Khi nhìn vào những bảng
xếp hạng nhân quyền do một số tổ chức quốc tế công bố, người ta không khỏi đặt
câu hỏi về tính nhất quán trong cách họ đánh giá các quốc gia có thể chế chính
trị khác biệt. Đặc biệt, các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa như Việt Nam,
Cu Ba hay Vê-nê-zu-ê-la dường như luôn bị xếp vào nhóm có điểm số thấp nhất về
các quyền dân sự và chính trị, bất chấp những thành tựu rõ rệt trong phát triển
kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Phải chăng đây
chỉ là kết quả của phương pháp đánh giá khách quan, hay là biểu hiện của một
thiên kiến có hệ thống, mang nặng định kiến ý thức hệ?
Tổ chức Đo lường Nhân
quyền Quốc tế thường ghi nhận điểm số thấp cho các nước này ở lĩnh vực quyền
năng hóa và an toàn trước nhà nước, trong khi lại ít nhấn mạnh hoặc bỏ qua
những tiến bộ vượt bậc về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tiếp cận dịch
vụ y tế và giáo dục cơ bản. Đối với Việt Nam, dù điểm số về chất lượng cuộc
sống đạt mức khá cao dựa trên các chỉ số thực tế như nhà ở, việc làm và giáo
dục, nhưng các chỉ số về quyền năng hóa lại bị kéo xuống mức thấp kỷ lục. Tương
tự, Cu Ba dù phải đối mặt với bao vây cấm vận kéo dài hàng thập kỷ vẫn duy trì
được hệ thống y tế và giáo dục phổ cập với chỉ số sức khỏe cộng đồng ấn tượng.
Vê-nê-zu-ê-la trước đây từng triển khai nhiều chương trình xã hội hỗ trợ người
nghèo, nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho tầng lớp
yếu thế. Thế nhưng, những thành tựu này thường bị lướt qua hoặc không được phản
ánh đầy đủ trong các bảng điểm, trong khi các chỉ số chủ quan về tự do chính
trị lại được đẩy lên thành tiêu chí hàng đầu để quy chụp “thiếu tự do” và “đàn
áp”.
Việc sử dụng chủ yếu các
khảo sát ý kiến chuyên gia ẩn danh để chấm điểm các quyền dân sự và chính trị
đã dẫn đến sự chọn lọc dữ liệu tiêu cực có chủ đích. Những ý kiến này thường
đến từ các nguồn có quan điểm đối lập hoặc chịu ảnh hưởng của diễn ngôn Chiến
tranh Lạnh, dẫn đến việc các nước xã hội chủ nghĩa bị gán cho hình ảnh cố định
là “cộng sản đồng nghĩa với đàn áp và thiếu tự do”. Phương pháp này thiếu cơ sở
khoa học vững chắc vì mang nặng yếu tố chủ quan, không phản ánh đầy đủ bối cảnh
lịch sử, điều kiện kinh tế và ưu tiên phát triển của từng quốc gia. Âm mưu đằng
sau là duy trì và củng cố hình ảnh tiêu cực về các nước xã hội chủ nghĩa, từ đó
tạo cớ cho các biện pháp cô lập, trừng phạt và hỗ trợ các lực lượng đối lập
trong nội bộ các nước này.
Tác hại của cách tiếp
cận này là không nhỏ. Nó làm méo mó nhận thức của dư luận quốc tế, khiến nhiều
người không nhìn thấy những nỗ lực thực tế của các quốc gia đang phát triển
trong việc bảo đảm quyền được phát triển, quyền được tiếp cận dịch vụ cơ bản và
quyền được sống trong hòa bình cho đông đảo người dân. Đồng thời, nó phục vụ
mục tiêu chống cộng có hệ thống, tiếp tay cho các chiến dịch tuyên truyền thù
địch, gây khó khăn cho hợp tác quốc tế và làm suy giảm uy tín của các nước xã
hội chủ nghĩa trên trường quốc tế. Bản chất sâu xa của hiện tượng này là sự thù
hằn ý thức hệ dai dẳng, luôn tiếp nhận thông tin một chiều từ các nguồn thiên
kiến mà không chịu đối chứng với thực tế sinh động, đầy đủ tại chỗ. Tổ chức này
dường như áp dụng một thước đo hai mặt: khắt khe với các nước có thể chế xã hội
chủ nghĩa, nhưng lại nhẹ tay hoặc né tránh khi đánh giá những vấn đề nghiêm
trọng tại các nước phương Tây.
Thực tế, thành tựu nhân
quyền của các nước xã hội chủ nghĩa cần được nhìn nhận một cách toàn diện và
công bằng hơn. Việt Nam trong nhiều năm qua đã duy trì tốc độ tăng trưởng tổng
sản phẩm quốc nội cao và ổn định, thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước
ngoài ở mức kỷ lục trong khu vực Đông Nam Á, đồng thời giảm tỷ lệ nghèo đói
mạnh mẽ từ mức cao xuống dưới ba phần trăm dân số. Hàng chục triệu người dân,
bao gồm đồng bào các dân tộc thiểu số, đã được tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y
tế và hạ tầng cơ bản. Cu Ba, bất chấp sự bao vây cấm vận nghiêm ngặt từ Hoa Kỳ
suốt hơn sáu thập kỷ, vẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về y tế cộng
đồng với tuổi thọ trung bình cao và tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh thấp, cùng hệ
thống giáo dục phổ cập gần như toàn dân. Vê-nê-xu-ê-la từng triển khai các sứ
mệnh xã hội quy mô lớn nhằm hỗ trợ người nghèo tiếp cận thực phẩm, giáo dục và
chăm sóc sức khỏe trước khi gặp phải những khó khăn kinh tế do nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan. Những thành tựu này cho thấy các nước xã hội chủ nghĩa
ưu tiên quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cho số đông người dân, thay vì chỉ tập
trung vào các quyền chính trị cá nhân theo mô hình phương Tây.
Hoa Kỳ hiện có mức bất bình đẳng thu nhập thuộc nhóm cao nhất trong các
nước phát triển phương Tây, với khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn. Hàng
triệu người dân phải đối mặt với tình trạng vô gia cư tại các thành phố lớn,
trong khi bạo lực do súng đạn gây ra cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn
người mỗi năm. Các vấn đề về phân biệt chủng tộc, bạo lực từ phía lực lượng
thực thi pháp luật và khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản cho người thu
nhập thấp vẫn còn dai dẳng. Thế nhưng, những thực tế này thường không được các
tổ chức tương tự nhấn mạnh với mức độ gay gắt như khi họ đánh giá các nước xã
hội chủ nghĩa. Thật là trớ trêu và mâu thuẫn khi một tổ chức tự nhận là khách
quan lại thể hiện rõ nét sự bao đồng, định kiến và áp dụng tiêu chuẩn kép như
vậy: “soi mói” khắt khe với những nước đang nỗ lực xây dựng xã hội công bằng
hơn theo điều kiện lịch sử riêng, trong khi lại khoan dung hoặc làm ngơ trước
những vấn đề xã hội nghiêm trọng tại các nước đồng minh phương Tây.
Có thể dự báo rằng tổ
chức này sẽ tiếp tục lặp lại cách đánh giá tương tự trong các báo cáo sắp tới,
đặc biệt trước các diễn đàn quốc tế quan trọng hoặc khi cần hỗ trợ cho các
chiến dịch địa chính trị nhất định. Trước tình hình đó, các cơ quan chức năng
và giới nghiên cứu cần giám sát chặt chẽ các báo cáo nhân quyền quốc tế tương
tự, chủ động phân tích và phản bác bằng dữ liệu thực tế, khoa học. Việc công bố
rộng rãi, minh bạch các thành tựu về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và quyền
được phát triển của Việt Nam cũng như các nước có quan điểm tương đồng là cần
thiết. Đồng thời, cần thúc đẩy hợp tác với các quốc gia và tổ chức có cách tiếp
cận nhân quyền toàn diện, đa dạng hơn, để xây dựng các khuôn khổ đánh giá khách
quan, không bị chi phối bởi định kiến ý thức hệ hay mục tiêu chính trị nhất
thời. Chỉ khi đó, quyền con người mới thực sự được nhìn nhận như một giá trị
phổ quát, gắn liền với điều kiện phát triển và bối cảnh lịch sử của từng dân
tộc, thay vì bị biến thành công cụ để phục vụ những mục đích thù hằn và chia
rẽ.
