những tin tức, bài phỏng vấn các vị bộ trưởng liên quan các mặt hoạt động cùng chủ trương mới của Nội các, với lời hô hào nêu rõ: “Chỉ hợp quần mới gây nên sức mạnh… Chúng ta hãy đem hết tài năng sĩ, nông, công, thương ra thực dụng. Để giải quyết những vấn đề quan trọng, để tiếp tế, cứu tế cho đỡ nỗi thống khổ đồng bào nghèo đói! Và để giữ vững đất đai thế nào là độc lập của Việt Nam một cách bất diệt”*.  
     Một số đảng phái quốc gia như Đại Việt (ở Hà Nội), Phục Quốc, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập (ở Sài Gòn), Tân Việt Nam (ở Huế) đều ủng hộ Nội các Trần Trọng Kim và được Nhật khuyến khích.
      Riêng dân chúng ở các vùng nông thôn thì vẫn thờ ơ với chính trị.
     Thế rồi đến ngày 8.5.1945, Nội các Trần Trọng Kim mới chính thức tổ chức lễ ra mắt quốc dân tại Dinh Tổng trưởng (tòa Khâm sứ Trung Kỳ cũ). Đầu tiên đọc bản Tuyên chiếu của Hoàng đế Bảo Đại về việc thành lập Nội các: “Trẫm đã lựa chọn khắp nhân tài trong nước, kén lấy những người có học thức, có kinh nghiệm để đương việc nước trong buổi bây giờ. Trẫm chắc rằng chư khanh sẽ làm chức vụ không phụ lòng trẫm ủy thác và lòng dân kỳ vọng. Điều cần nhất là phải gây sự đồng tâm hiệp lực trong toàn thể quốc dân. Phải đoàn kết chặt chẽ các giai từng xã hội và luôn luôn giữ một mối liên lạc giữa chính phủ và nhân dân (…)” (Nghiêm Kế Tổ, Việt Nam máu lửa, NXB Mai Lĩnh, Sài Gòn, 1954, tr. 24).
     Sau đó, Nội các đưa ra bản tuyên cáo khẳng định nền độc lập mới có được sau 80 năm bị Pháp áp chế, cám ơn Nhật Bản đã ra tay “giải phóng”, kêu gọi quốc dân ra sức đoàn kết, gây mạnh tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội, “tìm mọi cách để các chính khách còn phiêu lưu được trở về tổ quốc, xóa bỏ những hình án bất công, để những người ái quốc còn bị giam cầm trong lao ngục có thể tùy tài sức mà tham dự vào công cuộc kiến thiết quốc gia”; chăm lo việc cứu đói, định lại thuế khóa cho công bằng; đặt những cơ quan để liên lạc mật thiết giữa chánh phủ với dân chúng; thống nhất pháp luật trong toàn quốc và tránh sự lạm quyền, tiệt trừ nạn tham nhũng; rèn luyện lớp thanh niên mới có khí khái có nghề nghiệp; chú trọng nâng cao trình độ sinh hoạt của dân chúng. “Chúng tôi xin tuyên thệ với quốc dân đem hết tâm trí để theo đuổi mục đích duy nhất là xây đắp nền độc lập nước nhà, không tư vị cá nhân hay đảng phái. Chúng tôi chắc rằng mọi người trong quốc dân cũng một lòng vì nước, giữ thái độ bình tĩnh và tuân theo kỷ luật, để làm hết phận sự. Mong nền móng xây đắp được vững vàng để cơ đồ nước Việt Nam ta muôn đời trường cửu” (nguyên văn bản tuyên cáo này có in trong phần phụ lục Một cơn gió bụi, sđd., tr. 192-195).   
     Kế hoạch đặt ra đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, Chính phủ Trần Trọng Kim tiếp quản bộ máy cai trị của Pháp, thông qua sự thu xếp bàn giao lại của Nhật, đã hoạt động trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Theo nhà sử học Pháp Philippe Devillers, có hai điểm trở lực căn bản nhất, đó là sự thiếu chín muồi về chính trị của dân chúng và quyền ngăn cấm của người Nhật: “Quyền cấm cố của Nhật là rất nặng nề, cả về kế hoạch chính trị lẫn kế hoạch kinh tế và quân sự” (Histoire du Viêt Nam de 1940 à 1952, Éditions du Seuil,1952, tr. 128). Ngoài ra, còn nhiều nỗi khó khăn cụ thể và trực tiếp khác: bộ máy quan lại thực dân nửa phong kiến đã thối nát quá lâu; nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc từ tháng 3.1945 vì mất mùa và một phần quan trọng vì chính sách nông nghiệp thời chiến do Pháp-Nhật gây ra làm cả triệu người chết, thây phơi đầy đường; bom đạn do quân Đồng minh Anh, Mỹ đổ xuống phá nát các cơ sở hạ tầng làm cho công tác cứu đói của Bộ Tiếp tế càng trở nên khó khăn trầy trật; Nhật ngày càng thua đậm trong trận Thế chiến (nhất là sau hai lần bị ném bom nguyên tử trong các ngày 6 và 8.8.1945); Pháp lăm le tái chiếm Đông Dương bằng mọi giá; thiếu sự hậu thuẫn tinh thần của quảng đại quần chúng, trong khi đó, hoạt động của Việt Minh, được chuẩn bị từ lâu và một cách khéo léo, có sách lược hẳn hoi, đang ngày càng tăng mạnh với chủ trương đánh đổ cả Pháp-Nhật lẫn chính quyền phong kiến giành độc lập, được nhân dân nhiều nơi trên khắp cả ba miền đất nước hưởng ứng. Nội các Trần Trọng Kim lâm vào thế bị động và ngày càng lúng túng, phải chấp nhận từ chức, tiếp theo là việc thoái vị của cả vua Bảo Đại vì áp lực của cao trào cách mạng.
     Theo Những ngày chưa quên của Đoàn Thêm (Nam Chi Tùng Thư, Sài Gòn, 1967, tr. 42): “Chánh phủ Trần Trọng Kim lập xong chưa được bao lâu, thì niềm hi vọng của nhiều người, chứa chan sau ngày 9.3.1945, đã nhường chỗ cho sự hoang mang và lo ngại. Vì thời cuộc biến chuyển dồn dập ở khắp nơi, và những tin tức gây xúc động mạnh, dù bị quân đội Nhật kiểm duyệt, cũng vẫn lan tràn mau lẹ”.    
     Liên quan việc Nội các Trần Trọng Kim từ chức, cả hai tài liệu Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim và Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của Phạm Khắc Hòe (NXB Hà Nội, 1983) đều phản ảnh những thông tin cơ bản giống nhau, chỉ khác nhau về một số chi tiết và ngày tháng. Đại khái, trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc và xu hướng quần chúng-trí thức ngã theo Việt Minh, nội bộ Chính phủ Trần Trọng Kim đã bắt đầu có những dấu hiệu phân hóa về sự lựa chọn chủ trương, đường lối.
     Được biết, trong khoảng thời gian này, Vũ Đình Hòe (1912-2011), người đứng đầu nhóm Thanh Nghị, cùng chí hướng với hai bộ trưởng Vũ Văn Hiền và Phan Anh (1912-1990), ban đầu rất tích cực ủng hộ Chính phủ Bảo Đại-Trần Trọng Kim, nay thấy không ổn, bắt đầu có những cuộc tiếp xúc với người của Việt Minh, thậm chí còn được đại diện của Việt Minh là Dương Đức Hiền (1916-1963) kết nạp vào Đảng Dân chủ. Trong tập Hồi ký Vũ Đình Hòe (NXB Hội Nhà Văn, 2004), ông cho biết: “Trước ngày 17 [tháng 6.1945] tôi đã gặp hai anh Phan Anh và Vũ Văn Hiền, trao đổi nhận định về tình hình. Tôi cho hai anh biết tâm trạng của anh em trí thức ngoài Bắc giảm sút lòng tin đối với Chính phủ [Trần Trọng Kim], một số coi như Chính phủ bất lực rồi, còn dân chúng thì số đông ở thành phố trước sau vẫn thờ ơ, một số dân quê ngày càng đông ngưỡng mộ Việt Minh. Tôi thành thực thổ lộ với hai anh có lẽ nên dự bị ‘một hướng suy nghĩ khác’ cho kịp thời chuyển” (tr. 183).   
     Trong một cuộc họp Nội các (Phạm Khắc Hòe nói ngày 3.8.1945) ở Dinh Tổng trưởng, cả ba bộ trưởng Hồ Tá Khanh (1908-1996), Trần Đình Nam (1896-1974), Nguyễn Hữu Thí đều đề nghị Nội các nên rút lui để nhường quyền lãnh đạo cho Mặt trận Việt Minh càng sớm càng tốt, may ra mới cứu được đất nước. Nội dung đề nghị này, cả ông Hòe lẫn ông Kim đều trình bày giống nhau trong tập hồi ký của mỗi người. Nhưng về phản ứng của Nội các Tổng trưởng trước đề nghị rút lui, mỗi người lại kể khác nhau.
     Theo sự mô tả của Phạm Khắc Hòe thì ông Kim tỏ vẻ gay gắt, trách các bộ trưởng thiếu trách nhiệm, không khí buổi họp trở nên căng thẳng (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 45), còn Trần Trọng Kim trong tập hồi ký của mình chỉ nói: “Sự tôi thôi, thì tôi đã dự định rồi nhưng để lấy lại đất Nam Bộ cho trọn công việc của mình, tôi thôi ngay” (sđd., tr. 89).
     Cuộc họp phải tạm dừng. Hai ngày sau, 5.8.1945, toàn thể Nội các dâng lên vua tờ phiến xin từ chức. Ngày 6.8.1945, Bảo Đại chấp nhận đơn từ chức, nhưng yêu cầu tạm ở lại làm việc, chờ tìm người lập nội các mới. Trần Trọng Kim tìm cách liên lạc với những người có đảng phái như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Đặng Thai Mai… mời ra Huế lập nội các mới nhưng sau một tuần lễ không thấy ai hưởng ứng, mà theo ông Kim tâu lại với Bảo Đại là do những người ông mời đều rất cách mạng, rất tả, và vì điều này không làm vừa lòng người Nhật nên họ đã chặn điện lại. Trong khi chờ đợi, ngày 12.8.1945, Bảo Đại ra đạo dụ đổi nội các từ chức thành nội các lâm thời, làm việc chỉ được mấy ngày thì Nhật đầu hàng Đồng minh vô điều kiện (14.8.1945). Tình thế bức bách, thế lực của Nhật coi như tan rã, Đồng minh mạnh lên, chủ trương vận động vua Bảo Đại thoái vị của Việt Minh thông qua đầu mối liên lạc của Tôn Quang Phiệt (1900-1973) được Đổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hòe tích cực ủng hộ, và theo đề xuất của Trần Đình Nam, một cuộc họp khẩn cấp nội các đã được triệu tập sáng ngày 17.8.1945 do vua đích thân chủ tọa.
     Nhóm Trần Đình Nam, Hồ Tá Khanh đề nghị Nội các rút lui, vua Bảo Đại thoái vị, toàn dân đoàn kết chặt chẽ chung quanh tổ chức mạnh nhất, hăng hái nhất là Việt Minh để bảo vệ nền độc lập. Theo Phạm Khắc Hòe kể trong hồi ký thì Trần Trọng Kim phản ứng, một cuộc tranh luận sôi nổi dấy lên, cuối cùng thống nhất ý kiến với bộ trưởng Vũ Văn Hiền (1911-1963), đề nghị tạm thời vẫn giữ chính thể quân chủ với vua Bảo Đại nhưng giao cho Việt Minh tổ chức nội các, thể hiện trong Đạo dụ số 105 được Phạm Khắc Hòe soạn thảo ngay sau đó, trong giờ giải lao 15 phút.
     Trước cuộc họp, Phạm Khắc Hòe được sự ủng hộ của Trần Đình Nam đã chuẩn bị sẵn một bản dự thảo theo đó khẳng định tư cách và ý chí độc lập của dân tộc, kêu gọi mọi người ái quốc ra phò vua giúp nước, và động viên tinh thần hi sinh của Hoàng đế. Khi bản dự thảo được vua Bảo Đại cho phép đọc lên, Trần Trọng Kim phản ứng về việc hi sinh của Hoàng đế, cho là ép vua quá, trong khi đó Phan Anh phát biểu dung hòa, nói để cho vua tự suy nghĩ quyết định. Bảo Đại yêu cầu đọc lại đoạn “hi sinh của Hoàng đế” nêu trong bản dự thảo để nghe cho rõ hơn, nghe xong vua đồng ý, giao cho Văn phòng (tức cho Phạm Khắc Hòe) làm văn bản để chiều ký. Văn bản này tạm gọi là “Chiếu động viên quốc dân” mà Bảo Đại đã ký ngay vào 4 giờ chiều hôm đó (17.8.1945) sau vài phút do dự và “một cái nhún vai nhè nhẹ”, trong có đoạn: “Cuộc chiến tranh thế giới đã kết liễu… Trước tình thế quốc tế hiện thời, trẫm muốn mau có nội các mới… Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, trẫm sẵn sàn hi sinh về tất cả các phương diện. Trẫm để hạnh phúc của nhân dân Việt Nam lên trên ngai vàng của trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ. Trẫm chắc rằng toàn thể quốc dân cùng một lòng hi sinh như trẫm” (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 195-196; Phạm Khắc Hòe có dẫn lại trong Từ triều đình Huế…, tr. 58-59).
     Trong một diễn biến khác, ngày 19.8.1945 khi thấy tình thế đã nguy ngập đến nơi, “chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả”, đến lượt Trần Trọng Kim cũng vào gặp vua, dẫn gương của vua Louis bên Pháp và vua Nicolas II bên Nga, đốc thúc Bảo Đại phải thoái vị ngay không nên chần chừ (Trần Trọng Kim, sđd., tr. 92).   
     Đến giờ phút này, cả Bảo Đại, Trần Trọng Kim, Phạm Khắc Hòe và phần lớn thành viên trong Nội các vẫn còn mơ hồ, chưa biết rõ lãnh tụ Việt Minh là ai.
     Với vai trò đã bí mật nhận với Việt Minh (thông qua Tôn Quang Phiệt), Phạm Khắc Hòe tiếp tục tìm mọi phương tiện khéo léo vận động Bảo Đại thoái vị, bằng cách luôn báo cáo với vua về những cuộc biểu tình của quần chúng đả đảo phát-xít, ủng hộ Việt Minh, về huyền thoại dân gian “thánh Nguyễn Ái Quốc” ra đời ở đất Nam Đàn… để khuyên nhà vua nên rút lui. Cuối cùng Hoàng đế đồng ý nói: “Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là ‘Thánh Nguyễn Ái Quốc’ thì tôi sẵn sàng thoái vị ngay” (Phạm Khắc Hòe, sđd., tr. 62). Nghe xong Phạm Khắc Hòe khấp khởi vội vã lo soạn chiếu thoái vị, và hoàn tất ngay trong đêm 20.8.1945.
     Gần trưa ngày 23.8.1945, Bảo Đại nhận được tối hậu thư của Việt Minh, dưới đóng dấu “Thành bộ Việt Minh tỉnh Nguyễn Tri Phương” nhưng không có ai ký tên, đòi nhà vua phải trả chính quyền cho nhân dân và hứa sẽ bảo đảm tính mạng, tài sản cho hoàng gia, hạn cho nhà vua phải trả lời trước 13 giờ 30 phút ngày 23.8.1945 và cử ông Phạm Khắc Hòe làm người liên lạc giữa nhà vua và Chính quyền cách mạng.
     Theo đề nghị của Phạm Khắc Hòe, một cuộc họp nội các đã được triệu tập ngay lập tức vào đúng 12 giờ 25 phút cùng ngày để kịp trả lời Việt Minh đồng thời góp ý kiến cho dự thảo Chiếu thoái vị do chính ông Hòe khởi thảo. Cuộc họp do vua chủ tọa, có mặt Trần Trọng Kim, Trần Văn Chương (1898-1986), Trần Đình Nam, Trịnh Đình Thảo, Vũ Văn Hiền, Nguyễn Hữu Thí, Phạm Khắc Hòe. Mọi người đồng ý chấp nhận các điều kiện do Việt Minh đưa ra trong tối hậu thư, còn Chiếu thoái vị thì chỉ sửa có mấy chữ “nồi da xáo thịt” thành “Nam Bắc phân tranh”.      
     Tờ chiếu lịch sử đó của Hoàng đế Bảo Đại, vua cuối cùng triều Nguyễn sau 143 năm trị vì đất nước phong kiến mà hơn một nửa thời gian bị lệ thuộc Pháp, chính thức đề ngày 25.8.1945. Ông chấp nhận từ bỏ ngôi báu một cách khá mau lẹ một phần vì muốn đặt lợi ích của quốc dân lên trên, phần khác cũng do bị áp lực từ nhiều phía và cũng chẳng còn cách nào khác.    
     Chiều ngày 26.8.1945, trong không khí buồn tẻ chỉ hiện diện vài người thân cận, vua làm lễ cáo yết Liệt thánh về việc thoái vị ở Thế miếu là nơi thờ Gia Long và các vua nối tiếp. Các quan văn võ được thông báo trước nhưng đều không đến dự.
     Chiều 30.8.1945, tại cuộc lễ thoái vị được cử hành long trọng trước Ngọ Môn, Bảo Đại mặc triều phục tuyên độc chính thức Chiếu thoái vị, lời lẽ chân thực cảm động, với sự có mặt của đại diện Việt Minh gồm các ông Trần Huy Liệu (Trưởng đoàn), Nguyễn Lương Bằng, Cù Huy Cận cùng sự chứng kiến của đám đông hàng vạn dân chúng:    
Vì hạnh phúc của dân tộc Việt Nam,
Vì nền độc lập của Việt Nam,
Để đạt hai mục đích ấy, Trẫm tuyên bố sẵn sàng hi sinh tất cả, và ước mong rằng sự hi sinh của Trẫm đem lại lợi ích cho Tổ quốc.
Chiếu đà tiến dân chủ đang đẩy mạnh ở miền Bắc nước ta, Trẫm e ngại rằng một sự tranh chấp giữa miền Bắc với miền Nam khó tránh được, nếu Trẫm đợi sau cuộc trưng cầu dân ý, để quyết định thoái vị. Trẫm hiểu rằng, nếu có cuộc tranh chấp đó, đưa cả nước vào sau hỗn loạn đau thương, thì chỉ có lợi cho kẻ xâm lăng.
Trẫm không thể không ngậm ngùi khi nghĩ đến các tiên đế đã chiến đấu trên bốn trăm năm để mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa đến Hà Tiên. Trẫm không khỏi tiếc hận là trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm không thể làm gì đem lại lợi ích đáng kể cho đất nước.
Mặc dù vậy, và vững mạnh trong sự tin tưởng của mình, Trẫm đã quyết định thoái vị, và Trẫm trao quyền cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.
Trẫm yêu cầu tân chính phủ lấy tình huynh đệ đối xử với các đảng phái, các phe nhóm, các đoàn thể đã chiến đấu cho nền độc lập của đất nước, mặc dù không theo cùng đường hướng dân chủ của mặt trận, như vậy có thể giúp cho họ được tham gia vào sự kiến thiết đất nước, và chứng tỏ rằng tân chế độ đã được xây dựng trên tình đoàn kết dứt khoát của toàn thể nhân dân.
Trẫm yêu cầu tất cả các đảng phái, các phe nhóm, tất cả các tầng lớp xã hội cũng như toàn thể hoàng gia phải đoàn kết chặt chẽ để hậu thuẫn vô điều kiện cho Chính phủ Dân chủ Cộng hòa, hầu củng cố nền độc lập quốc gia.
Riêng về phần Trẫm, trong hai mươi năm ở ngôi, Trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị. Từ nay Trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập. Trẫm không để cho bất cứ ai được lợi dụng danh nghĩa Trẫm, hay danh nghĩa hoàng gia để gieo rắc sự chia rẽ trong đồng bào của chúng ta… (chép theo Con rồng Việt Nam của Bảo Đại, tr. 187-188, có một số câu chữ khác hơn so với văn bản chép trong Phụ lục hồi ký Một cơn gió bụi của Trần Trọng Kim).
Đọc xong, vua Bảo Đại trao kiếm vàng và ấn ngọc cho đại diện Việt Minh là Trần Huy Liệu, biểu thị chấm dứt triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam. Nội các Trần Trọng Kim, mà ba tuần lễ sau cùng đổi gọi Nội các Lâm thời, coi như cũng chấm dứt nhiệm vụ lịch sử.
     Trong hồi ký Con rồng Việt Nam (Hồi ký chính trị 1913-1987, Nguyễn Phước Tộc xuất bản, 1990), cựu hoàng Bảo Đại sau này nhớ lại: “Bản tuyên ngôn được đọc trong sự yên lặng hoàn toàn. Tôi quan sát các khán giả đứng hàng đầu. Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu họ. Họ lặng người đi. Trong một bầu không khí bực dọc, tôi trao nhanh ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho Trần Huy Liệu, mà chính ông ta cũng có cảm tưởng như tự trên mây mà lại. Trong khi tôi hồi cung, đám đông tan rã, không một tiếng kêu” (tr. 188).
     Ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chấm dứt chế độ phong kiến, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
     Về phần Nội các Trần Trọng Kim, mặc dù chỉ tồn tại trong thời gian chưa đầy  4 tháng (từ 17.4 đến 7.8.1945, nếu tính đến 23.8.1945 khi quyết định xong Chiếu thoái vị thì được 4 tháng 6 ngày, tổng cộng 126 ngày, tương đương 1/3 năm) và làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn, nhất là khi vẫn bị quân đội Nhật kiềm chế mọi mặt, Nội các đã tỏ ra năng nổ, nhiều thiện chí và cũng đã làm được một số việc đầy ý nghĩa, đáng ghi nhận:       
     - Tháng 6 năm 1945, đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam (bỏ tên Đại Nam, Annam); tạm duy trì bài quốc thiều "Đăng đàn cung"; đổi mới quốc kỳ, thay cờ Long tinh bằng cờ quẻ Ly có nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm.
     - Bộ Tiếp tế tập trung cao độ lo việc cứu đói nhưng kết quả rất hạn chế vì phương tiện, nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ và nhất là giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển từ Nam ra Bắc đều bị quân Đồng minh cắt đứt.
     - Thanh trừng quan tham lại nhũng với kết quả hạn chế, vì thời gian ít và điều kiện khó khăn trước mắt về nhân sự chưa cho phép làm mạnh.
     - Tha thuế thân cho người dân và cho những công chức có thu nhập thấp. Thực hiện sự công bằng về thuế khóa.
     - Chủ trương tăng lương cho tiểu công chức, bỏ các món chi tiêu huy hoàng vô ích.
     - Can thiệp với Nhật để từ ngày 9.8.1945 tổng ân xá các tù chính trị, kể cả những người cộng sản đã bị Pháp bắt giam tại các nhà lao và nhà ngục khổ sai. Chủ trương trừng thanh quan lại và bài trừ tệ hối lộ.
     - Đấu tranh với Nhật đòi lại các công sở và lấy lại được ba thành phố nhượng địa Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẵng kể từ ngày 20.7.1945.
     - Ngày 1.8.1945, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai cho phá các tượng Pháp ở Hà Nội vốn biểu trưng cho nền thống trị ngoại bang, như tượng Paul Bert, Jean Dupuis, Đầm Xòe ở Cửa Nam, Đài kỷ niệm Lính Khố xanh, Khố đỏ.
     - Ngày 14.8.1945, tranh thủ lấy lại Nam Kỳ cho triều đình Huế, thống nhất (về mặt danh nghĩa) đất Nam Kỳ vào đất nước Việt Nam.
     - Chủ trương cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
     - Về tư pháp, thành lập Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp trên cơ sở thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn. Đạo luật tổ chức nghiệp đoàn đầu tiên ở Việt Nam là do chính phủ Trần Trọng Kím soạn thảo và ban hành ngày 5.7.1945.
     - Đổi chương trình học tiếng Pháp ở bậc Tiểu học và Trung học sang chương trình tiếng Việt, do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn chủ trì biên soạn.
     - Hành chánh được cải tổ với việc dùng chữ Việt trong tất cả các giao dịch của chính phủ ngoại trừ lãnh vực y tế và các văn thư liên lạc với Pháp hoặc với các công ty người Hoa.
     - Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đã thành lập đoàn Thanh niên Tiền tuyến, Thanh niên Xã hội. Trường Thanh niên Tiền tuyến đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh, sĩ quan của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau này.
     - Trong giai đoạn tồn tại cuối, nhận thức được trào lưu, tham gia dàn xếp êm và nhanh chóng việc thoái vị của Bảo Đại để trao quyền lãnh đạo cho chính quyền cách mạng, tránh một cuộc xung đột đổ máu rất có thể xảy ra nếu có sự kháng cự.
     Nhìn chung, xét trên những điều kiện lịch sử cụ thể, trong vô vàn khó khăn các mặt, Nội các Trần Trọng Kim dưới sự lãnh đạo đầy thiện chí của vua Bảo Đại đã đạt được một số thành công nhất định, nhưng tất cả đều dang dở. Một số việc quan trọng về nội trị, ngoại giao đều rất sáng suốt nhưng chỉ vừa kịp đưa ra chủ trương thì thời cuộc đã chuyển sang hướng khác.
     Trong số những thành tích kể trên, thành tích chói lọi nhất tiếp tục ảnh hưởng tốt đến các giai đoạn chuyển tiếp và thậm chí đến bây giờ là chương trình cải cách giáo dục tiếng Việt do Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) chủ trì biên soạn (quen gọi tắt Chương trình Hoàng Xuân Hãn), hoàn thành chỉ trong vòng vài tuần lễ, và được đem ra áp dụng ngay ở miền Trung và miền Bắc (miền Nam vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục cho đến giữa thập niên 1950). Nếu không đủ nhiệt tâm yêu nước và trình độ vững vàng, trên không có “minh quân” một lòng ủng hộ, quyết định nhanh, làm sao một chương trình giáo dục quan trọng như vậy có thể được hoàn thành mau chóng với tốc độ kỷ lục, mà nếu đem so sánh với cách làm việc luộm thuộm ngày nay, với suốt mấy chục năm chương trình học vẫn chưa ổn định, chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt một trời một vực!
     Theo GS Dương Thiệu Tống (1925-2008), so với các chương trình trung học Việt Nam về sau đó, chương trình Hoàng Xuân Hãn là một chương trình cải tổ nền trung học Việt Nam sâu rộng nhất, từ việc thay đổi cấu trúc nền trung học cho đến việc đặt ra những môn học mới, thay đổi nội dung các môn học cũ, nhưng nó đã được thực hiện trong thời gian ngắn nhất và với số giáo sư tham gia ít ỏi nhất. Mỗi môn học chỉ có một hoặc hai người soạn thảo cho tất cả các lớp của bậc trung học từ lớp đệ nhất niên cho đến lớp đệ tam chuyên khoa.
     “Từ khi ra đời cho đến khi giải tán để nhường vai trò lịch sử cho Mặt trận Việt Minh…, nội các Trần Trọng Kim chỉ đứng được 4 tháng, nếu không làm được nhiều việc vĩ đại nhưng ít nhất phải nhận nội các này đã tỏ ra có nhiều thiện chí. Tuy nhiên xét về năng lực, ta thấy Nội các này chỉ có thể thích hợp cho thời bình, do đó ta không lấy làm lạ khi thấy nó lùi bước nhanh chóng trước sự tiến triển mau lẹ của cao trào Cách mạng năm 1945” (Phạm Văn Sơn, Việt sử toàn thư, Sài Gòn, 1960, tr. 706).
     Nội các Trần Trọng Kim thực tế vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương. Chính sách Đại Đông Á, "xây dựng khu vực thịnh vượng chung" của Nhật trước sau vẫn chỉ là một tên gọi khác cho ách thống trị mới của quân phiệt Nhật, và Trần Trọng Kim với tính cách một học giả chưa lọc lõi chính trị đã có lúc nhẹ dạ đặt niềm tin không đúng chỗ.
     Về phần cá nhân Trần Trọng Kim, sau khi hoàn toàn rời khỏi chức vụ cùng với vua Bảo Đại (23.8.1945), ông tạm ở lại Huế khoảng hơn ba tháng trong cảnh sinh hoạt buồn tẻ chờ thu xếp điều kiện trở ra Hà Nội cuối tháng 11.1945. Trong lương tâm thanh thản vì tự cho mình đã làm hết trách nhiệm, ông luôn tỏ ra ngậm ngùi thân thế, chán bỏ công danh, và như lời ông nói, “thế là xong một giấc mộng Nam Kha” (sđd., tr. 98), định bụng già yếu rồi “Không có làm gì nữa và cũng chẳng đi đâu cả, chỉ vui với mấy quyển sách cổ và mấy người bạn cũ, trò chuyện tiêu khiển. Tưởng thế là yên, ngờ đâu tình thế phải phiêu lưu lần nữa” (sđd., tr. 100). Tình thế “phiêu lưu” đó trước nhất là vì cảm thấy “không ở yên”, như lời ông tâm sự với một bạn vong niên (xem Lãng Nhân, sđd., tr. 87), và phần khác muốn tránh trước cuộc binh lửa Việt-Pháp dự đoán sắp xảy ra, kết hợp với mục đích phụ “xem công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ, nếu có thật mà làm được việc gì càng hay, nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này” (sđd., tr. 132). Những chi tiết này cho thấy, Trần Trọng Kim tuy có xu hướng chính cầu an, đã biết ngán ngẫm công danh nhưng vẫn chưa thật sự “tắt lửa lòng”, mà vẫn còn có ít nhiều dự định chính trị nhưng chỉ với thái độ cầu âu tiêu cực, được chăng hay chớ.
     Thế rồi cuối tháng 5.1946, từ Hà Nội ông đã tìm đường lưu vong sang Trung Quốc, theo đường bộ Lạng Sơn, có ý muốn liên lạc lại với Bảo Đại và các nhóm “tòng vong” vì Bảo Đại đã được cử sang đó từ trước hồi tháng 3.1946 dưới danh nghĩa cố vấn cho Chính phủ Lâm thời giao hảo với chính quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng sau đó đi Hồng Kông rồi không về nước.
     Theo nhận định của Lãng Nhân, “Tôi biết ông không có ý ‘tòng vong’ để mưu trở lại chính quyền mà chỉ cốt cho trọn tình nghĩa, và cố vấn cho những người tâm phúc trong Đại Việt như Đặng Văn Sung, Phan Huy Quát, Nguyễn Hữu Trí… để thực hiện chính nghĩa quốc gia mà Bảo Đại tượng trưng” (sđd.,tr. 87)
     Sau nhiều năm tháng sống thiếu thốn Quảng ChâuHồng Kông, ngày 6.2.1947, ông trở về Sài Gòn ở tạm nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Người Pháp cùng cựu hoàng Bảo Đại thu xếp cho ông trở về Sài Gòn lần này là để thăm dò, vận động thành lập chính phủ mới, nhưng khi về đến, ông nhận ra những lời hứa hẹn của Pháp đều giả dối nên quyết định không làm gì.
     Về giai đoạn ở Pháp về, ông có kể trong tập hồi ký, và ở một chỗ khác, kể rõ hơn cho người em trai vợ mình là Bùi Nhung nghe: “Tôi trở về nước có nhiệm vụ dọ dẫm xem Pháp có thật tình không, nghĩa là có cho Việt Nam tự do, độc lập thật sự như trong khối thịnh vượng chung của Anh không? (Commonwealth), Tôi gặp ông Cao ủy ở Sài Gòn. Sau 1 giờ chuyện trò, tôi biết rõ cái dã tâm của thực dân! Liên hiệp Pháp chỉ là một thứ cũi chó mạ vàng! Ông Cao ủy, lúc tiễn tôi ra cửa, có nhã ý muốn nhân danh chánh phủ Pháp giúp tôi một số tiền mở nhà in, để theo đuổi con đường văn hóa. Tôi cám ơn, không nhận. Cũng tiền của dân Việt Nam chứ tiền đâu của Pháp! Hồi Nhật đầu hàng Đồng minh, các cố vấn Nhật biếu tôi một lúc cả 5 chục triệu để làm vốn mở mang văn hóa tôi cũng kiếu, huống hồ của thực dân. Các ông chánh khách tưởng tôi về nắm ghế Thủ tướng, kéo đến chật căn nhà… Khổ quá, có ông bám sát suốt ngày đêm… Có một ông, ông Luật sư cậu biết đó, đêm đến kê ghế bố nằm cạnh giường, nói chuyện cả đêm! Mình mất ngủ, mệt phờ. Tôi đã thú thật với các ông ấy tôi không làm gì cả, các ông không tin!...” (sđd., tr. 99-100).
     Qua một bức thư mới được phát hiện và công bố gần đây, gởi cho Hoàng Xuân Hãn, được ông viết từ Sài Gòn đề ngày 8.5. 1947, chúng ta còn biết chắc thêm nhiều sự thật về những hoạt động và quan điểm chính trị của ông liên quan đến người Pháp, cựu hoàng Bảo Đại và một số đảng phái quốc gia, vì đây là bức thư ông viết riêng cho người tâm phúc, không che giấu sự thật: “Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc ngữ, gửi sang để Ngài [tức Bảo Đại] xem…. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông… Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy, hoang mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau do ông D’Argenlieu sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái độ để cầu hoà bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa vụ của mình, nếu không thì lương tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây, không gặp ông D’Argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu mô lừa dối cả….Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả….Dù sao, tôi cũng không ân hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biết rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên ổn thì tôi về ngoài Bắc, nếu không thì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái quốc, nhưng cái lòng ái quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa vị và quyền lợi, thành ra tranh giành nhau, nghi kỵ nhau rồi lăng mạ lẫn nhau…. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái địa vị bàng quan mà thôi… Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi… Nay V.M. đứng vào cái địa vị chống Pháp, tất là có cái thanh thế rất mạnh…. Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết...” (theo Nguyễn Đức Toàn, Viện nghiên cứu Hán Nôm).
     Đầu tháng 3.1948, ở tuổi 65, vừa túng thiếu vừa mệt mỏi và bất lực trước thời cuộc, lại bị đám chính khách cơ hội tối ngày bao vây trong căn nhà ở đậu chật hẹp của người anh vợ, ông quyết định bỏ Sài Gòn qua Nam Vang (Phnom Penh, Campuchia) sống với người con gái, cũng trong cảnh nghèo túng. Trong thời gian này, ông đã tập hợp các bản thảo nhật ký của mình viết thành cuốn hồi ký Một cơn gió bụi, mà phần kết thúc là nêu lên một số nhận xét về những chỗ hay dở của phong trào Việt Minh và khẳng định tấm lòng chân thành của ông đối với dân tộc. Đây là quyển sách chứa được nhiều sử liệu quý hiếm mà ta không thể tìm thấy bất kỳ ở đâu trong số những tập “chính sử” hiện đại, rất cần được giới nghiên cứu sử học quan tâm khảo định kỹ vì có thể còn một số chi tiết chưa chính xác, để viết lại bộ thông sử sau này, nhất là về những sự kiện lịch sử Việt Nam liên quan giai đoạn 1945-1949.
     Tâm trạng ông vào khoảng thời gian tạm trú Nam Vang được ghi lại ngay trong đầu sách qua hai câu thơ trích dẫn của Đái Thúc Luân (732-789) thời Đường: Liêu lạc bi tiền sự/ Chi li tiếu thử thân (Quạnh hiu buồn nỗi trước kia/ Vẩn vơ chuyện vặt, cười khì tấm thân).  Và trong đoạn tâm sự gần cuối tập hồi ký: “Tôi nay già rồi, không còn hăng hái làm được việc gì nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua, trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời Phật cứu giúp, tôi duy trì được đến bây giờ, mà không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn vậy” (sđd. tr. 185).
     Lãng Nhân kể: “Vốn là người nho nhã phác thực và chân thành, khi không bị lôi cuốn vào trường chính trị, phải đối phó với một canh bạc thò lò sáu mặt, không thích ứng với lòng mình, nên mỗi khi nhàn thoại ông hay mân mê điếu thuốc lá vấn tay, chặc lưỡi một đường triết lý: Nghĩ cho cùng, ở đời chẳng cái đếch gì ra cái đếch gì…” (sđd., tr. 67). 
     Ít lâu sau ông trở về Việt Nam, rồi thuê nhà định cư tại Hà Nội.
     Sau khi do lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại về Sài Gòn dự Đại hội đồng Quốc gia (còn gọi “Quốc dân đại hội”) từ ngày 6.9.1953, được bầu làm Chủ tịch Chủ tịch đoàn nhưng chỉ hư vị và không thực tế làm gì, ông lên Đà Lạt định sống an dưỡng cùng với gia đình nhưng chưa được bao lâu thì mất đột ngột tại đây vì bị đứt mạch máu ngày 2 tháng 12 năm 1953, thọ 71 tuổi, thi thể được đưa máy bay về Hà Nội an táng, cạnh chùa Láng, .
      Theo cách kể có phần hơi úp mở trong tập hồi ký của Bùi Nhung, em trai vợ ông, cũng là người rất yêu quý gần gũi ông, thì cái chết đột ngột của Trần Trọng Kim có khả năng do bàn tay của thực dân cùng bọn a tòng  hãm hại, sau một mũi thuốc chích của ông bác sĩ quen tên Phiếm, Thị trưởng Đà Lạt (sđd., tr. 103-104).      

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Khi an ninh quốc gia bị "tự do ngôn luận" đe dọa


Cảm ơn báo Nhân dân đã biên tập và đăng tải bài viết Tự do ngôn luận và an ninh quốc gia? của tôi. Đây là một vinh dự và sự động viên, chia sẻ quý báu. Mong rằng quý báo luôn là nơi phản ánh những tiếng nói, quan điểm thể hiện trách nhiệm với đất nước, dân tộc của người dân trong và ngoài nước, đem cái nhìn khách quan, đa chiều đến với độc giả.
Trân trọng,
Nguyễn Biên Cương
=====

Các sự kiện diễn ra dồn dập trên thế giới liên quan việc tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo bị tiến công đã và đang khiến dư luận lo ngại do quan hệ trực tiếp tới an ninh quốc gia. Ở Việt Nam, một số người lại tiếp cận sự kiện từ góc độ tiêu cực, coi đó là cơ hội đòi hỏi về cái gọi là "tự do ngôn luận không giới hạn". Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo bài viết của tác giả NGUYỄN BIÊN CƯƠNG mới gửi tới Báo Nhân Dân đề cập vấn đề này.
Thế giới phương Tây đang rung chuyển về việc các tay súng tự xưng thành viên al-Qeada đã xông vào và xả súng ở tòa soạn tạp chí Charlie Hebdo tại Paris, khiến 12 người thiệt mạng và 10 người bị thương. Tạp chí này từng bị tiến công năm 2011 khi đăng bức biếm họa về nhà tiên tri Mohammed. Sau đó, nước Pháp để quốc tang, các quốc gia trong Liên hiệp châu Âu treo cờ rủ tưởng niệm. Hàng nghìn người Pháp xuống đường biểu thị sự đoàn kết, mọi người mang theo biểu ngữ "Tôi là Charlie". Dòng chữ này cũng được bật sáng trên các bảng điện tử cỡ lớn. Nhiều trang báo Pháp chuyển sang nền đen, đăng trên trang nhất dòng chữ lớn "Tôi là Charlie" để tưởng nhớ đồng nghiệp. Tại Anh, Ðức, Bỉ, I-ta-li-a,... công chúng cũng xuống đường. Hàng triệu bản của tờ báo biếm họa sau vụ khủng bố đã được mua như cách thức ủng hộ nạn nhân.
Ở Việt Nam nhóm người tự nhận là "đấu tranh dân chủ", rồi trang web, đài báo của người Việt ở nước ngoài có thái độ thù địch cũng triệt để khai thác sự kiện để ca ngợi "tự do ngôn luận", cho rằng giá trị này có tính tuyệt đối, được thế giới bảo vệ để vu cáo Nhà nước Việt Nam "đàn áp tự do ngôn luận". Trên internet còn lưu truyền hình ảnh một nhóm bóng đá cùng một ông được gọi là "nhân sĩ trí thức" giương biển "Tôi là Charlie" cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh và cố kèm theo khẩu hiệu "ăn theo" như "Tôi là Ba Sàm", "Tôi là Bọ Lập",... Hành động này bị cộng đồng mạng vạch trần, vì đó là thủ đoạn không khác mấy so với việc họ từng ra đường thể hiện "lòng yêu nước" nhưng lại giơ khẩu hiệu ca ngợi, đòi trả tự do mấy kẻ phạm tội trốn thuế, gây rối trật tự công cộng đã bị cơ quan pháp luật xử lý như Lê Quốc Quân, Bùi Thị Minh Hằng,... Thậm chí tối 11-1, BBC đưa tin có hai vị "nhân sĩ trí thức" đến Ðại sứ quán Pháp ở Hà Nội mang theo khẩu hiệu tương tự khẩu hiệu đã trưng trên sân bóng, tự cho rằng việc làm của họ "đại diện cho những người trí thức dân chủ yêu tự do của Việt Nam"! Một số kẻ khác lại trưng ra vài bức ảnh trên trang bìa tờ Le Monde của Pháp đăng những bức ảnh dâm dục, tục tĩu chế nhạo các vị nguyên thủ của nước Nga, nước Pháp,... để chứng minh tự do ngôn luận không giới hạn là mục tiêu của thế giới văn minh!? Việc làm này không khác mấy so với sự lố bịch mà chính họ đã trình diễn năm 2014, khi xảy ra sự kiện ở Hồng Công (Trung Quốc) năm 2014, họ cũng sắm áo phông có in chữ ủng hộ loằng ngoằng, đeo khẩu trang, hè nhau ra đường hô khẩu hiệu, rốt cuộc là tẽn tò vì hô hào mãi cũng chẳng thấy ai tham gia.
Nhìn lại lịch sử, thì từ năm 1970, tờ tiền thân của Charlie Hebdo chạy tít chế giễu để bình luận cái chết của Sác-lơ Ðờ Gôn (Charles de Gaulle), nó đã bị Bộ Nội vụ Pháp cấm ngay lập tức, sau đó tái sinh dưới cái tên Charlie Hebdo như ngày nay. Xtê-phan Xác-bon-ni-ơ (Stéphane Charbonnier), tổng biên tập tạp chí, cũng hiểu rõ mối nguy hiểm mà ông và cộng sự "sống chung". Charbonnier, bút danh là "Charb", có tên trong danh sách những người bị săn tìm nhất của al-Qaeda từ năm 2012. Ngay từ năm 2011, ông đã có vệ sĩ riêng, tòa báo của ông từng bị đốt cháy sau khi hình đấng tiên tri Mohammed được đăng trên trang chủ của tạp chí. Cũng năm 2012, khi Charlie Hebdo dự định xuất bản một loạt tranh biếm họa gây tranh cãi, thí dụ vẽ Mohammed không mặc quần áo hoặc ngồi xe lăn được một người Do thái đẩy... Chính phủ Pháp đã yêu cầu Charlie Hebdo từ bỏ ý định, nhưng Charlie Hebdo vẫn không từ bỏ ý định. Sau khi các bức tranh được công bố, Pháp cho đóng cửa đại sứ quán, trung tâm văn hóa, trường học tại 20 nước vì lo bị trả thù.
Các "fan cuồng tự do phương Tây" ca ngợi đây là hành động của một quốc gia chấp nhận tổn thất cực lớn chỉ để bảo đảm một nhóm công dân nhỏ được nói cái mà họ muốn nói!!! Một số ý kiến cho rằng, không hẳn năm 2012 Chính phủ Pháp chấp nhận tổn thất kinh tế, ngoại giao để bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Rất có thể, thời điểm đó họ biết có cấm cũng không được, vì đó là thời điểm Charlie Hebdo đã đủ nổi tiếng để huy động dư luận xã hội ủng hộ họ kiện nếu như lệnh cấm được đưa ra. Năm 2012, các thẩm phán ở tòa án tối cao có thể có quan điểm về tự do ngôn luận cứng rắn hơn thời điểm năm 1970. Ðóng cửa đại sứ quán, trung tâm văn hóa,... chỉ là việc làm bất khả kháng, bởi có thể khi đó Chính phủ Pháp cũng biết họ sẽ thua nếu vụ kiện được tiến hành. Ở thời điểm này, một nhóm Ðạo hồi ở Pháp đưa đơn kiện các nội dung về Mohammed trên Charlie Hebdo nhưng bị tòa án Pháp bác bỏ. Người theo Hồi giáo đã phải dùng đến công cụ pháp lý, song bất lực tại Pháp - nơi việc cấm móc máy hoặc bôi nhọ các biểu tượng tôn giáo hoặc dân tộc đã được đưa vào quy định pháp luật, trong đó có việc bài xích hoặc bôi nhọ người Do thái bị diệt chủng sẽ bị coi là tội ác.
Mỹ và phương Tây cũng đang bị chia rẽ chung quanh quan điểm giới hạn tự do ngôn luận sau vụ khủng bố. New York Times là một trong nhiều báo phương Tây không đăng lại các bức biếm họa của Charlie Hebdo sau khi vụ thảm sát xảy ra. Nhiều độc giả New York Times giận dữ cho rằng, tờ báo của họ hèn nhát, thiếu tinh thần đoàn kết với Charlie Hebdo và tự do ngôn luận. Giải thích vấn đề này, New York Times có bài Tôi không phải là Charlie Hebdo (I Am Not Charlie Hebdo!) trong đó cho rằng "Tự do ngôn luận nhưng cần tôn trọng niềm tin của người khác". Hen-ri Ra-xen (Henri Roussel), 80 tuổi, người sáng lập tờ Charlie Hebdo năm 1970, đã viết cho vị tổng biên tập quá cố: "Tôi thực sự phản đối anh". Trên tạp chí Nouvel Obs ngay sau vụ khủng bố cũng đăng bài Tôi biết mọi thứ chưa xong của ông Roussel với bút danh Delfeil de Ton, cho rằng: "Ðiều gì đã khiến ông ấy thấy cần thiết khi kéo cả đội vào việc cường điệu hóa nó". Nội dung bài báo cho thấy ông Roussel bất đồng với tạp chí Charlie Hebdo khi nó bị biến thành một cơ quan có tư tưởng bài Hồi giáo và theo chủ nghĩa phục quốc Do thái. Hôm 7-1, Financial Times (Anh) đăng bài cho rằng Charlie Hebdo từ lâu đã có thiên hướng "chế giễu, gây hấn và khiêu khích" người Hồi giáo qua những bức biếm họa của mình, Charlie Hebdo không xứng đáng với những lời tung hô bảo vệ quyền tự do ngôn luận dành cho họ.
Mỗi dân tộc có quan niệm riêng về giá trị. Với người theo Hồi giáo thì Ðấng tiên tri Mohammed có giá trị gấp vạn lần mạng người. Vì vậy, trong mắt họ Charlie Hebdo là một trong những "kẻ khủng bố tinh thần hàng loạt", quan niệm đó có thể so sánh không khác gì quan niệm của phương Tây về al-Qaeda là tổ chức khủng bố. Hiện người Hồi giáo chiếm 10% dân số nước Pháp, nhưng 30% người trẻ dưới 20 tuổi ở Pháp là Hồi giáo, tỷ suất sinh của người Hồi giáo ở Pháp từ bốn đến năm, còn người Pháp chỉ dưới 1,5, thua xa tỷ lệ cần thiết để duy trì. Viễn cảnh Hồi giáo thống trị nước Pháp như trong cuốn sách của M.Hô-lê-béc (M.Houellebecq) công bố gần đây liệu có phải là không còn xa? Hơn 400 người Pháp đầu quân cho IS đang sống hoặc trở về trà trộn vào quê hương liệu có trở thành mối đe dọa an ninh tiềm tàng, thường trực giữa hai thái cực cuồng tín đạo Hồi và cuồng tín tự do ngôn luận?
Sau vụ khủng bố, khi mà nhiều người dân ở các quốc gia phương Tây xuống đường biểu thị đoàn kết và ủng hộ tạp chí Charlie Hebdo thì tại các nước có đông người Hồi giáo như Phi-li-pin, Thổ Nhĩ Kỳ... người dân lại đổ xuống đường biểu tình phản đối tạp chí Charlie Hebdo với những thông điệp như "Tự do ngôn luận không phải là việc xúc phạm đến chúa trời và nhà tiên tri vĩ đại của Allah". Na-xơ An An-xin (Nasr al-Ansi), một thủ lĩnh của al-Qaeda lên tiếng nhận trách nhiệm và coi vụ tiến công ở Charlie Hebdo để "trả thù cho nhà tiên tri", cảnh báo Pháp sẽ hứng chịu thêm nhiều "thảm kịch và khủng bố" khi các chính phủ "thông đồng với nhau với lý do "tự do báo chí" hoặc "tự do tư tưởng"...". Al-Ansi và nhiều nhóm cực đoan, khủng bố Hồi giáo cũng kêu gọi thanh niên Hồi giáo "nổi dậy", miêu tả các vụ tiến công là "điểm bước ngoặt trong lịch sử đối đầu". Hiện tại, an ninh không chỉ ở Pháp mà cả Mỹ và nhiều quốc gia phương Tây đặt trong tình trạng báo động cao nhất, nguy cơ về các vụ khủng bố tiếp tục nổ ra tại bất cứ nơi đâu ở lục địa này, giống như các quả "bom hẹn giờ"... Ðó có phải là dấu hiệu cho thấy vụ khủng bố chống lại một tòa báo đang được đẩy thành xung đột mạnh mẽ giữa phương Tây với thế giới Hồi giáo?
Giới học giả đã bắt đầu bình luận về việc không thể đấu tranh với cực đoan bằng tư duy cực đoan. Ðành rằng, không ai ủng hộ sử dụng bạo lực và khủng bố. Ðây là hành động rất đáng lên án, phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, nhưng xét sự việc dưới nhiều góc độ, không có cách giải quyết mang tính nhân văn thì xung đột xã hội sẽ bùng nổ hoặc sẽ âm ỉ như quả bom hẹn giờ.
Thảm kịch tại tòa soạn Charlie Hebdo và các nguy cơ an ninh lại làm dấy lên câu hỏi: Khi nào các tuyên bố hoặc những lời châm biếm đi quá giới hạn, trở thành lời lẽ có tính chất khiêu khích, thậm chí gây hận thù, cũng như liệu những lời lẽ ấy có thể được "khuyến khích" dưới danh nghĩa bảo vệ quyền tự do ngôn luận hay không? Và đến hôm nay, ngày càng xuất hiện nhiều tiếng nói về việc phải đặt ra các giới hạn để hạn chế hành động của những ai đó luôn "vỗ ngực" ủng hộ, cổ vũ cho tự do ngôn luận một cách thái quá.
http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/binh-luan-phe-phan/item/25418002-khi-an-ninh-quoc-gia-bi-tu-do-ngon-luan-de-doa.html

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Tự do ngôn luận và an ninh quốc gia?



Thế giới phương Tây đang rung chuyển về ba tay súng tự xưng là thành viên Al-Qeada xông vào và xả súng ở tòa soạn tạp chí châm biếm Pháp Charlie Hebdo tại Paris, khiến 12 người, trong đó có tổng biên tập, thiệt mạng, và 10 người bị thương. Nguyên nhân được cho là dòng tweet gần đây nhất của tạp chí Charlie là một bức ảnh biếm họa về lãnh đạo Nhà nước Hồi giáo (IS) Abu Bakr al-Baghdadi.Tạp chí từng bị tấn công năm 2011 khi đăng biếm họa về nhà tiên tri Mohammad của đạo Hồi. 


Ngay lập tức, Tạp chí Charlie Hebdo trở thành công dân danh dự của Paris. Hàng nghìn người Pháp ở khắp các thành phố Paris, Lyon, Bordeaux, Nancy, Rennes, Grenoble... đổ xuống đường phố tuần hành biểu thị sự đoàn kết với tạp chí. Mọi người mang theo biểu ngữ "Tôi là Charlie". Dòng chữ này cũng được bật sáng trên các bảng điện tử cỡ lớn. Nhiều trang báo Pháp chuyển sang nền đen và đăng trên trang nhất dòng chữ lớn "Tôi là Charlie" để tưởng nhớ các đồng nghiệp.Tại các nước Anh, Đức, Bỉ, Italy .., công chúng cũng đổ xuống đường, thắp nến, mang biểu ngữ biểu thị sự đoàn kết với tạp chí bị tấn công.

Nhìn lại lịch sử…

Stéphane Charbonnier, tổng biên tập tạp chí châm biếm Charlie Hebdo, hiểu rõ mối nguy hiểm mà ông và cộng sự đang "sống chung". Charbonnier, bút danh là "Charb", có tên trong danh sách những người muốn săn tìm nhất của al-Qaeda từ năm 2012. Từ năm 2011, ông này đã có vệ sĩ riêng.
Năm 2012, Charlie Hebdo dự định xuất bản một loạt tranh biếm họa gây tranh cãi, ví dụ vẽ Muhammad cởi truồng, hoặc ngồi xe lăn được một người Do Thái đẩy v.v... Chính phủ Pháp khẩn khoản đề nghị Charlie Hebdo từ bỏ ý định, nhưng Charlie Hebdo khước từ. Sau khi các bức tranh được công bố, Pháp cho đóng cửa đại sứ quán, trung tâm văn hoá và trường học ở 20 nước vì lo sợ bị trả thù. Fan cuồng tự do phương Tây ca ngợi đây là hành động của một quốc gia chấp nhận tổn thất kinh tế, ngoại giao v.v... cực lớn chỉ để đảm bảo một nhóm công dân nhỏ được nói cái mà họ muốn nói!!! 

Tuy nhiên, năm 1970, khi tờ tiền thân của Charlie Hebdo chạy tít chễ giễu để bình luận về cái chết của Charles de Gaulle, nó đã bị Bộ Nội vụ Pháp cấm ngay lập tức. (Và sau đó tái sinh dưới cái tên Charlie Hebdo ngày nay). Một số ý kiến cho rằng, không hẳn chính phủ Pháp 2012 chấp nhận tổn thất kinh tế, ngoại giao để bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Rất có thể ở thời điểm đó họ biết có cấm cũng không được, Charlie Hebdo năm 2012 đã đủ nổi tiếng để huy động dư luận xã hội ủng hộ họ kiện chống lại lệnh cấm nếu nó được đưa ra. Các thẩm phán ở toà án tối cao vào năm 2012 có thể có quan điểm về tự do ngôn luận cứng rắn hơn thời điểm 1970. Đóng cửa đại sứ quán, trung tâm văn hoá... chỉ là bất khả kháng vì chính phủ 2012 biết họ sẽ thua trong vụ kiện đó. Được biết, thời điểm này từng có nhóm Đạo hồi ở Pháp đã có đơn kiện về các nội dung về Muhammad trên Charlie Hebdo nhưng bị toà án Pháp bác. Công cụ pháp lý người Hồi giáo đã dùng đến và bất lực ở Pháp – nơi chỉ có luật cấm bài/ chỉ trích các tôn giáo khác (đạo Thiên chúa, Do thái...) nhưng lại không có đề cập đến Islam

New York Times là một trong số rất ít báo phương Tây không đăng lại các bức biếm học của Charlie Hebdo sau khi vụ thảm sát xẩy ra. Ban biên tập đã cần một ngày để đi tới quyết định này, và trong thời gian đó đã thay đổi quan điểm 2 lần. Rất nhiều độc giả của New York Times giận dữ cho rằng tờ báo của họ hèn nhát và thiếu tinh thần đoàn kết với Charlie Hebdo và tự do ngôn luận. Biện minh cho vấn đề này, New York Times  có bài viết cho rằng “Tự do ngôn luận nhưng cần tôn trọng niềm tin của người khác” trong bài báo “I Am Not Charlie Hebdo!”

Còn An ninh quốc gia?

Mỗi dân tộc có khái niệm riêng về giá trị. Với người Hồi giáo Đấng tiên tri Muhammad có giá trị gấp vạn lần mạng người, vì vậy trong mắt họ Charlie Hebdo là một trong những kẻ khủng bố tinh thần hàng loạt, quan niệm đó có thể được so sánh không khác gì quan niệm của phương Tây về Al qaeda là tổ chức khủng bố.

Hiện người Hồi giáo chiếm 10% dân số nước Pháp, nhưng 30% người trẻ dưới 20 tuổi ở Pháp là Hồi Giáo, tỉ suất sinh của người Hồi Giáo ở Pháp đến 4-5 hay hơn, còn người Pháp chỉ dưới 1.5, thua xa tỉ lệ cần thiết để duy trì.Viễn cảnh Hồi giáo thống trị nước Pháp như Michel Houellebecq viết sẽ không còn xa. 

Nay hơn 400 người Pháp tham gia đầu quân cho IS đang sống hoặc trở về trà trộn vào quê hương trở thành mối đe dọa an ninh tiềm tang, thường trực giữa hai thái cực cuồng tín đạo Hồi và cuồng tín tự do ngôn luận?

Nhiều người thử phép so sánh nhỏ. Nước Nhật – Trung - Hàn bao năm gầm ghè nhau mỗi khi chính khách Nhật đến viếng đền thờ tội phạm chiến tranh Yasukini Shrine ở Tokyo! Ở Việt Nam chỉ có vài bài báo viết về có tính kỳ thị vùng miền thôi mà dư luận đã sôi sục lên rồi, nói chi đến đức tin của người Hồi giáo bị xúc phạm và cả thế giới Phương Tây đang cổ vũ cho nó bằng việc mua hàng triệu ấn bản mới của Charlie Hebdo và đăng lại hình ảnh chế giễu Hồi giáo của Charlie Hebdo!
Vụ việc này cho ta liên hệ tới vụ sát hại thanh niên da đen vừa qua của cảnh sát Mỹ nhưng được Tòa án tuyên vô tội và Chính phủ Obama bó tay, đối phó với bạo động trên khắp đất nước! Tức khi người “yếu thế” không thể đòi “công bằng” bằng công lý thì dường như bạo lực, khủng bố là con đường cùng để giải thoát bế tắc. Nhiều ý rằng, báo NYT không đăng lại hình biếm họa Charlie Hebdo  là họ có tư vấn kỹ càng với các cơ quan an ninh quốc gia, và tại thời điểm này họ đặt cái đó lên trên. Vụ Twin Towers tuy xa mà vẫn gần!

Chuyện này lại làm ta nhớ lại vụ Đoàn Văn Vươn, tuy không thật giống, nhưng phản ứng của những người “yếu thế” khi bị dồn đến chân tường thì cũng tương tự nhau. Việc dùng bạo lực để phản ứng thì không ai ủng hộ và phải chịu sự từng phạt của pháp luật, nhưng xét sự việc thì cũng cần nhìn dưới nhiều góc độ, không có cách giải quyết nhân văn thì xung đột xã hội sẽ bùng nổ hoặc sẽ âm ỉ như quả bom hẹn giờ. .

Ở Việt Nam, trên các trang mạng, các anh chị zân chủ đang ra sức ca ngợi tự do ngôn luận được thế giới bảo vệ. Họ trưng ra những bức ảnh tờ báo Le Monde – tạp chí nổi tiếng của Pháp đăng những bức ảnh dâm dục, tuc tĩu chế nhạo các vị nguyên thủ, chứng minh tự do ngôn luận không giới hạn là mục tiêu của thế giới văn minh!?!

Tuy nhiên trên hầu khắp các cộng đồng mạng, thì nổ ra các cuộc tranh luận, không thể chấp nhận thứ tự do ngôn luận vô đạo đức, dâm dục, thô bỉ như báo Le Monde, xỉ nhục niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng dân tộc khác như Charlie Hebdo. Có lẽ chính nhờ nhận thức “kém văn minh” hoặc “chưa có tự do ngôn luận tuyệt đối” này mà gần đây vị Đại sứ Pháp tại Việt Nam Jean Noel Poirierm chia sẻ  “Tôi thấy trong năm vừa rồi xảy ra bao nhiêu chuyện bất ổn liên quan đến an ninh , chính trị trên thế giới , bên cạnh đó vẫn còn chiến tranh , xung đột cũng xẩy ra ở rất nhiều nơi , có thể nói trong năm vừa qua là một năm có rất nhiều biến động trên toàn cầu , không chỉ liên quan tới những nước lớn mà cả nước nhỏ , Tuy nhiên xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN vẩn bình yên và đang ngày càng thịnh vượng đây là sự kỳ diệu, bất chấp Việt nam là quốc gia đa tôn giáo đa sắc tộc. Hi vọng Việt nam sẽ là khuôn mẩu và mô hình cho xã hội tương lai....”

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2015

Phạm Hồng Sơn trở lại và chửi cả làng dân chủ




Bẵng đi một thời gian dài vắng bóng khỏi mọi cuộc biểu tình từ sau phiên tòa xử Cù Huy Hà Vũ, đóng facebook, blog từ tháng 7 đến tận tháng 12 năm 2014 Phạm Hồng Sơn mới xuất hiện trở lại với một số bài viết nhưng gây sốc bởi sự cực đoan quá tả, khác hẳn với hình ảnh một cựu bác sỹ nho nhã trước đây.

Đối tượng bị Phạm Hồng Sơn chửi dữ dội nhất chắc là những “đảng viên”, “trí thức”, “lão thành cách mạng” đã và đang ký tá cả đống thư từ đòi nọ đòi kia nhưng trong thâm tâm thì chưa từ bỏ thần tượng Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, vẫn bày tỏ lòng tin vào Đảng Cộng sản. Trong bài “Một kết luận”, với chất giọng hằn học Phạm Hồng Sơn chửi họ là “lũ người Vô Sỉ”, “tiếp tay cho tội ác chính là tội ác”: 

Tất cả những Trí Thức vẫn bày tỏ tin tưởng, vẫn còn trong đảng cộng sản, vẫn bày tỏ kính trọng Hồ Giáp, nếu không phải vì miếng cơm manh áo cho người lầm than khác (chứ không phải cho bản thân), đều là lũ người Vô Sỉ, tiếp tay cho Tội Ác và chính là Tội Ác”.

Sự hận thù của Phạm Hồng Sơn với tầng lớp “ăn trên ngồi trốc”, hưởng lộc chế độ này không dám từ bỏ quyền lợi được chế độ dành cho để quyết tâm lật đổ, toàn đánh võ mồm “người bị trị cũng ngày càng xướng ra những phát ngôn ủng hộ dân chủ, biểu tỏ phản đối trấn áp tự do nhưng cũng quyết không làm điều gì tổn hại tới danh vị, đặc quyền bản thân do độc tài ban phát”.

Không chỉ chửi tất cả những trí thức mà Phạm Hồng Sơn còn điểm mặt từng người, từng vụ việc chỉ tránh cái tên gọi trực tiếp. Nói về vụ ký tên đòi trả tự do cho Ba Sàm, Bọ Lập…của nhóm “nhân sỹ trí thức” và cả đám a dua, Phạm Hồng Sơn đã ví vọn đó là hành động “Hớ hênh” khi đi kiến nghị, cầu xin một sự vô vọng, cho rằng thay vì những việc làm này đáng lẽ cần có hành động thực chất như hai người anh em họ Huỳnh ở Đà Lạt từng tuyên bố bỏ Đảng mới là “một cách thực chân thành, ôn hòa  nhưng triệt để và công khai”. 

Trong bài Bọ Lập đầu hàng?, để biện hộ cho Lập,  Phạm Hồng Sơn lôi những “trí thức” như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung ra đay nghiến, sỉ vả “Chẳng phải chúng ta đã từng có không phải một mà là hơn hai con người là đảng viên một chính đảng, lại có những điều kiện về chính trị, xã hội, tuổi tác, sức vóc khỏe hơn ông Lập nhiều nhưng đã đầu hàng và đầu hàng một cách hùng biện, thẳng thắn, dứt khoát trước tòa và trên TV đó sao?” bày tỏ thái độ “xót xa cho lý tưởng dân chủ” khi phải chứng kiến những “nhà đấu tranh dân chủ đầu hàng” và cho những người đầu hàng sẽ không còn khả năng thuyết phục, lôi kéo dân chúng nữa: “Chỉ khi chứng tỏ chịu đựng được khắc nghiệt và vượt qua được thử thách, lý tưởng đó mới xứng đáng, mới đủ sức thuyết phục để toàn dân ủng hộ và đeo đuổi đến cùng

Mỉa mai, giọng điệu đầy khỉnh bỉ không kém Phạm Hồng Sơn giành tặng ông chủ Bauxite Việt Nam NGuyễn Huệ Chi trong bài về Bùi Thị Minh Hằng mới đây: “Một lần đi ủng hộ bị cáo trong một phiên tòa, vô tình tôi được gặp một vị Giáo sư danh tiếng cũng đi ủng hộ, thật là vinh dự và vui mừng vô cùng. Nhưng khi bị công an xua đuổi, cả nhóm phải tản ra khỏi khu vực “cấm”, vị Giáo sư hốt hoảng nói với mấy người đi bên cạnh: “Này, đừng đi cùng nhau, không họ lại cho là có tổ chức đấy!” Ngày hôm sau, bài tường thuật về việc đi dự tòa của vị Giáo sư đó tràn ngập khắp mạng, tôi đọc và thấy đúng là bài viết thuộc đẳng cấp giáo sư, rất chữ nghĩa và khí phách.

Tất nhiên không chỉ chửi hết cả làng Vũ Đại, Phạm Hồng Sơn không quên chửi luôn cả dân tộc, nhân dân vì đã lầm lỡ giật đổ “cả một mô hình chính trị ưu việt hơn hẳn”: “Lạ là trong hàng trăm, hàng nghìn người Việt Nam Cộng Hòa, đã từng tiếp tay (nhầm) để giật đổ cái chế độ tự do đó, hiện vẫn đang còn sống mà tôi mới chỉ thấy có mỗi hai anh em ông Huỳnh Nhật Tấn, Huỳnh Nhật Hải ở mãi trên Cao nguyên xa lắc ngỏ lời xin lỗi…”.

Có vẻ như Phạm Hồng Sơn đang chìm trong sự phẫn uất, bế tắc khi đeo đuổi một “phong trào dân chủ” ngày càng vô vọng, dành cả cuộc đời lật đổ “cộng sản” mà con đường ngày càng xa lắc xa lơ. Khi trở nên vô vọng, chìm đắm trong cô đơn, lạc lõng, tất yếu sẽ sinh ra một “hitler” trong tâm tưởng, bất lực hơn sẽ thành Chí Phèo chửi hết cả làng lẫn nước!
 Nguyễn Biên Cương