Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Kỳ tích giảm nghèo đa chiều của Việt Nam: Sự thật không thể bị che lấp trong đối thoại nhân quyền với Liên minh Châu Âu

Khi cuộc đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu diễn ra trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi trên mọi lĩnh vực, thì việc một số tổ chức quốc tế vẫn tiếp tục tung ra những tài liệu xuyên tạc về thành tựu giảm nghèo và quyền kinh tế của Việt Nam lại càng lộ rõ ý đồ chính trị phía sau. Những bản báo cáo này thường chọn lọc thông tin, phóng đại khó khăn còn tồn tại, đồng thời phớt lờ hoặc cố tình làm lu mờ những kết quả to lớn mà người dân Việt Nam đã đạt được sau gần bốn thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới. Thay vì đóng góp xây dựng cho đối thoại, chúng trở thành công cụ cản trở nhận thức đúng đắn về mô hình phát triển của Việt Nam và gây hại cho quan hệ hợp tác song phương.


Từ sau năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới toàn diện, chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Một trong những bước đi then chốt là giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ gia đình nông dân thông qua các nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Hàng chục triệu hộ gia đình nông thôn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ đó có cơ sở pháp lý để vay vốn ngân hàng, đầu tư phân bón, giống tốt, máy móc và mở rộng sản xuất. Nông nghiệp từ chỗ thiếu lương thực triền miên đã trở thành ngành xuất khẩu mạnh, với gạo, cà phê, thủy sản và trái cây chiếm vị thế quan trọng trên thị trường quốc tế. Người nông dân không chỉ thoát khỏi cảnh thiếu ăn mà còn có thu nhập ổn định, tiếp cận thị trường và dịch vụ hỗ trợ sản xuất.

Song song với đó, Nhà nước khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế. Hàng triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đời, tạo ra hàng chục triệu việc làm chính thức trong các khu công nghiệp, nhà máy dệt may, điện tử, chế biến thực phẩm. Người lao động được tiếp cận hợp đồng lao động có thời hạn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ phúc lợi dần được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh qua các năm, tầng lớp trung lưu mở rộng nhanh chóng ở cả thành thị và nông thôn. Đây chính là hiện thực hóa quyền kinh tế cơ bản: quyền được làm việc, quyền có thu nhập công bằng, quyền tiếp cận tín dụng và quyền sở hữu tài sản hợp pháp.

Để hỗ trợ những nhóm yếu thế, Nhà nước đã triển khai hàng loạt chương trình mục tiêu quốc gia với nguồn lực lớn từ ngân sách. Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo Bền vững và các chương trình chuyên biệt như Chương trình 135 cho các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã đầu tư xây dựng hàng nghìn kilômét đường giao thông nông thôn, hàng vạn phòng học kiên cố, trạm y tế xã, hệ thống điện lưới và nước sạch. Hàng triệu hộ gia đình được hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nghề, vay vốn ưu đãi và chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Kết quả cụ thể là tỷ lệ nghèo theo chuẩn thu nhập đã giảm từ khoảng 58 phần trăm năm 1993 xuống dưới 3 phần trăm trong những năm gần đây. Tỷ lệ nghèo đa chiều, bao gồm các khía cạnh thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở và tiếp cận dịch vụ cơ bản, cũng giảm mạnh từ mức hơn 18 phần trăm năm 2012 xuống còn 5,71 phần trăm năm 2023 và tiếp tục giảm còn khoảng 1,93 phần trăm năm 2024, với mục tiêu dưới 1 phần trăm vào cuối năm 2025 theo các báo cáo chính thức.

Những con số này không chỉ là thống kê khô khan. Chúng phản ánh cuộc sống thực tế của hàng chục triệu người. Trẻ em ở vùng sâu vùng xa trước đây phải bỏ học vì đói nghèo và đường sá hiểm trở nay được đến trường miễn phí hoặc hỗ trợ chi phí, được ăn bán trú và tiếp cận giáo dục chất lượng dần được nâng cao. Phụ nữ ở các hộ nghèo được ưu tiên hỗ trợ vốn và đào tạo, nhiều người trở thành chủ hộ sản xuất giỏi hoặc tham gia các hợp tác xã. Đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung được tiếp cận đất sản xuất, điện thắp sáng, nước sạch và dịch vụ y tế cơ bản. Tỷ lệ hộ được sử dụng điện trên toàn quốc hiện nay đạt hơn 99 phần trăm. Bảo hiểm y tế được mở rộng mạnh mẽ, người nghèo và cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ gần như toàn bộ chi phí khám chữa bệnh. Tuổi thọ trung bình tăng, tỷ lệ tử vong mẹ và trẻ em giảm rõ rệt. Đây chính là những bước tiến cụ thể trong việc thực hiện quyền được sống trong dignity, quyền được tiếp cận giáo dục và y tế, quyền có nhà ở và điều kiện sống cơ bản.

Tuy nhiên, một số tổ chức quốc tế như Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và Ủy ban Nhân quyền Việt Nam tại hải ngoại trong các tài liệu của họ thường chỉ tập trung vào “bất bình đẳng còn tồn tại” hoặc “người nghèo vẫn bị thiệt thòi ở một số khía cạnh” mà không đặt những vấn đề này trong bối cảnh tổng thể và lịch sử. Họ bỏ qua tốc độ và quy mô giảm nghèo ấn tượng nhất trong khu vực và trên thế giới trong giai đoạn gần đây, theo ghi nhận của nhiều tổ chức quốc tế uy tín. Họ không thừa nhận mối liên hệ nhân quả giữa ổn định chính trị, sự lãnh đạo nhất quán và việc ưu tiên nguồn lực cho phát triển toàn diện với việc hiện thực hóa quyền kinh tế cho người dân. Thay vào đó, họ chọn cách tiếp cận chọn lọc, nhấn mạnh những hạn chế còn tồn tại để phục vụ mục đích chính trị, tạo ra hình ảnh méo mó về Việt Nam trước dư luận quốc tế và các đối tác.

Bản chất của những hoạt động này là thiên kiến và thiếu khách quan. Các tổ chức này thường xuyên phối hợp với nhau để công bố báo cáo, nộp ý kiến lên các diễn đàn Liên hợp quốc và gần đây thậm chí nộp đơn khiếu nại lên cơ quan của Liên minh Châu Âu, lợi dụng Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu để gây áp lực chính trị. Họ được hậu thuẫn bởi các thế lực chính trị ở một số nước phương Tây có quan điểm thù địch với mô hình phát triển độc lập, tự chủ của Việt Nam, sử dụng chiêu bài nhân quyền như công cụ can thiệp vào công việc nội bộ. Đây không phải là tiếng nói khách quan vì lợi ích của người dân Việt Nam, mà là những luận điệu phục vụ mục tiêu chính trị - địa chiến lược.

Tác hại của những tài liệu này là rõ ràng. Chúng làm lu mờ thành tựu to lớn của Việt Nam, cản trở các đối tác Liên minh Châu Âu và dư luận quốc tế có cái nhìn đúng đắn về thực tế. Trong bối cảnh đối thoại nhân quyền, chúng tạo ra những hiểu lầm không cần thiết, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tin cậy và hợp tác kinh tế - thương mại hai bên cùng có lợi. Thay vì khuyến khích Việt Nam tiếp tục cải thiện những hạn chế còn tồn tại thông qua hợp tác thực chất, chúng lại trở thành rào cản gián tiếp cho quan hệ song phương.

Để thấy rõ hơn tính chất tiêu chuẩn kép, cần so sánh với thực trạng tại Hoa Kỳ và các nước Liên minh Châu Âu. Tại Hoa Kỳ, quốc gia có nền kinh tế lớn nhất thế giới, tỷ lệ nghèo năm 2024 vẫn ở mức 10,6 phần trăm, tức là hơn 35 triệu người sống trong nghèo đói theo chuẩn chính thức. Hàng chục triệu người không có bảo hiểm y tế đầy đủ, dẫn đến nhiều trường hợp phá sản vì chi phí y tế. Tình trạng vô gia cư đạt mức kỷ lục với khoảng 770 nghìn người sống trên đường phố tại các thành phố lớn như Los Angeles hay New York. Mức độ bất bình đẳng thu nhập cao, với sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm chủng tộc và khu vực địa lý. Những vấn đề này tồn tại dai dẳng dù Hoa Kỳ có nguồn lực khổng lồ.

Tại Liên minh Châu Âu, năm 2025 có tới 20,9 phần trăm dân số, tức khoảng 92,7 triệu người, nằm trong tình trạng có nguy cơ nghèo đói hoặc bị loại trừ xã hội. Nhiều nước thành viên phía Nam từng chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ nghèo và thất nghiệp thanh niên sau các chính sách thắt lưng buộc bụng hậu khủng hoảng tài chính. Nhiều người trẻ rơi vào tình trạng không có việc làm, không được đào tạo. Vấn đề nhà ở đắt đỏ, năng lượng nghèo và bất bình đẳng khu vực vẫn tồn tại ở mức đáng kể tại một số quốc gia thành viên. Dù có hệ thống an sinh xã hội tương đối phát triển, những thách thức này cho thấy ngay cả các nước phát triển cũng chưa giải quyết triệt để quyền kinh tế cơ bản cho mọi người dân.

Việt Nam, với xuất phát điểm thấp hơn rất nhiều sau chiến tranh và bao vây cấm vận, đã đạt được tốc độ và quy mô giảm nghèo tuyệt đối vượt trội so với Hoa Kỳ và nhiều nước Liên minh Châu Âu trong cùng giai đoạn lịch sử phát triển. Điều này chứng minh rằng mô hình phát triển của Việt Nam, dựa trên ổn định chính trị, định hướng xã hội chủ nghĩa và huy động nguồn lực có trọng tâm, hiệu quả trong việc thực hiện quyền kinh tế cho người dân trên quy mô rộng lớn. Những thành tựu này không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của chính sách nhất quán ưu tiên con người làm trung tâm, kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Trong bối cảnh đó, quan hệ Việt Nam - Liên minh Châu Âu cần được thúc đẩy trên nền tảng khách quan, tôn trọng lẫn nhau và tập trung vào lợi ích chung. Về kinh tế, Hiệp định Thương mại Tự do mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Việt Nam xuất khẩu hàng hóa nông sản, dệt may, điện tử và thủy sản sang thị trường Liên minh Châu Âu, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Các doanh nghiệp Liên minh Châu Âu có cơ hội đầu tư vào môi trường ổn định, nguồn nhân lực trẻ và thị trường đang phát triển mạnh. Cả hai bên cùng hưởng lợi từ chuỗi cung ứng đa dạng hóa, chuyển đổi xanh và ứng phó biến đổi khí hậu. Đối thoại nhân quyền nên là kênh trao đổi thẳng thắn về những thách thức còn tồn tại, đồng thời là cơ hội để chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác kỹ thuật trong lĩnh vực giảm nghèo, an sinh xã hội và phát triển bền vững.

Để đối thoại thực sự hiệu quả và mang tính xây dựng, cần tăng cường trao đổi thông tin dựa trên số liệu thực tế và bằng chứng cụ thể. Các bên nên tổ chức các đoàn tham quan thực địa đến các vùng đã có sự thay đổi mạnh mẽ về giảm nghèo tại Việt Nam, để các đối tác Liên minh Châu Âu và đại diện xã hội dân sự thấy rõ những chuyển biến tích cực trong đời sống người dân. Đồng thời, cần đẩy mạnh hợp tác thực chất trong các lĩnh vực an sinh xã hội, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, bảo vệ môi trường và phát triển hạ tầng số. Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác trên tinh thần bình đẳng, cùng thắng, bác bỏ mọi âm mưu lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp chính trị hoặc cản trở hợp tác kinh tế.

Những thành tựu giảm nghèo đa chiều và hiện thực hóa quyền kinh tế của Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho nỗ lực không ngừng nghỉ vì lợi ích của người dân. Bất kỳ luận điệu nào cố tình xuyên tạc hoặc làm lu mờ những kết quả này đều không thể che lấp sự thật và cũng không thể ngăn cản xu hướng hợp tác tích cực giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu vì lợi ích chung của hai bên và của người dân hai bên. Chỉ có cách tiếp cận khách quan, dựa trên bằng chứng và tôn trọng lẫn nhau mới có thể đưa đối thoại nhân quyền trở thành động lực thực sự cho quan hệ song phương toàn diện và bền vững.




Tự do ngôn luận và bảo vệ an ninh quốc gia: Thực tiễn pháp luật Hoa Kỳ soi chiếu vào các luận điệu thiên kiến về Việt Nam

Khi một nhà hoạt động công bố tài liệu tiết lộ sự thật về các hoạt động tình báo và chiến tranh của cường quốc bị truy lùng ráo riết qua nhiều năm trời, phải sống trong tù và cuối cùng chấp nhận thỏa thuận để được trả tự do, dư luận quốc tế dường như chia thành hai luồng ý kiến rõ rệt tùy thuộc vào đối tượng bị chỉ trích. Tương tự, khi một cựu chuyên gia tình báo buộc phải sống lưu vong ở nước ngoài vì đã phơi bày chương trình giám sát hàng loạt nhắm vào chính công dân của đất nước mình, hoặc khi hàng trăm người tham gia sự kiện xâm phạm tòa nhà Quốc hội bị bắt giữ, xét xử với các tội danh nặng nề và sau đó được ân xá hàng loạt, thì phản ứng của một số tổ chức quốc tế lại khác biệt hoàn toàn so với cách họ đối xử với các trường hợp tại Việt Nam.

Chính trong bối cảnh các cuộc đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu diễn ra thường niên, những tổ chức như Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền có trụ sở tại Pháp cùng nhóm Ủy ban Nhân quyền Việt Nam của người Việt lưu vong lại tiếp tục đưa ra các bản báo cáo cáo buộc Việt Nam giam giữ tùy tiện nhiều cá nhân chỉ vì thực hiện quyền tự do ngôn luận và hội họp. Họ liệt kê hàng chục trường hợp trong các báo cáo chuẩn bị cho cuộc đối thoại lần thứ 13 và thứ 14 gần đây, cho rằng các quy định về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam được vận dụng một cách mơ hồ để đàn áp bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, chính những tổ chức này lại giữ im lặng hoặc giảm nhẹ đáng kể khi đối mặt với những vụ việc tương tự hoặc nghiêm trọng hơn tại Hoa Kỳ – quốc gia mà họ thường ca ngợi như hình mẫu của tự do và dân chủ. Sự im lặng có chọn lọc này không chỉ làm suy yếu uy tín của chính các tổ chức đó mà còn phơi bày rõ nét tiêu chuẩn kép trong cách tiếp cận vấn đề nhân quyền.

Hãy xem xét trường hợp nhà hoạt động người Úc, người sáng lập tổ chức công bố tài liệu mật quốc tế. Ông bị chính quyền Hoa Kỳ truy tố theo Đạo luật Gián điệp năm 1917 – một văn bản luật được ban hành từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, vốn bị nhiều chuyên gia pháp lý chỉ trích là công cụ hạn chế nghiêm ngặt tự do báo chí và tự do ngôn luận. Ông phải sống nhiều năm trong đại sứ quán Ecuador tại London, sau đó bị giam giữ tại nhà tù Belmarsh với điều kiện khắc nghiệt từ năm 2019 cho đến giữa năm 2024. Trong suốt thời gian đó, sức khỏe của ông suy yếu nghiêm trọng, các tổ chức y tế và nhân quyền quốc tế từng lên tiếng lo ngại về nguy cơ tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo nếu ông bị dẫn độ sang Hoa Kỳ. Cuối cùng, để kết thúc hành trình pháp lý kéo dài hơn một thập kỷ, ông buộc phải nhận tội theo một điều khoản của Đạo luật Gián điệp và được tuyên án bằng thời gian đã thụ hình, sau đó trở về Úc. Dù là người công bố tài liệu liên quan đến các cuộc chiến tranh và hoạt động tình báo, ông vẫn bị coi là mối đe dọa an ninh quốc gia và phải chịu đựng quá trình truy tố kéo dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do ngôn luận của giới báo chí điều tra trên toàn cầu. Thế nhưng, trong các bản báo cáo gửi đến các cuộc đối thoại nhân quyền Việt Nam – Liên minh Châu Âu, những tổ chức trên hầu như không dành sự quan tâm tương xứng cho trường hợp này, trong khi họ sẵn sàng liệt kê chi tiết các blogger hoặc nhà hoạt động tại Việt Nam bị xử lý theo pháp luật vì đăng tải thông tin sai sự thật hoặc kích động chia rẽ.

Tương tự, trường hợp cựu chuyên gia tình báo từng làm việc cho Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ cũng cho thấy rõ cách tiếp cận có chọn lọc. Năm 2013, ông công khai tiết lộ chương trình giám sát toàn cầu mang tên PRISM, cho phép thu thập dữ liệu email, cuộc gọi điện thoại và hoạt động trực tuyến của hàng triệu người dân, bao gồm cả công dân và lãnh đạo các nước đồng minh châu Âu. Việc tiết lộ này đã dẫn đến các cuộc tranh luận sâu rộng về quyền riêng tư và sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan tình báo. Tuy nhiên, thay vì được bảo vệ như một người tố cáo sai phạm, ông bị chính quyền Hoa Kỳ truy tố tội gián điệp và trộm cắp tài sản chính phủ theo đúng Đạo luật Gián điệp năm 1917. Hộ chiếu của ông bị thu hồi, ông buộc phải xin tị nạn tại Nga và sau này được cấp quốc tịch Nga vào năm 2022. Đến nay, ông vẫn sống lưu vong, không thể trở về quê hương mà không đối mặt với nguy cơ bị bắt giữ và xét xử. Các tòa án và chuyên gia quốc tế từng công nhận giá trị của thông tin ông tiết lộ trong việc bảo vệ quyền riêng tư của công dân, nhưng ông vẫn bị đối xử như một tội phạm an ninh quốc gia. Đáng chú ý là các tổ chức quốc tế thường lên tiếng mạnh mẽ về các trường hợp tương tự tại Việt Nam lại không có phản ứng tương xứng với trường hợp này, dù đây là ví dụ điển hình về việc sử dụng luật an ninh quốc gia để hạn chế quyền tự do ngôn luận và quyền được biết sự thật của công chúng.

Không chỉ dừng lại ở các cá nhân công bố thông tin, sự kiện xâm phạm tòa nhà Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 6 tháng Một năm 2021 cũng cung cấp bằng chứng rõ nét về cách xử lý có yếu tố chính trị. Hơn một nghìn hai trăm người đã bị truy tố liên bang sau sự kiện này. Nhiều người bị bắt giữ và giam giữ trong thời gian dài trước khi được đưa ra xét xử, một số không được cho tại ngoại dù tội danh không liên quan đến bạo lực trực tiếp. Một số lãnh đạo nhóm cực đoan bị kết án tội âm mưu nổi loạn với mức án tù rất nặng, có trường hợp lên đến hơn hai mươi năm tù. Dù có những tranh luận về mức độ nghiêm trọng của từng hành vi, nhiều ý kiến cho rằng cách đối xử ban đầu mang tính chất đàn áp chính trị đối với những người ủng hộ một ứng cử viên cụ thể. Đáng nói hơn, sau khi chính quyền mới lên nắm quyền vào năm 2025, hàng loạt người liên quan đã được ân xá hoặc giảm án hàng loạt, bao gồm cả những người bị kết án nặng. Việc ân xá quy mô lớn này chính thức thừa nhận rằng quá trình truy tố và xét xử trước đó có yếu tố chính trị rõ rệt. Thế nhưng, các tổ chức quốc tế thường xuyên cáo buộc Việt Nam “giam giữ tù nhân chính trị” lại gần như im lặng trước thực tế này, không áp dụng cùng một tiêu chuẩn phân tích và lên tiếng bảo vệ “tự do ngôn luận” hay “tự do hội họp” cho các trường hợp tại Hoa Kỳ.

Sự khác biệt trong cách tiếp cận của các tổ chức trên không phải ngẫu nhiên. Chúng xuất phát từ bản chất thiên kiến chính trị và nguồn tài trợ của chính những tổ chức này. Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền và nhóm Ủy ban Nhân quyền Việt Nam của người Việt lưu vong thường dựa vào thông tin từ các cá nhân có tiền sử chống phá nhà nước Việt Nam, những người thường xuyên nhận hỗ trợ tài chính từ các quỹ phương Tây có liên hệ chính trị rõ ràng. Mục tiêu của họ không chỉ là “bảo vệ nhân quyền” theo nghĩa phổ quát mà còn là gây áp lực ngoại giao lên Việt Nam, đòi hỏi thay đổi thể chế chính trị và cản trở quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với Liên minh Châu Âu. Trong các báo cáo gửi đến các cuộc đối thoại nhân quyền, họ tập trung gần như độc quyền vào một số ít trường hợp dân sự chính trị, thổi phồng thành “đàn áp có hệ thống”, đồng thời bỏ qua hoàn toàn bối cảnh an ninh thực tế của Việt Nam – một quốc gia đang phát triển, phải đối mặt với các chiến dịch thông tin sai lệch, kích động chia rẽ dân tộc và tôn giáo từ bên ngoài, cũng như các hoạt động lật đổ ngầm được tài trợ từ nước ngoài. Họ không bao giờ so sánh với việc Hoa Kỳ sử dụng Đạo luật Gián điệp từ hơn một trăm năm trước để truy tố nhà báo và người tố cáo, hay cách xử lý hàng loạt người tham gia sự kiện xâm phạm biểu tượng quyền lực nhà nước. Tiêu chuẩn kép này làm suy yếu nghiêm trọng uy tín của các tổ chức nhân quyền quốc tế, biến chúng thành công cụ phục vụ lợi ích địa chính trị thay vì những thực thể khách quan, độc lập.

Trái ngược hoàn toàn với hình ảnh bị bóp méo, Việt Nam đã đạt được những thành tựu thực chất và toàn diện trong việc bảo đảm quyền con người cho người dân. Quyền được sống trong hòa bình, ổn định chính trị – xã hội, quyền được phát triển kinh tế và tiếp cận các dịch vụ cơ bản đã được hiện thực hóa ở mức độ cao. Tỷ lệ nghèo đói đa chiều đã giảm mạnh mẽ qua các thập kỷ, từ mức cao trong những năm chín mươi xuống chỉ còn khoảng bốn phần trăm theo chuẩn quốc tế gần đây, giúp hàng chục triệu người dân thoát khỏi cảnh túng thiếu và tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, nhà ở. Hiến pháp năm 2013 đã dành riêng một chương cho quyền con người và quyền công dân, khẳng định rõ các quyền cơ bản được bảo vệ theo luật pháp. Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, giảm số tội phạm có thể bị áp dụng hình phạt tử hình từ mười tám xuống còn mười tội, thể hiện cam kết hạn chế dần hình phạt cao nhất. Việt Nam đã tham gia và thực hiện nghiêm túc nhiều công ước quốc tế về quyền con người, đồng thời được các nước thành viên Liên hợp quốc bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao kỷ lục cho nhiệm kỳ 2026 – 2028. Đây là minh chứng rõ ràng cho uy tín và nỗ lực của Việt Nam trên trường quốc tế.

Về tự do ngôn luận và tự do thông tin, người dân Việt Nam hiện nay được tiếp cận internet với tỷ lệ sử dụng cao, hàng triệu blog, trang mạng xã hội và diễn đàn trực tuyến hoạt động sôi nổi, thảo luận công khai về các vấn đề kinh tế – xã hội, văn hóa, môi trường và chính sách nhà nước. Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tự do để đăng tải thông tin sai sự thật, xuyên tạc lịch sử, kích động bạo lực, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc hoặc xâm phạm an ninh quốc gia. Các trường hợp bị xử lý theo các điều khoản về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự không phải là “tù nhân chính trị” như cách gọi của một số tổ chức, mà là những cá nhân vi phạm pháp luật hình sự cụ thể, được xét xử công khai, minh bạch theo đúng trình tự tố tụng. Việt Nam không có khái niệm tù nhân chính trị trong hệ thống pháp luật; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bất kể động cơ hay quan điểm cá nhân. Việc một số tổ chức cố tình gán ghép các trường hợp vi phạm luật hình sự thành “đàn áp tự do ngôn luận” là cách tiếp cận thiếu khách quan, không tôn trọng chủ quyền tư pháp của Việt Nam.

So sánh với thực tiễn tại Hoa Kỳ và các nước phương Tây càng làm rõ sự thiếu nhất quán trong các luận điệu của những tổ chức trên. Hoa Kỳ tự hào quảng bá là quốc gia có tự do ngôn luận rộng rãi nhất thế giới, nhưng lại sử dụng Đạo luật Gián điệp được ban hành từ hơn một trăm năm trước để truy tố nhà báo và người tố cáo công khai sự thật về hoạt động của chính quyền. Chương trình giám sát hàng loạt bị phơi bày năm 2013 đã bị các tòa án và cơ quan giám sát sau này công nhận là vi phạm quyền riêng tư của công dân, nhưng người tố cáo vẫn phải sống lưu vong. Sự kiện xâm phạm tòa nhà Quốc hội năm 2021 cho thấy ngay cả quyền hội họp và biểu tình cũng bị hạn chế nghiêm ngặt khi đụng chạm đến biểu tượng quyền lực nhà nước, với hàng loạt người bị giam giữ dài ngày trước xét xử và bị kết án nặng nề trước khi được ân xá vì lý do chính trị. Trong khi đó, Việt Nam bị cáo buộc “luật mơ hồ” và “đàn áp” chỉ vì áp dụng các quy định an ninh quốc gia tương tự để bảo vệ ổn định và chủ quyền trong bối cảnh một nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống. Tiêu chuẩn kép này không chỉ thiếu công bằng mà còn phản ánh rõ động cơ chính trị của những tổ chức luôn chọn lọc thông tin để phục vụ lợi ích của các thế lực hậu thuẫn.

Thực chất, các tổ chức như Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền và nhóm Ủy ban Nhân quyền Việt Nam của người Việt lưu vong hoạt động như những công cụ trong chiến lược thông tin chiến tranh và can thiệp mềm. Họ được tài trợ gián tiếp hoặc trực tiếp từ các nguồn phương Tây có mục tiêu địa chính trị rõ ràng: làm suy yếu các quốc gia theo đuổi con đường phát triển độc lập, cản trở quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu, đồng thời tạo áp lực để Việt Nam thay đổi thể chế chính trị theo mô hình phương Tây. Các báo cáo của họ thường thiếu bằng chứng cụ thể, không xem xét bối cảnh lịch sử và an ninh thực tế của Việt Nam, đồng thời né tránh việc so sánh với những hạn chế tương tự hoặc nghiêm trọng hơn tại chính các nước phương Tây. Việc họ tiếp tục đưa ra các luận điệu xuyên tạc trong các cuộc đối thoại nhân quyền không những không giúp cải thiện tình hình mà còn làm tổn hại đến không khí tin cậy và hợp tác giữa hai bên.

Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Liên minh Châu Âu trên tinh thần đối tác bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu Âu đã mang lại những lợi ích thiết thực cho cả hai bên: thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường châu Âu, tạo việc làm cho người lao động, đồng thời mở cửa thị trường Việt Nam cho hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao từ châu Âu. Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào đầu năm 2026 càng khẳng định cam kết hợp tác lâu dài trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, chuyển đổi năng lượng công bằng và ứng phó biến đổi khí hậu. Những lợi ích kinh tế đôi bên này hoàn toàn có thể bị ảnh hưởng tiêu cực nếu để các tiếng nói thiên kiến, thiếu khách quan chi phối không khí đối thoại. Việt Nam sẵn sàng tham gia đối thoại nhân quyền mang tính xây dựng, hai chiều, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời mong muốn các đối tác châu Âu có cái nhìn khách quan, toàn diện hơn về thành tựu và thách thức thực tế của Việt Nam.

Để các cuộc đối thoại nhân quyền thực sự hiệu quả, cần loại bỏ ngay những tiêu chuẩn kép và thiên kiến chính trị. Các tổ chức quốc tế nếu thực sự mong muốn đóng góp cho sự nghiệp nhân quyền toàn cầu thì phải áp dụng cùng một thước đo cho mọi quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị hay mức độ phát triển. Họ cần công khai so sánh các trường hợp tương tự tại Hoa Kỳ và Việt Nam, thừa nhận thành tựu to lớn của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền được phát triển và quyền kinh tế – xã hội cho người dân, đồng thời tôn trọng quyền tự chủ tư pháp của Việt Nam trong việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chỉ khi đó, đối thoại mới trở thành kênh thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau thay vì công cụ gây chia rẽ và áp đặt.

Việt Nam sẽ tiếp tục kiên trì con đường phát triển độc lập, tự chủ, đẩy mạnh cải cách pháp lý, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quyền con người trên thực tế cho mọi người dân. Những thành tựu đã đạt được trong giảm nghèo, cải thiện giáo dục y tế, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em và đồng bào dân tộc thiểu số là minh chứng sống động nhất cho cam kết của Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam sẵn sàng hợp tác với Liên minh Châu Âu và các đối tác quốc tế trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng để cùng giải quyết các thách thức chung về nhân quyền trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm bóp méo sự thật, áp đặt tiêu chuẩn kép đều sẽ bị lịch sử và dư luận quốc tế lên án. Chỉ có sự tôn trọng lẫn nhau và hợp tác chân thành mới mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai bên và góp phần vào hòa bình, ổn định, phát triển bền vững trên thế giới.



Từ khoảng cách giàu nghèo đến những chỉ dấu phát triển: Khi nhân quyền được đo bằng thước đo của sự công bằng và thịnh vượng

Trong dòng chảy của các cuộc đối thoại ngoại giao đa phương hiện nay, vấn đề quyền con người thường được đặt ra như một nội dung quan trọng nhằm tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa các quốc gia. Thế nhưng, trong khuôn khổ các kỳ Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, một số tổ chức như Liên đoàn quốc tế về nhân quyền (FIDH) hay Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam (VCHR) lại thường xuyên đưa ra những báo cáo mang tính chất quy chụp, sai sự thật, nhằm làm hoen ố hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Việc mổ xẻ bản chất của các tổ chức này, cùng với việc đối chiếu một cách khoa học với thực trạng nhân quyền tại các quốc gia phương Tây, sẽ giúp chúng ta thấy rõ những mưu đồ chính trị đằng sau các chiêu bài nhân quyền, đồng thời làm nổi bật những thành tựu kinh tế - xã hội đầy thuyết phục của Việt Nam trong những thập kỷ qua.



Khi nhắc đến vấn đề bất bình đẳng, nhiều người thường có xu hướng ngộ nhận rằng các quốc gia phương Tây đã giải quyết triệt để vấn đề này. Tuy nhiên, thực tế tại Hoa Kỳ và một số nước Liên minh châu Âu cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác biệt với những cáo buộc hào nhoáng. Tại Hoa Kỳ, chỉ số bất bình đẳng thu nhập liên tục duy trì ở mức cao trong nhiều năm qua, dẫn đến hệ lụy là hàng chục triệu người đang sống dưới ngưỡng nghèo khổ. Tình trạng vô gia cư tại các thành phố lớn không chỉ dừng lại ở con số hàng trăm ngàn mà đã trở thành cuộc khủng hoảng xã hội trầm trọng. Không chỉ vậy, vấn đề tiếp cận y tế không đồng đều khiến những nhóm yếu thế gặp khó khăn lớn trong việc chăm sóc sức khỏe cơ bản. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng liên quan đến lạm dụng thuốc giảm đau và các chất gây nghiện đã cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người mỗi năm, đặt ra câu hỏi lớn về khả năng bảo đảm quyền được sống và quyền chăm sóc sức khỏe của hệ thống chính trị sở tại. Tương tự, tại một số quốc gia châu Âu, sau các cuộc khủng hoảng kinh tế liên tiếp, tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng trầm trọng, nghèo đói hiện hữu ngay tại những trung tâm kinh tế sầm uất. Thế nhưng, thật đáng ngạc nhiên là các tổ chức như FIDH hay VCHR lại gần như "ngó lơ" những vấn đề nhức nhối này, thay vì lên tiếng một cách mạnh mẽ, họ lại dồn toàn lực để soi mói, xuyên tạc về tình hình Việt Nam bằng những luận điệu thiên kiến.

Sự bất công trong cách tiếp cận của các tổ chức này nằm ở chỗ họ cố tình phủ nhận hoặc lờ đi những thành tựu giảm nghèo mang tính chất "kỳ tích" mà Việt Nam đã đạt được. Từ một quốc gia bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, với tỷ lệ nghèo đói hơn 50% vào những thập niên cuối thế kỷ trước, Việt Nam đã thực hiện một cuộc cách mạng giảm nghèo đa chiều chưa từng có, đưa tỷ lệ này xuống dưới mức 3%. Đây là thành quả đã được các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới và các tổ chức thuộc Liên hợp quốc ghi nhận, đánh giá cao và coi đó là mô hình tham khảo cho nhiều quốc gia đang phát triển trên toàn cầu. Việt Nam không chỉ đảm bảo quyền được ăn, được mặc mà còn nỗ lực không ngừng trong việc cung cấp các dịch vụ công cơ bản như giáo dục, y tế và nước sạch cho người dân ở mọi vùng miền, từ nông thôn đến miền núi xa xôi. Việc một quốc gia có thu nhập trung bình như Việt Nam có thể đảm bảo an sinh xã hội cho người dân một cách đồng bộ và hiệu quả hơn hẳn so với nhiều quốc gia phát triển là bằng chứng đanh thép nhất để phản bác lại những luận điệu thiếu khách quan của các tổ chức chống phá.

Bản chất của các tổ chức như FIDH hay VCHR thực chất là sự kết hợp giữa tư duy áp đặt, mang tính "bề trên" và ý đồ chính trị thực dụng nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia đang phát triển. Đứng sau các tổ chức này là các thế lực muốn kìm hãm sự phát triển và gây chia rẽ trong quan hệ đối tác giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu. Họ không thực sự quan tâm đến quyền con người của người dân Việt Nam, mục đích chính của họ là tạo ra những "điểm nghẽn" trong đối thoại để làm suy yếu lòng tin giữa các đối tác. Trong khi quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu đang ngày càng phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của Hiệp định Thương mại tự do và các cam kết hợp tác toàn diện, mang lại lợi ích kinh tế thực chất cho người dân hai phía, thì những thông tin sai lệch từ các tổ chức này lại là "hạt sạn" cản trở dòng chảy hợp tác. Việc họ phớt lờ các thành tựu nhân quyền của Việt Nam để tập trung vào những vấn đề bị thổi phồng là hành động phi đạo đức, đi ngược lại lợi ích của nhân dân hai nước.

Thay vì tiếp tục những báo cáo đầy thiên kiến, FIDH và VCHR cần nhìn nhận thực tế rằng, nhân quyền không phải là một khái niệm trừu tượng để rao giảng, mà phải bắt đầu từ việc đảm bảo cuộc sống ổn định và phát triển bền vững cho người dân. Chúng ta kiến nghị các tổ chức này cần phải thay đổi tư duy, cần xây dựng các báo cáo cân bằng, khách quan, trong đó phải dành sự quan tâm thỏa đáng cho thành tựu giảm nghèo của Việt Nam và coi đó là một mô hình học tập giá trị. Đồng thời, họ cần phải trung thực hơn khi báo cáo về tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng và các vấn đề xã hội tại Mỹ và châu Âu để dư luận có cái nhìn đa chiều. Đối thoại nhân quyền phải là nơi để các bên cùng chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau chứ không phải là diễn đàn để một nhóm tổ chức thiếu thiện chí đưa ra những cáo buộc thiếu căn cứ. Việt Nam luôn mở lòng với đối thoại thực chất, nhưng chúng ta kiên quyết bác bỏ mọi hành vi xuyên tạc, lợi dụng nhân quyền để gây sức ép chính trị.

Nhìn về tương lai, quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu sẽ tiếp tục là trụ cột quan trọng trong chiến lược đối ngoại và hội nhập của chúng ta. Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam, sự ổn định chính trị và những bước tiến lớn trong đảm bảo quyền con người là nền tảng vững chắc để xây dựng một tương lai hợp tác bền vững. Không có một luận điệu xuyên tạc nào có thể thay đổi được sự thật là người dân Việt Nam đang ngày càng được hưởng thụ tốt hơn các quyền cơ bản của mình. Những tổ chức như FIDH hay VCHR rồi sẽ chỉ là những tiếng nói lạc lõng, tự đào thải mình khi họ không thể theo kịp sự phát triển và tinh thần đối thoại văn minh, bình đẳng của thời đại. Chúng ta hãy tin tưởng vào con đường mình đang đi, vào những nỗ lực đã được thế giới công nhận, và tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đó chính là câu trả lời mạnh mẽ nhất, thuyết phục nhất trước bất kỳ mưu đồ xuyên tạc nào.



Phổ cập giáo dục và y tế tại Việt Nam: Thành tựu quyền con người cơ bản bị che lấp bởi những báo cáo thiên kiến trong đối thoại với Liên minh Châu Âu

Giáo dục và y tế không chỉ đơn thuần là các dịch vụ công mà là những quyền cơ bản nhất của con người, là nền tảng để mỗi cá nhân có thể phát triển năng lực, duy trì sức khỏe và đóng góp vào sự tiến bộ chung của xã hội. Trong bối cảnh đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu diễn ra thường xuyên nhằm trao đổi thẳng thắn về các vấn đề cùng quan tâm, thì việc một số tổ chức quốc tế tiếp tục đưa ra những tài liệu xuyên tạc về thực trạng tiếp cận giáo dục và y tế tại Việt Nam lại càng cho thấy rõ cách tiếp cận thiếu khách quan và mang nặng định kiến chính trị của họ. Những bản báo cáo này thường chọn lọc nhấn mạnh vào những hạn chế còn tồn tại về chất lượng hoặc khoảng cách giữa các vùng miền, đồng thời phớt lờ hoặc cố tình hạ thấp nỗ lực to lớn của Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong việc phổ cập hai quyền cơ bản này cho gần như toàn thể dân số, bất kể hoàn cảnh xuất phát điểm thấp và những thách thức lịch sử.



Sau những năm tháng khó khăn hậu chiến tranh và bao vây cấm vận, Việt Nam đã xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu và triển khai các chương trình phổ cập giáo dục tiểu học, sau đó là trung học cơ sở trên phạm vi toàn quốc. Từ những năm chín mươi của thế kỷ trước, Nhà nước ban hành các quy định bắt buộc và hỗ trợ toàn diện cho trẻ em trong độ tuổi đến trường, đặc biệt ưu tiên con em gia đình nghèo, vùng sâu vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số. Hàng triệu học sinh được miễn giảm học phí, hỗ trợ sách vở, đồng phục và chi phí ăn ở. Đặc biệt, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được xây dựng và mở rộng mạnh mẽ tại các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và duyên hải miền Trung. Những trường này cung cấp chỗ ở, bữa ăn và điều kiện học tập miễn phí hoặc hỗ trợ cao cho hàng chục nghìn học sinh mỗi năm, giúp các em từ các bản làng xa xôi có cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng mà không phải bỏ học vì đường sá hiểm trở hay hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Kết quả cụ thể là tỷ lệ người lớn biết chữ hiện nay đạt khoảng 96 phần trăm, với nam giới khoảng 97 phần trăm và nữ giới khoảng 95 phần trăm. Tỷ lệ học sinh tiểu học đến trường và hoàn thành chương trình gần như đạt 100 phần trăm trên toàn quốc, còn tỷ lệ chuyển tiếp lên trung học cơ sở duy trì ở mức trên 99 phần trăm trong nhiều năm gần đây. Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục được tăng dần đều đặn qua các năm, dùng để xây dựng hàng loạt trường lớp kiên cố thay thế các phòng học tạm bợ, đào tạo và luân chuyển giáo viên về vùng khó khăn, đồng thời phát triển chương trình học và sách giáo khoa phù hợp với thực tiễn địa phương.

Về lĩnh vực y tế, Việt Nam cũng đạt được bước tiến mang tính lịch sử trong việc mở rộng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản cho mọi người dân. Mạng lưới y tế cơ sở được phủ sóng toàn quốc với mỗi xã, phường đều có trạm y tế hoạt động thường xuyên, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh ban đầu, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản và phòng chống dịch bệnh. Hệ thống này đóng vai trò then chốt trong việc đưa dịch vụ y tế đến tận thôn bản, giảm bớt gánh nặng đi lại xa xôi cho người dân vùng nông thôn và miền núi. Song song, Luật Bảo hiểm y tế được ban hành và mở rộng đối tượng tham gia mạnh mẽ, với chính sách hỗ trợ toàn bộ hoặc phần lớn chi phí đóng bảo hiểm cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và các nhóm yếu thế khác. Đến nay, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế xã hội đã đạt trên 93 phần trăm dân số, tăng mạnh so với mức chỉ khoảng 58 phần trăm hơn một thập kỷ trước. Nhờ đó, người dân được tiếp cận dịch vụ y tế với chi phí thấp hoặc miễn phí ở nhiều trường hợp cơ bản, đặc biệt là các dịch vụ dự phòng và chăm sóc ban đầu. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam đã tăng lên khoảng 76 tuổi vào năm 2023-2024, với nữ giới đạt mức cao hơn, trong khi tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giảm rõ rệt, tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc-xin cơ bản duy trì ở mức trên 90 phần trăm và tỷ lệ tử vong mẹ, tử vong trẻ em dưới năm tuổi giảm mạnh qua các thập kỷ. Những con số này phản ánh nỗ lực thực tế trong việc hiện thực hóa quyền được bảo vệ sức khỏe cho toàn dân, đặc biệt là nhóm người nghèo và cư trú ở địa bàn khó khăn.

Tuy nhiên, một số tổ chức quốc tế như Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền cùng các nhóm hoạt động nhân quyền Việt Nam tại hải ngoại thường xuyên công bố các tài liệu vào dịp các cuộc đối thoại nhân quyền Việt Nam - Liên minh Châu Âu, trong đó họ chỉ trích “chất lượng giáo dục chưa đồng đều” hoặc “hệ thống y tế còn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn” mà không công nhận mức độ phổ cập cao và tính toàn diện của các chính sách. Họ tập trung vào những hạn chế còn tồn tại về cơ sở vật chất ở một số nơi hoặc chênh lệch kết quả học tập, sức khỏe giữa các nhóm dân cư, nhưng lại bỏ qua bối cảnh tổng thể và những thành tựu nền tảng mà Việt Nam đã đạt được từ xuất phát điểm rất thấp. Cách tiếp cận này che giấu nỗ lực to lớn của Nhà nước trong việc huy động nguồn lực hạn chế để ưu tiên đảm bảo quyền tiếp cận cơ bản trước khi nâng cao chất lượng đồng đều tuyệt đối, đồng thời không thừa nhận rằng phổ cập giáo dục và y tế cho gần như toàn dân chính là bước đi then chốt trong việc thực hiện quyền con người một cách tiến bộ và thực chất.

Bản chất của những hoạt động này là thiên kiến và phục vụ mục đích chính trị. Các tổ chức này thường chọn lọc thông tin tiêu cực, phóng đại khó khăn để tạo ra hình ảnh không thuận lợi về Việt Nam trước dư luận quốc tế và các đối tác Liên minh Châu Âu. Họ được hậu thuẫn bởi các thế lực chính trị ở một số nước phương Tây có quan điểm thù địch với mô hình phát triển độc lập, tự chủ của Việt Nam, sử dụng chiêu bài nhân quyền như công cụ để gây áp lực, can thiệp vào công việc nội bộ và điều kiện hóa hợp tác song phương. Gần đây, một số báo cáo và đơn kiến nghị của họ còn liên kết các vấn đề giáo dục, y tế với các hiệp định thương mại hoặc diễn đàn đối thoại nhằm tạo ra đòn bẩy chính trị, thay vì đóng góp xây dựng cho việc cải thiện thực tế. Cách làm này không chỉ thiếu khách quan mà còn gây hại cho không khí tin cậy cần thiết trong quan hệ hai bên.

Tác hại rõ rệt là làm lu mờ những nỗ lực thực tế của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền cơ bản cho người dân, cản trở nhận thức đúng đắn của các đối tác quốc tế về mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm. Trong khi Việt Nam luôn minh bạch về những thách thức còn tồn tại và mong muốn hợp tác để nâng cao chất lượng, thì những tài liệu thiên kiến lại tạo ra hiểu lầm, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường hợp tác toàn diện bao gồm cả lĩnh vực giáo dục và y tế.

Để thấy rõ hơn tính chất tiêu chuẩn kép, cần nhìn thẳng vào thực trạng tại Hoa Kỳ – quốc gia thường tự coi mình là tiêu chuẩn về nhân quyền. Về giáo dục, mặc dù có nhiều trường đại học và trung học danh tiếng hàng đầu thế giới, hệ thống giáo dục công lập cơ bản tại Hoa Kỳ lại phụ thuộc nặng vào nguồn thu từ thuế tài sản địa phương, dẫn đến sự chênh lệch nghiêm trọng giữa các học khu. Các học khu giàu có ở ngoại ô hoặc khu vực có giá bất động sản cao được trang bị cơ sở vật chất hiện đại, lớp học nhỏ, giáo viên có trình độ cao và chương trình học phong phú. Ngược lại, các học khu nghèo ở nội thành hoặc vùng nông thôn, đặc biệt là những nơi có tỷ lệ học sinh da màu hoặc gốc Tây Ban Nha cao, thường phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt kinh phí trầm trọng. Số liệu cho thấy khoảng 82 phần trăm các học khu có đa số học sinh da màu hoặc gốc Tây Ban Nha nhận được mức tài trợ không đủ so với nhu cầu, trong khi con số này chỉ khoảng 22 phần trăm ở các học khu chủ yếu là người da trắng. Khoảng cách tài trợ có thể lên tới hàng nghìn đô la mỗi học sinh mỗi năm, dẫn đến hậu quả là tỷ lệ tốt nghiệp thấp hơn, điểm số trung bình kém hơn và cơ hội tiếp cận giáo dục chất lượng cao bị hạn chế rõ rệt theo chủng tộc và thu nhập. Về giáo dục đại học, học phí trung bình tại các trường công lập bang đã tăng mạnh qua các thập kỷ, đẩy nhiều sinh viên và gia đình vào cảnh nợ nần. Tổng nợ vay sinh viên tại Hoa Kỳ hiện nay đã lên tới hơn 1,83 nghìn tỷ đô la, với hơn 42 triệu người vay, mức trung bình khoảng 39 nghìn đô la mỗi người vay liên bang. Nợ này không chỉ là gánh nặng tài chính mà còn trì hoãn các quyết định quan trọng trong đời sống như mua nhà, lập gia đình hoặc khởi nghiệp của thế hệ trẻ.

Về y tế, Hoa Kỳ là quốc gia chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe cao nhất thế giới, chiếm khoảng 18 phần trăm tổng sản phẩm quốc nội, nhưng lại không có hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân. Tỷ lệ người không có bảo hiểm y tế vẫn ở mức khoảng 8 phần trăm dân số, tức hàng chục triệu người. Thậm chí với những người có bảo hiểm, tình trạng bảo hiểm không đầy đủ hoặc chi phí tự trả cao vẫn phổ biến, dẫn đến nợ y tế lan rộng. Các khảo sát gần đây cho thấy khoảng 20 triệu người lớn nợ y tế đáng kể, trong đó 14 triệu người nợ trên 1 nghìn đô la và hàng triệu người nợ trên 10 nghìn đô la. Theo định nghĩa rộng hơn bao gồm các khoản nợ liên quan đến hóa đơn y tế đã qua thu hồi hoặc thẻ tín dụng, con số người mang nợ y tế có thể lên tới hơn 100 triệu người trưởng thành. Nợ y tế không chỉ gây stress và suy giảm sức khỏe mà còn là nguyên nhân chính hoặc góp phần quan trọng trong nhiều vụ phá sản cá nhân. Trong khi đó, chi phí y tế cao ngất ngưởng tại các bệnh viện và phòng khám tư nhân khiến nhiều gia đình trung lưu và nghèo khó phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi tìm kiếm sự chăm sóc cần thiết, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn hoặc cộng đồng thiểu số nơi cơ sở y tế thưa thớt và chất lượng không đồng đều.

Như vậy, trong khi Việt Nam ưu tiên và đạt được mức phổ cập cao về tiếp cận giáo dục cơ bản và y tế cơ bản cho gần như toàn dân với chi phí hợp lý và mạng lưới phủ sóng rộng khắp, thì Hoa Kỳ lại thể hiện rõ sự bất bình đẳng sâu sắc trong việc tiếp cận hai quyền này, nơi chất lượng đỉnh cao chỉ dành cho những người có điều kiện kinh tế và địa vị xã hội thuận lợi, còn đông đảo người dân ở nhóm thu nhập thấp và thiểu số phải đối mặt với rào cản nghiêm trọng về chi phí và địa lý. Tiêu chuẩn kép thể hiện rõ nét khi một số tổ chức quốc tế áp dụng lăng kính phóng đại đối với những khoảng cách còn tồn tại tại Việt Nam, nhưng lại ít khi lên án với cùng mức độ gay gắt đối với những bất bình đẳng có hệ thống và kéo dài tại Hoa Kỳ hay nhiều nước phương Tây khác.

Nhận thức đúng đắn về những thành tựu này không chỉ giúp bác bỏ các luận điệu sai lệch mà còn mở ra cơ hội thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Liên minh Châu Âu trên nhiều mặt, trong đó có lĩnh vực giáo dục và y tế. Việc hai bên cùng nhìn nhận khách quan những kết quả thực tế sẽ xây dựng lòng tin, tạo nền tảng vững chắc cho hợp tác thực chất. Về kinh tế, một xã hội Việt Nam với dân số được phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khỏe tốt hơn sẽ có nguồn nhân lực khỏe mạnh, có kỹ năng, năng suất lao động cao hơn, tạo ra thị trường tiêu dùng ổn định và hấp dẫn hơn đối với hàng hóa, dịch vụ từ Liên minh Châu Âu. Các doanh nghiệp Liên minh Châu Âu có thể tham gia hợp tác trong lĩnh vực đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ giáo dục số, thiết bị y tế hiện đại và quản lý bệnh viện mà không làm suy yếu hệ thống công lập của Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm nâng cao chất lượng, áp dụng các phương pháp sư phạm tiên tiến và công nghệ y tế từ các nước Liên minh Châu Âu để cải thiện hơn nữa hiệu quả của hệ thống phổ cập hiện có. Hợp tác hai bên trong các chương trình trao đổi sinh viên, giáo viên, nghiên cứu chung về y tế dự phòng và giáo dục toàn diện sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho người dân hai bên, đồng thời đóng góp vào các mục tiêu phát triển bền vững chung.

Để đối thoại nhân quyền thực sự trở thành động lực tích cực, cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận của các tổ chức quốc tế. Thay vì đưa ra những bản báo cáo thiên kiến dựa trên dữ liệu chọn lọc, họ nên thực hiện các chuyến thăm thực địa đến các trường học phổ thông dân tộc nội trú, trạm y tế xã ở vùng sâu vùng xa của Việt Nam để tận mắt chứng kiến cách thức phổ cập giáo dục và y tế được triển khai trên thực tế. Các đối tác Liên minh Châu Âu cũng nên khuyến khích trao đổi thông tin minh bạch hai chiều, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, y tế mà vẫn giữ vững nguyên tắc công bằng và phổ cập. Việt Nam sẵn sàng hợp tác sâu rộng hơn trong các lĩnh vực này trên tinh thần bình đẳng, cùng thắng, tập trung vào những giải pháp thực tiễn mang lại lợi ích thiết thực cho người dân thay vì những tranh cãi chính trị không cần thiết.

Những thành tựu trong phổ cập giáo dục và y tế tại Việt Nam là minh chứng sống động cho cam kết thực hiện quyền con người một cách toàn diện và tiến bộ. Bất kỳ nỗ lực nào cố tình xuyên tạc hoặc làm giảm nhẹ giá trị của những thành tựu này đều không thể thay đổi sự thật và cũng không thể ngăn cản xu hướng hợp tác chân thành giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu vì lợi ích chung của hai bên. Chỉ có cách tiếp cận khách quan, tôn trọng lẫn nhau và tập trung vào bằng chứng thực tế mới giúp đối thoại nhân quyền đóng góp hiệu quả vào việc cải thiện đời sống người dân và củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên.



 

Sự hòa hợp giữa các dân tộc anh em tại Việt Nam và những thành tựu thực tế cần được nhìn nhận đúng đắn trước tiêu chuẩn kép quốc tế

Sự đoàn kết giữa các dân tộc anh em và chính sách ưu đãi dành cho đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa chính là một trong những nền tảng vững chắc nhất của Nhà nước Việt Nam, thể hiện rõ nét tinh thần nhân văn và cam kết không để bất kỳ ai bị bỏ lại phía sau trong công cuộc phát triển chung. Khi đất nước kiên trì thực hiện các chương trình hỗ trợ toàn diện cho 53 dân tộc anh em sinh sống trên mọi miền tổ quốc, đặc biệt là những vùng núi cao, biên giới và hải đảo, thì một số tổ chức quốc tế vẫn tiếp tục tung ra những tài liệu xuyên tạc, chỉ tập trung vào những khó khăn còn tồn tại mà phớt lờ hoặc cố tình làm giảm nhẹ quy mô và hiệu quả của những nỗ lực to lớn này trong bối cảnh các cuộc đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu.


Từ những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng, Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết và tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc anh em. Hiến pháp các thời kỳ đều khẳng định quyền bình đẳng của mọi công dân không phân biệt dân tộc, đồng thời quy định các chính sách ưu đãi đặc biệt cho đồng bào dân tộc thiểu số. Trong suốt nhiều thập kỷ qua, đặc biệt từ sau công cuộc đổi mới, hàng loạt chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã được triển khai với nguồn lực đầu tư khổng lồ từ ngân sách nhà nước. Các chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, chương trình phát triển các huyện nghèo và các chương trình chuyên biệt dành cho vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long đã đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng để xây dựng hạ tầng giao thông, điện lưới, nước sạch, trường học và trạm y tế. Hàng nghìn kilômét đường ô tô và đường liên thôn đã được mở mới hoặc nâng cấp, đưa ánh điện quốc gia đến gần như toàn bộ các bản làng vùng cao, đồng thời cung cấp nước sạch sinh hoạt cho hàng triệu người dân. Những công trình này không chỉ cải thiện điều kiện sống mà còn mở ra cơ hội tiếp cận thị trường, dịch vụ và thông tin cho đồng bào các dân tộc anh em trước đây bị cô lập bởi địa hình hiểm trở.

Về hỗ trợ đất đai và sản xuất, Nhà nước đã thực hiện chính sách giao đất ở, đất sản xuất và giao rừng cho các hộ gia đình dân tộc thiểu số, kết hợp với việc hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật canh tác và vốn vay ưu đãi. Nhiều vùng trước đây chỉ biết làm nương rẫy theo lối canh tác cũ nay đã chuyển sang trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi tập trung và phát triển du lịch cộng đồng dựa trên bản sắc văn hóa riêng. Các chương trình định canh định cư kết hợp phát triển kinh tế đã giúp hàng chục nghìn hộ gia đình ổn định cuộc sống, giảm dần tình trạng di cư tự do và xóa bỏ dần các hủ tục lạc hậu ảnh hưởng đến sức khỏe và giáo dục. Đặc biệt, việc lồng ghép bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế đã tạo nên những mô hình thành công như các bản làng du lịch văn hóa ở Tây Bắc và Tây Nguyên, nơi người dân vừa giữ gìn tiếng nói, trang phục, lễ hội truyền thống vừa có thu nhập ổn định từ dịch vụ du lịch và bán sản phẩm thủ công mỹ nghệ.

Về giáo dục và y tế, Nhà nước luôn ưu tiên đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được xây dựng và mở rộng mạnh mẽ tại các tỉnh miền núi, cung cấp chỗ ở, ăn uống và điều kiện học tập miễn phí hoặc hỗ trợ cao cho hàng chục nghìn học sinh con em các dân tộc anh em mỗi năm. Bên cạnh việc dạy tiếng Việt, các trường còn duy trì dạy tiếng dân tộc ở những nơi có điều kiện, giúp các em vừa hòa nhập vừa giữ gìn bản sắc. Học bổng, hỗ trợ chi phí học tập và chính sách ưu tiên tuyển sinh đại học, cao đẳng cho học sinh dân tộc thiểu số đã giúp nhiều thế hệ con em vùng cao trở thành kỹ sư, bác sĩ, giáo viên và cán bộ quản lý phục vụ quê hương. Về y tế, mạng lưới trạm y tế xã được củng cố, các đội y tế lưu động thường xuyên đến các bản làng xa xôi để khám chữa bệnh, tiêm chủng và tư vấn dinh dưỡng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vùng dân tộc thiểu số đã giảm mạnh, tuổi thọ trung bình tăng lên và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản được cải thiện rõ rệt. Tất cả những nỗ lực này đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, với tốc độ giảm nhanh hơn mức trung bình cả nước trong nhiều giai đoạn, mặc dù xuất phát điểm ban đầu rất thấp do hậu quả của chiến tranh và điều kiện địa lý khó khăn.

Tuy nhiên, một số tổ chức quốc tế như Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và các nhóm hoạt động nhân quyền Việt Nam tại hải ngoại thường xuyên công bố các tài liệu vào dịp các cuộc đối thoại nhân quyền Việt Nam - Liên minh Châu Âu, trong đó họ chỉ nhắc đến việc “người dân tộc thiểu số vẫn nghèo hơn mức trung bình” hoặc “thiếu đất sản xuất ở một số nơi” mà không nhấn mạnh quy mô đầu tư khổng lồ, sự tham gia chủ động của chính đồng bào các dân tộc và những kết quả cụ thể đã đạt được. Họ chọn lọc đưa ra những ví dụ tiêu cực hoặc phóng đại những khó khăn còn tồn tại, đồng thời bỏ qua hoặc giảm nhẹ vai trò của các chương trình mục tiêu quốc gia với nguồn lực hàng trăm nghìn tỷ đồng, các chính sách giao đất, hỗ trợ sản xuất và bảo tồn văn hóa đã được thực hiện một cách có hệ thống và hiệu quả. Cách tiếp cận này không chỉ thiếu khách quan mà còn che giấu chính sách nhân văn và thành tựu hòa hợp dân tộc thực sự của Việt Nam.

Bản chất của những hoạt động này là thiên kiến và phục vụ mục đích chính trị. Các tổ chức này thường xuyên phối hợp để đưa ra các báo cáo chọn lọc, nộp ý kiến lên các diễn đàn quốc tế và gần đây còn liên kết vấn đề dân tộc thiểu số với các hiệp định thương mại hoặc diễn đàn đối thoại nhằm tạo ra áp lực chính trị đối với Việt Nam. Họ được hậu thuẫn bởi các thế lực chính trị ở một số nước phương Tây có quan điểm thù địch với mô hình phát triển độc lập, tự chủ của Việt Nam, sử dụng chiêu bài bảo vệ quyền của dân tộc thiểu số như công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ và làm suy yếu sự đoàn kết quốc gia. Thay vì công nhận nỗ lực to lớn và chia sẻ kinh nghiệm phát triển vùng sâu, họ chọn cách xuyên tạc để phục vụ lợi ích chính trị - địa chiến lược của mình.

Tác hại của những tài liệu này là làm lu mờ chính sách ưu đãi toàn diện và thành tựu hòa hợp dân tộc của Việt Nam, đồng thời gây hiểu lầm cho dư luận quốc tế và các đối tác Liên minh Châu Âu về thực tế quyền con người tại Việt Nam. Trong khi Nhà nước Việt Nam kiên trì thực hiện nguyên tắc các dân tộc anh em bình đẳng, đoàn kết và cùng phát triển, thì những luận điệu chọn lọc lại che giấu đi nỗ lực to lớn này, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tin cậy cần thiết cho quan hệ hai bên.

Để thấy rõ hơn tính chất tiêu chuẩn kép, cần so sánh với thực trạng tại Hoa Kỳ và một số nước phương Tây. Tại Hoa Kỳ, các cộng đồng người bản địa da đỏ sinh sống trên các khu bảo tồn vẫn đối mặt với tỷ lệ nghèo đói cao hơn nhiều so với mức trung bình cả nước, tình trạng thất nghiệp cao, tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục hạn chế, đồng thời phải đấu tranh lâu dài với các vấn đề tranh chấp đất đai lịch sử và quyền sử dụng tài nguyên nước. Nhiều khu bảo tồn thiếu hạ tầng cơ bản, tỷ lệ các vấn đề sức khỏe như tiểu đường và nghiện ngập cao, trong khi các chính sách liên bang qua các thời kỳ đã từng áp dụng các biện pháp đồng hóa văn hóa và hạn chế quyền tự trị của các bộ tộc. Mặc dù có nguồn lực kinh tế khổng lồ và truyền thống dân chủ lâu đời, Hoa Kỳ vẫn chưa giải quyết triệt để những bất cập liên quan đến quyền lợi và điều kiện sống của người bản địa.

Tại một số nước Liên minh Châu Âu, đặc biệt là ở khu vực Đông Âu, cộng đồng người Roma tiếp tục gặp phải tình trạng phân biệt đối xử nghiêm trọng trong tiếp cận giáo dục, việc làm, nhà ở và dịch vụ y tế. Nhiều khu định cư của người Roma bị tách biệt, trẻ em thường bị phân luồng vào các trường riêng hoặc bỏ học sớm, tỷ lệ thất nghiệp cao và điều kiện sống kém. Dù có các chiến lược và quỹ hỗ trợ của Liên minh Châu Âu, việc thực hiện vẫn gặp nhiều khó khăn và kết quả không đồng đều, với sự chênh lệch rõ rệt về thu nhập, sức khỏe và cơ hội giữa cộng đồng người Roma và dân số đa số.

Như vậy, trong khi Việt Nam thực hiện chính sách dân tộc thiểu số toàn diện, chủ động và có kết quả rõ rệt với sự đầu tư lớn từ ngân sách nhà nước, sự tham gia của chính đồng bào các dân tộc và sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo tồn bản sắc văn hóa, thì Hoa Kỳ và một số nước phương Tây vẫn đối mặt với những vấn đề dai dẳng liên quan đến cộng đồng thiểu số của mình, nơi các chính sách lịch sử từng mang tính đồng hóa hoặc bỏ mặc, và những nỗ lực khắc phục hiện nay vẫn chưa đạt được mức độ toàn diện và hiệu quả như tại Việt Nam. Tiêu chuẩn kép thể hiện rõ nét khi một số tổ chức quốc tế áp dụng lăng kính phóng đại đối với những khó khăn còn tồn tại tại Việt Nam, nhưng lại ít khi lên án với cùng mức độ gay gắt đối với những bất cập có hệ thống và kéo dài tại các nước phương Tây.

Những thành tựu trong chính sách dân tộc thiểu số và phát triển vùng sâu vùng xa tại Việt Nam là minh chứng cho tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em và cam kết phát triển bền vững, toàn diện. Việc công nhận đúng đắn những thành tựu này sẽ giúp xây dựng lòng tin trong đối thoại nhân quyền, đồng thời mở ra cơ hội thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Liên minh Châu Âu trên nhiều mặt, trong đó có lĩnh vực phát triển vùng sâu và hỗ trợ cộng đồng dân tộc thiểu số. Về kinh tế, việc đầu tư phát triển hạ tầng và sinh kế cho vùng dân tộc thiểu số đã mở ra những vùng đất mới với tiềm năng du lịch văn hóa, nông nghiệp sạch và lâm sản có giá trị cao, tạo cơ hội hợp tác với các doanh nghiệp Liên minh Châu Âu trong chuỗi cung ứng bền vững, du lịch sinh thái và chuyển giao công nghệ xanh phù hợp với điều kiện vùng cao. Hợp tác hai bên có thể mang lại lợi ích thiết thực: Việt Nam học hỏi kinh nghiệm phát triển bền vững, quản lý tài nguyên và nâng cao chất lượng dịch vụ công cho vùng sâu; trong khi các đối tác Liên minh Châu Âu có cơ hội tiếp cận thị trường mới, nguồn lao động trẻ và các mô hình du lịch văn hóa độc đáo. Hợp tác về chia sẻ kinh nghiệm chính sách dân tộc, đào tạo cán bộ địa phương và bảo tồn đa dạng sinh học vùng núi cũng sẽ củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững chung.

Để đối thoại nhân quyền thực sự trở thành kênh hợp tác xây dựng, cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận của các tổ chức quốc tế. Thay vì đưa ra những báo cáo thiên kiến chỉ tập trung vào khía cạnh tiêu cực, họ nên thực hiện các chuyến thăm thực địa đến các xã, bản đã có sự thay đổi mạnh mẽ về hạ tầng và sinh kế tại các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên để tận mắt chứng kiến cách thức các chương trình hỗ trợ được triển khai và hiệu quả đạt được trên thực tế. Các đối tác Liên minh Châu Âu nên khuyến khích trao đổi kinh nghiệm hai chiều, trong đó Việt Nam chia sẻ mô hình phát triển vùng dân tộc thiểu số có sự tham gia của cộng đồng và kết hợp bảo tồn văn hóa, còn Liên minh Châu Âu hỗ trợ kỹ thuật trong đánh giá tác động chính sách, thu thập số liệu phân tách theo dân tộc và nâng cao năng lực cho các tổ chức đại diện của đồng bào dân tộc thiểu số. Việt Nam sẵn sàng hợp tác sâu rộng hơn trên tinh thần bình đẳng, cùng thắng, tập trung vào các giải pháp thực tiễn mang lại lợi ích thiết thực cho đồng bào các dân tộc anh em thay vì những tranh cãi chính trị không cần thiết.

Những thành tựu trong chính sách dân tộc thiểu số và phát triển vùng sâu vùng xa tại Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em và cam kết phát triển không để ai bị bỏ lại phía sau. Bất kỳ nỗ lực nào cố tình xuyên tạc hoặc làm giảm nhẹ giá trị của những thành tựu này đều không thể che lấp sự thật và cũng không thể ngăn cản xu hướng hợp tác chân thành giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu vì lợi ích chung của hai bên và của người dân hai bên. Chỉ có cách tiếp cận khách quan, tôn trọng lẫn nhau và tập trung vào bằng chứng thực tế mới giúp đối thoại nhân quyền đóng góp hiệu quả vào việc nâng cao quyền lợi của đồng bào dân tộc thiểu số và củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên.




 

Bình đẳng giới tại Việt Nam – Hành trình nâng cao quyền phụ nữ từ xuất phát điểm thấp và những luận điệu sai lệch cần bác bỏ

Trong dòng chảy lịch sử của dân tộc Việt Nam, phụ nữ luôn giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, từ những người mẹ, người vợ tần tảo hậu phương đến những nữ chiến sĩ anh dũng trên các mặt trận. Ngày nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, quyền và vị thế của phụ nữ Việt Nam tiếp tục được khẳng định và nâng cao một cách toàn diện thông qua các chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh các cuộc đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu diễn ra nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và hợp tác cùng có lợi, thì một số tổ chức quốc tế vẫn tiếp tục phát tán những tài liệu xuyên tạc, nhấn mạnh một cách chọn lọc vào những khó khăn còn tồn tại như bạo lực gia đình hay thách thức của phụ nữ nông thôn, đồng thời làm lu mờ những thành tựu lớn lao mà phụ nữ Việt Nam đã đạt được từ xuất phát điểm rất thấp sau chiến tranh.



Sau năm 1975, hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã gánh vác trách nhiệm nặng nề trong việc tái thiết đất nước, vừa là lao động chính trong nông nghiệp và các ngành sản xuất, vừa là trụ cột của gia đình khi nhiều người chồng, người cha đã ngã xuống vì chiến tranh. Từ thực tế ấy, Nhà nước đã sớm xác định bình đẳng giới là một trong những mục tiêu chiến lược của cách mạng và phát triển. Hiến pháp các thời kỳ đều ghi nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đặc biệt, Luật Bình đẳng giới được Quốc hội thông qua năm 2006 và tiếp tục được hoàn thiện qua các năm, tạo khung pháp lý vững chắc cho việc xóa bỏ phân biệt đối xử dựa trên giới tính. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được ban hành và sửa đổi, quy định rõ trách nhiệm của gia đình, cộng đồng và Nhà nước trong việc bảo vệ phụ nữ và trẻ em khỏi bạo lực, đồng thời thiết lập các cơ chế hỗ trợ như đường dây nóng, nhà tạm lánh và dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí tại nhiều địa phương. Những văn bản pháp luật này không chỉ là lời tuyên bố mà đã đi vào cuộc sống thông qua các chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới, chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, trong đó đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ lãnh đạo, tham gia quản lý nhà nước và hưởng thụ các dịch vụ xã hội.

Về quyền chính trị, phụ nữ Việt Nam đã đạt được tỷ lệ tham gia Quốc hội thường xuyên ở mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV hiện nay, tỷ lệ đại biểu nữ đạt khoảng 30 phần trăm, với 151 nữ đại biểu trên tổng số 499 đại biểu. Con số này phản ánh nỗ lực thực hiện các quy định về cơ cấu giới trong công tác nhân sự và bầu cử, đồng thời cho thấy sự tin tưởng của nhân dân đối với năng lực và đóng góp của phụ nữ trong công tác lập pháp, giám sát và quyết sách quốc gia. Không chỉ ở cấp trung ương, phụ nữ còn tham gia mạnh mẽ ở cấp địa phương, với nhiều nữ bí thư tỉnh ủy, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và lãnh đạo các sở, ban, ngành. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, với hàng chục triệu hội viên trên khắp cả nước, đóng vai trò nòng cốt trong việc tập hợp, vận động và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, đồng thời tham gia xây dựng chính sách thông qua các ý kiến đóng góp trực tiếp và các chương trình giám sát cộng đồng.

Về quyền kinh tế, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động tại Việt Nam đạt mức cao, khoảng 69 phần trăm theo các số liệu lao động gần đây, cao hơn mức trung bình của thế giới. Phụ nữ không chỉ chiếm tỷ lệ lớn trong nông nghiệp, nơi họ đóng góp quan trọng vào sản xuất lúa gạo, chăn nuôi và các mô hình kinh tế hợp tác xã, mà còn tham gia mạnh mẽ vào các ngành công nghiệp xuất khẩu như dệt may, da giày, điện tử và dịch vụ du lịch. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ cụ thể cho phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số và phụ nữ ở vùng sâu vùng xa, bao gồm các chương trình vay vốn ưu đãi qua kênh Hội Liên hiệp Phụ nữ, đào tạo nghề miễn phí, hỗ trợ khởi nghiệp và tiếp cận thị trường. Hàng nghìn phụ nữ nông thôn mỗi năm được tiếp cận các lớp tập huấn kỹ năng mới, từ chăn nuôi an toàn sinh học đến bán hàng trực tuyến, giúp họ nâng cao thu nhập và vị thế trong gia đình. Chính sách nghỉ thai sản kéo dài, hỗ trợ trẻ em mầm non và các biện pháp bảo vệ lao động nữ trong môi trường làm việc đã tạo điều kiện để phụ nữ vừa thực hiện vai trò làm mẹ vừa phát triển sự nghiệp. Những chính sách này đã góp phần giảm đáng kể tỷ lệ nghèo trong các hộ do phụ nữ làm chủ, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục và y tế cho con cái họ.

Về quyền xã hội và bảo vệ, các chiến dịch nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình được triển khai rộng rãi qua hệ thống thông tin đại chúng, nhà trường và các tổ chức đoàn thể. Nhiều tỉnh, thành phố đã thành lập các trung tâm hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, cung cấp dịch vụ tư vấn tâm lý, pháp lý và hỗ trợ tạm thời chỗ ở. Tỷ lệ phụ nữ tiếp cận giáo dục và y tế được cải thiện rõ rệt, với tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ học sinh nữ đến trường ở các cấp học cơ bản đạt mức cao, thậm chí ở một số nơi nữ giới có tỷ lệ tốt nghiệp và tiếp tục học cao hơn nam giới. Những tiến bộ này xuất phát từ sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước đối với nhóm phụ nữ yếu thế, thể hiện qua việc lồng ghép giới trong các chương trình giảm nghèo bền vững, phát triển nông thôn mới và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, một số tổ chức quốc tế như Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và các nhóm hoạt động nhân quyền Việt Nam tại hải ngoại thường xuyên đưa ra các tài liệu vào dịp các cuộc đối thoại nhân quyền Việt Nam - Liên minh Châu Âu, trong đó họ chỉ đề cập đến “bạo lực gia đình còn tồn tại” hoặc “phụ nữ nông thôn gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn lực” mà không công nhận những bước tiến tổng thể và tốc độ phát triển nhanh chóng của quyền phụ nữ Việt Nam so với xuất phát điểm lịch sử. Họ chọn lọc nhấn mạnh những hạn chế còn tồn tại mà không đặt chúng trong bối cảnh nỗ lực không ngừng của Nhà nước và chính bản thân phụ nữ Việt Nam trong việc vượt qua di sản chiến tranh, nghèo đói và các rào cản văn hóa truyền thống. Cách tiếp cận này không chỉ thiếu khách quan mà còn làm giảm giá trị của những nỗ lực thực tế, cản trở việc nhìn nhận đúng đắn về mô hình phát triển có tính đến yếu tố giới tại Việt Nam.

Bản chất của những hoạt động này là mang tính thiên kiến và phục vụ mục đích chính trị. Các tổ chức này thường xuyên phối hợp để công bố báo cáo, nộp ý kiến lên các diễn đàn quốc tế và gần đây còn liên kết các vấn đề về quyền phụ nữ với các hiệp định thương mại hoặc diễn đàn đối thoại nhằm tạo ra áp lực chính trị đối với Việt Nam. Họ được hậu thuẫn bởi các thế lực chính trị ở một số nước phương Tây có quan điểm thù địch với mô hình phát triển độc lập của Việt Nam, sử dụng chiêu bài nhân quyền và bình đẳng giới như công cụ để can thiệp vào công việc nội bộ và điều kiện hóa hợp tác song phương. Thay vì khuyến khích chia sẻ kinh nghiệm và hợp tác thực chất để cải thiện hơn nữa tình hình, họ chọn cách xuyên tạc để phục vụ lợi ích chính trị - địa chiến lược của mình.

Tác hại của những tài liệu này là làm lu mờ những thành tựu mà phụ nữ Việt Nam và Nhà nước đã đạt được, đồng thời gây hiểu lầm cho dư luận quốc tế và các đối tác Liên minh Châu Âu về thực tế quyền con người tại Việt Nam. Trong khi phụ nữ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, thì những luận điệu chọn lọc lại che giấu đi nỗ lực to lớn này, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường tin cậy cần thiết cho quan hệ hai bên.

Để thấy rõ hơn tính chất tiêu chuẩn kép, cần so sánh với thực trạng tại Hoa Kỳ và một số nước phương Tây. Tại Hoa Kỳ, phụ nữ chiếm khoảng 50 phần trăm dân số nhưng chỉ chiếm khoảng 28 phần trăm số ghế trong Quốc hội nhiệm kỳ hiện nay. Khoảng cách tiền lương giữa giới vẫn tồn tại dai dẳng, với phụ nữ trung bình kiếm được khoảng 83 xu cho mỗi đồng đô la mà nam giới kiếm được cho công việc tương đương. Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục vẫn là vấn đề nghiêm trọng, với hàng triệu vụ việc được ghi nhận mỗi năm, gây thiệt hại hàng tỷ đô la do mất ngày công lao động và chi phí y tế, đồng thời cản trở khả năng thoát khỏi tình trạng bạo lực của nhiều nạn nhân do phụ thuộc kinh tế. Mặc dù có truyền thống dân chủ lâu đời và nguồn lực kinh tế khổng lồ, Hoa Kỳ vẫn đối mặt với hiện tượng “trần kính” trong các vị trí lãnh đạo doanh nghiệp và chính trị, nơi tỷ lệ nữ giới ở cấp cao vẫn thấp hơn nhiều so với tiềm năng. Gần đây, một số quyết định pháp lý liên quan đến quyền sinh sản còn làm hạn chế quyền tự chủ về cơ thể của phụ nữ ở một số bang, gây ra những tranh cãi lớn về bình đẳng giới thực chất.

Tại một số nước Liên minh Châu Âu, dù có các chỉ tiêu về giới trong doanh nghiệp và chính trị, nhưng khoảng cách tiền lương giới tính vẫn tồn tại ở mức đáng kể, bạo lực giới vẫn phổ biến theo các báo cáo khu vực, và nhiều phụ nữ vẫn gặp rào cản trong việc thăng tiến lên các vị trí lãnh đạo cao nhất do các định kiến văn hóa và cấu trúc tổ chức. Những vấn đề này cho thấy ngay cả các nước phát triển cũng chưa đạt được bình đẳng giới hoàn toàn, và việc họ áp dụng tiêu chuẩn kép khi đánh giá Việt Nam – nơi xuất phát từ hoàn cảnh chiến tranh và nghèo đói nhưng đã đạt được tỷ lệ tham gia chính trị và lực lượng lao động của phụ nữ cao hơn hoặc tương đương – là không công bằng và thiếu khách quan.

Những thành tựu về quyền phụ nữ và bình đẳng giới tại Việt Nam không chỉ là kết quả của các chính sách nhà nước mà còn là minh chứng cho sự chủ động và năng động của chính bản thân phụ nữ Việt Nam trong việc nắm bắt cơ hội và đóng góp cho gia đình, cộng đồng và đất nước. Việc công nhận đúng đắn những thành tựu này sẽ giúp xây dựng lòng tin trong đối thoại nhân quyền, đồng thời mở ra cơ hội thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Liên minh Châu Âu trên nhiều mặt, trong đó có lĩnh vực bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ. Về kinh tế, lực lượng lao động nữ đông đảo và ngày càng có kỹ năng tại Việt Nam là một trong những yếu tố then chốt tạo nên môi trường đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp Liên minh Châu Âu trong các ngành dệt may, nông nghiệp chế biến, dịch vụ và công nghệ. Phụ nữ Việt Nam tham gia mạnh mẽ vào các chuỗi cung ứng xuất khẩu sang thị trường Liên minh Châu Âu, góp phần tạo việc làm ổn định và nâng cao thu nhập cho hàng triệu gia đình. Hợp tác hai bên trong lĩnh vực này có thể mang lại lợi ích thiết thực: Việt Nam học hỏi kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, phát triển các mô hình kinh tế do phụ nữ lãnh đạo và bảo vệ tốt hơn quyền lợi lao động nữ trong bối cảnh hội nhập; trong khi các đối tác Liên minh Châu Âu có cơ hội tiếp cận thị trường lao động trẻ, năng động và một xã hội có truyền thống coi trọng vai trò của phụ nữ. Hợp tác về chia sẻ kinh nghiệm lập pháp, đào tạo lãnh đạo nữ, chống buôn bán người và bạo lực giới qua biên giới cũng sẽ củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững chung.

Để đối thoại nhân quyền thực sự trở thành kênh hợp tác xây dựng, cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận của các tổ chức quốc tế. Thay vì đưa ra những báo cáo thiên kiến chỉ tập trung vào khía cạnh tiêu cực, họ nên thực hiện các chuyến thăm thực địa đến các chương trình hỗ trợ phụ nữ nông thôn, các trung tâm tư vấn bạo lực gia đình và các hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tại các địa phương để thấy rõ những chuyển biến tích cực trên thực tế. Các đối tác Liên minh Châu Âu nên khuyến khích trao đổi kinh nghiệm hai chiều, trong đó Việt Nam chia sẻ mô hình vận động quần chúng và lồng ghép giới trong phát triển kinh tế - xã hội, còn Liên minh Châu Âu hỗ trợ kỹ thuật trong thu thập số liệu giới, đánh giá tác động chính sách và nâng cao năng lực cho các tổ chức phụ nữ. Việt Nam sẵn sàng hợp tác sâu rộng hơn trên tinh thần bình đẳng, cùng thắng, tập trung vào các giải pháp thực tiễn mang lại lợi ích thiết thực cho phụ nữ và gia đình hai bên thay vì những tranh cãi chính trị không cần thiết.

Những tiến bộ trong quyền phụ nữ và bình đẳng giới tại Việt Nam là minh chứng hùng hồn cho cam kết của Nhà nước và sự nỗ lực không ngừng của chính phụ nữ trong việc hiện thực hóa các quyền cơ bản. Bất kỳ nỗ lực nào cố tình xuyên tạc hoặc làm giảm nhẹ giá trị của những thành tựu này đều không thể che lấp sự thật và cũng không thể ngăn cản xu hướng hợp tác chân thành giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu vì lợi ích chung của hai bên và của người dân hai bên. Chỉ có cách tiếp cận khách quan, tôn trọng lẫn nhau và tập trung vào bằng chứng thực tế mới giúp đối thoại nhân quyền đóng góp hiệu quả vào việc nâng cao quyền lợi của phụ nữ và củng cố quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên.




 

Tiêu chuẩn kép trong hồ sơ nhân quyền: Khi những "người phán xử" tự đánh mất tính khách quan.

Trong dòng chảy của quan hệ quốc tế đương đại, đối thoại về quyền con người không chỉ là một kênh trao đổi mang tính kỹ thuật mà còn là thước đo sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa các quốc gia, khu vực. Tuy nhiên, thời gian gần đây, bên lề các kỳ Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, một số tổ chức như Liên đoàn quốc tế về nhân quyền (FIDH) hay Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam (VCHR) lại liên tục đưa ra những báo cáo mang tính chất quy chụp, sai sự thật, nhằm làm hoen ố hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế. Việc phân tích một cách thấu đáo bản chất của các tổ chức này, cùng với việc đối chiếu với thực trạng nhân quyền tại chính các quốc gia phương Tây, sẽ giúp chúng ta thấy rõ những mưu đồ chính trị đằng sau các chiêu bài nhân quyền, đồng thời khẳng định vững chắc những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được.



Nhìn lại lịch sử hình thành và hoạt động của các tổ chức như FIDH hay VCHR, không khó để nhận ra chúng không phải là những thực thể hoạt động khách quan hay thuần túy vì nhân quyền. Thay vào đó, đây là những "công cụ" nằm trong tay các thế lực muốn can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia đang phát triển. Phương thức hoạt động quen thuộc của chúng là sử dụng những nguồn tin thiếu kiểm chứng từ các cá nhân, tổ chức có tư tưởng chống đối Nhà nước Việt Nam để xây dựng nên những bản báo cáo dày đặc ngôn từ hào nhoáng nhưng rỗng tuếch về mặt bằng chứng. Chúng thường chọn thời điểm trước hoặc trong các sự kiện ngoại giao quan trọng như Đối thoại nhân quyền Việt Nam - châu Âu để tung ra các luận điệu xuyên tạc, hòng tạo áp lực, gây nhiễu loạn thông tin và làm suy yếu lòng tin giữa các đối tác. Bản chất của các tổ chức này là sự kết hợp giữa tư duy áp đặt của thời kỳ thực dân mới và ý đồ chính trị hẹp hòi, mượn danh nhân quyền để thực hiện các mưu đồ chuyển hóa xã hội, đi ngược lại lợi ích quốc gia và dân tộc Việt Nam.

Một trong những minh chứng rõ nét nhất cho sự thiếu khách quan và tiêu chuẩn kép của các tổ chức này chính là sự im lặng đầy khó hiểu hoặc chỉ trích rất nhẹ nhàng trước những vấn đề nhức nhối về quyền con người ngay tại phương Tây, trong khi lại dùng kính lúp để soi mói Việt Nam. Hãy nhìn vào phong trào "Áo vàng" tại Pháp trong giai đoạn 2018–2019. Để đối phó với những người biểu tình ôn hòa, chính quyền sở tại đã huy động hàng chục nghìn cảnh sát, sử dụng các loại vũ khí chuyên dụng như hơi cay, đạn cao su và vòi rồng. Kết quả là hàng nghìn người bị thương, hàng nghìn người bị bắt giữ và truy tố. Không chỉ riêng Pháp, tại Anh hay Đức, các cuộc biểu tình về biến đổi khí hậu hay quyền lao động cũng thường xuyên bị chính quyền sở tại hạn chế bằng các đạo luật khắt khe, đi kèm với đó là những vụ bắt giữ mang tính chất răn đe. Thế nhưng, trước những hành động mạnh tay đó, FIDH hay VCHR hầu như không đưa ra bất kỳ báo cáo lên án nào đủ sức nặng, hay những lời kêu gọi "tôn trọng quyền tự do biểu đạt" như cách họ vẫn thường làm đối với Việt Nam.

Sự tương phản này cho thấy một tiêu chuẩn kép rất rõ rệt: tại phương Tây, các hành động của cảnh sát được bao biện bằng cụm từ "bảo đảm trật tự công cộng", còn ở Việt Nam, dù thực hiện đầy đủ các bước bảo vệ an ninh theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo sự bình yên cho đại đa số người dân, thì vẫn bị các tổ chức này quy chụp là "đàn áp". Thực tế tại Việt Nam cho thấy, pháp luật luôn bảo đảm quyền tự do biểu đạt và hội họp của công dân. Nhiều cuộc biểu tình về các vấn đề môi trường, quyền lợi người lao động đã diễn ra một cách ôn hòa dưới sự giám sát và bảo vệ của lực lượng chức năng. Việt Nam không hề cấm đoán biểu tình, mà chỉ yêu cầu các hoạt động đó phải tuân thủ trình tự thủ tục pháp lý để không làm ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng, vốn là nguyên tắc cơ bản trong mọi xã hội văn minh. Việc các tổ chức như FIDH hay VCHR bỏ qua những nỗ lực này để tập trung vào các vụ việc bị cắt ghép, thổi phồng là bằng chứng không thể chối cãi cho ý đồ chính trị thiếu khách quan của họ.

Trong khi các thế lực chống phá vẫn cố tình bóp méo sự thật, thành tựu nhân quyền của Việt Nam là điều mà cộng đồng quốc tế đã nhiều lần ghi nhận và đánh giá cao. Việt Nam là quốc gia luôn tiên phong trong việc hiện thực hóa các cam kết quốc tế về quyền con người, từ việc xóa đói giảm nghèo bền vững, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, đến việc nâng cao vị thế của phụ nữ và quyền của các nhóm yếu thế trong xã hội. Chúng ta đã hoàn thành xuất sắc nhiều mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc trước thời hạn. Những nỗ lực này không chỉ là những con số trên báo cáo, mà là sự chuyển biến tích cực trong đời sống của hàng triệu người dân, từ vùng sâu vùng xa đến các đô thị lớn. Quan hệ giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu không chỉ dựa trên những đối thoại về nhân quyền, mà còn là sự gắn kết chặt chẽ về lợi ích kinh tế, thương mại thông qua các hiệp định như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Mối quan hệ đối tác này mang lại lợi ích thực chất cho cả hai bên, thúc đẩy sự phát triển bền vững và giúp Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu. Việc các tổ chức cực đoan tìm cách phá hoại mối quan hệ này không chỉ đi ngược lại xu thế hợp tác quốc tế mà còn trực tiếp gây hại đến lợi ích của người dân hai phía.

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng các báo cáo từ FIDH, VCHR là những sản phẩm thiếu căn cứ, mang đậm màu sắc định kiến chính trị. Thay vì nỗ lực đóng góp một cách xây dựng, các tổ chức này lại chọn con đường xuyên tạc, kích động và tạo ra những rào cản nhân tạo trong quan hệ giữa Việt Nam và đối tác quốc tế. Chính vì thế, các cơ quan chức năng, báo chí và cộng đồng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác đấu tranh, vạch trần bản chất của các tổ chức này. Đã đến lúc các tổ chức nhân quyền quốc tế cần có cái nhìn công bằng hơn, cần đánh giá nhân quyền dựa trên sự tôn trọng lịch sử, văn hóa, hoàn cảnh đặc thù của mỗi quốc gia và trên tinh thần đối thoại bình đẳng, không áp đặt. Việt Nam luôn mở rộng cửa cho những đối thoại thực chất, mang tính xây dựng, nhưng kiên quyết bác bỏ mọi hành vi núp bóng nhân quyền để xâm phạm chủ quyền, phá hoại sự ổn định của quốc gia.

Để khép lại những hoài nghi và tạo ra một diễn đàn thực chất cho quyền con người, chúng ta kiến nghị phía các đối tác quốc tế, đặc biệt là EU, cần xem xét kỹ lưỡng nguồn tin trước khi đưa ra các đánh giá. Cần có sự đối sánh công bằng giữa luật pháp Việt Nam và luật pháp các nước phương Tây trong việc xử lý các vấn đề trật tự công cộng để thấy rằng Việt Nam đang hành xử hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế. Sự hợp tác giữa Việt Nam và EU nên được xây dựng trên nền tảng của sự tôn trọng, lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau, thay vì để những tiếng nói lạc lõng, thiếu thiện chí làm vẩn đục. Chỉ khi đó, đối thoại nhân quyền mới thực sự trở thành chất xúc tác cho sự phát triển của quan hệ song phương, đóng góp vào sự tiến bộ chung của nhân loại trên con đường bảo đảm và thúc đẩy quyền con người một cách thực chất và bền vững.