Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Sự thật đằng sau chỉ số xếp hạng của Phóng viên Không biên giới: Bản chất môi trường thông tin Việt Nam và ranh giới của các bảng xếp hạng đơn phương.

Mọi giá trị nhân quyền chân chính, bao gồm quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin, đều là thành tựu tiến bộ của văn minh nhân loại và phải được đánh giá thông qua một phương pháp luận khoa học, trung lập, tôn trọng bối cảnh lịch sử cũng như chủ quyền pháp lý của mỗi quốc gia. Việc Liên minh châu Âu công bố các nhận định thường niên về tình hình dân chủ, nhân quyền thế giới, trong đó có Việt Nam, từ lâu đã bộc lộ những khoảng cách lớn giữa thực tiễn phát triển sinh động tại cơ sở với những đánh giá bị chi phối bởi tư duy chính trị hóa. Đặt văn kiện này trong dòng chảy quan hệ quốc tế đương đại, có thể nhận thấy một kịch bản lặp đi lặp lại: Liên minh châu Âu thường xuyên vay mượn các con số xếp hạng mang tính áp đặt từ các tổ chức phi chính phủ phương Tây để dựng lên một bức tranh thiếu khách quan về Việt Nam. 


Ghi nhận bối cảnh chung, văn kiện năm 2025 của Liên minh châu Âu được ban hành trong thời điểm thế giới đối mặt với những chuyển dịch địa chính trị phức tạp, sự bùng nổ của không gian mạng và những thách thức mới về an ninh thông tin. So sánh với nội dung năm 2024 và các thời kỳ trước, điểm khác biệt nổi bật trong tài liệu năm 2025 là sự mở rộng phạm vi phán xét sang các quy định pháp lý điều chỉnh không gian mạng, quản lý mạng xã hội và công tác bảo vệ an toàn thông tin quốc gia của Việt Nam. Nếu như trong các giai đoạn trước, Liên minh châu Âu tập trung chủ yếu vào một số vụ việc tư pháp riêng lẻ, thì nay họ đã gia tăng sự can thiệp vào cấu trúc quản trị công nghệ và môi trường truyền thông số. Sự chuyển dịch này vô hình trung tạo ra một cái nhìn sai lệch, tác động tiêu cực đến hình ảnh và uy tín quốc tế của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương. Nguy hiểm hơn, những nhận định thiếu chính xác này rất dễ bị các lực lượng phản động lưu vong, các nhóm cơ hội chính trị lợi dụng để khoác lên mình chiếc áo "đấu tranh cho tự do thông tin", từ đó kích động chia rẽ, hạ thấp vị thế đối ngoại của Việt Nam trong tiến trình hội nhập toàn cầu.

Sự thiếu khách quan của Liên minh châu Âu thể hiện rõ nhất ở việc họ tiếp tục coi các bảng xếp hạng của Tổ chức Phóng viên Không biên giới như một thước đo chuẩn mực. Trong các báo cáo gần đây, Phóng viên Không biên giới xếp Việt Nam ở vị trí 173 trên tổng số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, dù có ghi nhận sự tăng nhẹ một bậc so với kỳ đánh giá trước đó. Tuy nhiên, một con số đơn lẻ hoàn toàn không thể tự giải thích hay phản ánh đúng bản chất của môi trường thông tin phong phú tại Việt Nam. Bóc tách phương pháp luận của Phóng viên Không biên giới cho thấy, bản chỉ số này không dựa trên các khảo sát định lượng toàn dân hay các thống kê thực địa minh bạch, mà chủ yếu được tổng hợp từ các bản câu hỏi định tính gửi cho một nhóm nhỏ "chuyên gia" do chính tổ chức này lựa chọn. Danh tính, năng lực và mức độ trung lập của đội ngũ "chuyên gia" này chưa bao giờ được công khai. Nhiều người trong số đó là các cá nhân mang tư tưởng định kiến, thậm chí là những đối tượng có hoạt động vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam đã lẩn trốn ra nước ngoài. Việc thu thập dữ liệu thông qua các sự cố riêng lẻ bị thổi phồng, cắt ghép bối cảnh, hoàn toàn bỏ qua cấu trúc tổng thể của môi trường truyền thông Việt Nam, khiến cho thứ hạng này trở thành một sản phẩm của sự suy diễn mang nặng màu sắc chính trị.

Thực tế đời sống báo chí và truyền thông tại Việt Nam vận hành theo một mô hình báo chí chuẩn tắc, lấy lợi ích của nhân dân và sự ổn định của đất nước làm giá trị cốt lõi. Sự gia tăng một bậc trên bảng xếp hạng, dù nhỏ, chỉ là một nét chấm phá không phản ánh hết sự bùng nổ của môi trường thông tin thực tế. Việt Nam hiện có hàng trăm cơ quan báo chí, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình cùng hàng chục triệu tài khoản mạng xã hội đang hoạt động tự do, sáng tạo hàng ngày. Mọi người dân đều có quyền truy cập, chia sẻ thông tin và bày tỏ ý kiến cá nhân trên các nền tảng số một cách công khai, dân chủ. Việc Nhà nước ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh không gian mạng hoàn toàn không nhằm hạn chế tự do ngôn luận, mà nhằm thiết lập một môi trường mạng an toàn, lành mạnh, ngăn chặn các hành vi lừa đảo, vu khống, tin giả và kích động bạo lực. Đây là mô hình quản trị hoàn toàn phù hợp với Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, trong đó quy định rõ việc thực thi quyền tự do ngôn luận phải chịu những hạn chế do pháp luật quy định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội.

Bên cạnh việc lạm dụng chỉ số của Phóng viên Không biên giới, Liên minh châu Âu còn sa vào sai lầm hệ thống khi lấy nguồn từ một mạng lưới các tổ chức phi chính phủ có tư tưởng thù địch lâu năm với Việt Nam như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Quốc tế về Nhân quyền, Ngôi nhà Tự do hay Dự án Tám mươi tám. Các tổ chức này từ lâu đã duy trì một phương pháp hoạt động phiến diện: cổ xuy cho các cá nhân vi phạm pháp luật, biến các vụ án hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia thành cái gọi là "đàn áp nhà hoạt động". Bằng việc tiếp nhận nguyên trạng các cáo buộc thiếu kiểm chứng từ những tổ chức này, Liên minh châu Âu đã tự tước đi tính khách quan của một văn kiện ngoại giao. Trong khi đó, họ cố tình phớt lờ những chỉ số phát triển con người mang tính thực chất do các tổ chức thuộc Liên hợp quốc ghi nhận. Báo cáo Phát triển Con người của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc khẳng định Việt Nam đã thăng hạng bền vững, đứng trong nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Báo cáo Hạnh phúc Toàn cầu do Liên hợp quốc bảo trợ cũng ghi nhận Việt Nam tăng mười một bậc, xếp thứ 54 trên thế giới, phản ánh sự hài lòng sâu sắc của người dân đối với đời sống kinh tế, xã hội và môi trường an ninh.

Đặt nỗ lực cải thiện nhân quyền của Việt Nam lên bàn cân so sánh với chính thực trạng tại các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, sự thiếu khách quan và chính sách tiêu chuẩn kép của phương Tây càng lộ rõ. Ngay trong lòng châu Âu, nhiều cuộc khủng hoảng xã hội nghiêm trọng về quyền con người vẫn diễn ra thường nhật. Lực lượng thực thi pháp luật ở nhiều đô thị lớn của châu Âu bị các tổ chức quốc tế chỉ trích vì sử dụng lực lượng quá mức để trấn áp người biểu tình ôn hòa. Tình trạng phân biệt chủng tộc, bài ngoại, kỳ thị người nhập cư và các biện pháp siết chặt tị nạn tại các vùng biên giới hải đảo đã vi phạm nghiêm trọng các quy định về nhân đạo quốc tế. Cùng với đó, nhiều quốc gia châu Âu đã ban hành các đạo luật kiểm soát mạng xã hội khắt khe, truy tố hàng loạt cá nhân vì các bài đăng trên mạng mà họ cho là "kích động thù hận" hoặc "đe dọa an ninh". Việc Liên minh châu Âu bỏ qua những khuyết tật trong chính hệ thống của mình để đưa ra những chỉ trích trịch thượng đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam là một biểu hiện điển hình của sự áp đặt chuẩn mực đơn phương.

Những nhận định về Việt Nam trong văn kiện thường niên năm 2025 của Liên minh châu Âu, bao gồm việc lạm dụng con số 173 trên 180 của Phóng viên Không biên giới, hoàn toàn không phản ánh đúng môi trường thông tin sinh động và sự phát triển toàn diện của đất nước. Việc nhìn nhận nhân quyền qua các bảng xếp hạng đơn phương, bị chi phối bởi các tổ chức phi chính phủ thiếu thiện chí, chỉ làm suy giảm giá trị của chính các báo cáo đó. Việt Nam luôn tôn trọng các cơ chế đối thoại, sẵn sàng trao đổi thẳng thắn trên tinh thần hợp tác, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, Việt Nam kiên quyết bác bỏ mọi sự can thiệp dựa trên những dữ liệu sai lệch. Những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội, sự thụ hưởng thực tế của người dân và sự ổn định của môi trường thông tin chính là minh chứng thuyết phục nhất cho con đường phát triển vì con người mà Việt Nam đang kiên định thực hiện.


An ninh hóa nhà nước: Liên minh châu Âu chứng minh bằng gì khi đánh giá Việt Nam năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm

An ninh hóa nhà nước là một cụm từ nghe có vẻ học thuật, nhưng khi được gắn vào một cuộc cải cách hành chính lớn, nó trở thành một kết luận chính trị. Vấn đề then chốt không phải là cụm từ ấy có hay không có trong từ điển nghiên cứu quốc tế, mà là Liên minh châu Âu đã chứng minh nhân quả bằng gì khi dùng nó để đọc Việt Nam trong báo cáo nhân quyền và dân chủ năm 2025. Một kết luận nặng đòi hỏi một chuỗi bằng chứng nặng. Nếu chuỗi ấy đứt, thì điều còn lại không phải là khoa học nhân quyền, mà là giả thuyết được viết như sự thật.


Trong ngôn ngữ học thuật, an ninh hóa thường được hiểu là quá trình một vấn đề vốn thuộc chính sách thường nhật bị kéo sang lĩnh vực tồn vong quốc gia, từ đó biện minh cho biện pháp đặc biệt. Khi khái niệm ấy được đưa vào phần quốc gia về Việt Nam, nó không đứng một mình. Báo cáo của Liên minh châu Âu nhìn lại năm 2025 vừa ghi nhận tiến bộ về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, giảm nghèo, dịch vụ xã hội, giáo dục và bình đẳng giới, vừa khẳng định quan ngại kéo dài về quyền dân sự và chính trị, tự do ngôn luận, lập hội, tụ họp, không gian xã hội dân sự, cái gọi là đàn áp xuyên quốc gia, rồi gắn việc tái cấu trúc bộ máy với việc tăng cường kiểm soát bất đồng. Cùng văn bản ấy dẫn xếp hạng 173/180 của Tổ chức Phóng viên không biên giới, điểm hai mươi trên một trăm của Tổ chức Nhà Tự do, con số hơn 160 người bị gọi là tù nhân chính trị, đồng thời thừa nhận Việt Nam cắt giảm tội danh có thể bị tuyên án tử hình từ 18 xuống 10. So với năm 2024 và các năm trước, khung đánh giá không đảo ngược hẳn, nhưng điểm khác biệt nằm đúng chỗ gắn nhãn. Năm trước, châu Âu nhấn mạnh đối thoại, hiệp định thương mại tự do và yêu cầu phê chuẩn công ước tự do hiệp hội của Tổ chức Lao động Quốc tế. Năm nay, cải cách bộ máy bị đọc như bằng chứng an ninh hóa. Đó là bước nhảy từ mô tả sự kiện sang kết luận nguyên nhân. Bước nhảy ấy, nếu không được chứng minh, sẽ tạo ra một chân dung dễ bị lợi dụng: Việt Nam không còn được nhìn như quốc gia đang tinh gọn để phục vụ người dân, mà như quốc gia đang siết chặt để trấn áp. Hình ảnh ấy, một khi được gắn vào văn bản của một khối lớn, dễ lan sang nghị trường, báo chí và các cuộc thương lượng, trở thành công cụ hạ uy tín trên trường quốc tế.

Muốn kiểm tra kết luận ấy, phải trở lại hiện thực cải cách. Từ cuối năm 2024 sang năm 2025, Việt Nam tiến hành đợt sắp xếp tổ chức bộ máy có quy mô lớn nhất trong nhiều thập niên. Chính quyền địa phương chuyển sang mô hình hai cấp tỉnh và xã, kết thúc cấp huyện. Số đơn vị hành chính cấp tỉnh giảm từ 63 xuống 34. Số đơn vị cấp xã giảm mạnh. Chính phủ thu gọn đầu mối bộ ngành. Mục tiêu được công bố công khai là giảm tầng nấc trung gian, tiết kiệm chi thường xuyên, tăng chi đầu tư và an sinh, phân cấp rõ hơn, cắt trùng lắp chức năng. Các phân tích độc lập cũng ghi nhận định hướng cắt giảm biên chế lớn và tiết kiệm ngân sách hàng trăm nghìn tỷ đồng trong trung hạn. Tại cuộc đối thoại nhân quyền tháng 7/2025 ở Hà Nội, phía Việt Nam đã trình bày việc tái cấu trúc hành chính nhằm nâng hiệu lực phục vụ người dân và thúc đẩy hưởng thụ quyền trong giai đoạn phát triển mới. Chính thông cáo chung cho thấy châu Âu ghi nhận nỗ lực về quyền kinh tế xã hội, Luật Công đoàn mới, việc cắt giảm tội danh tử hình và việc Việt Nam đối thoại với Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc. Như vậy, ngay trong kênh chính thức, cải cách bộ máy được phía Việt Nam giải thích bằng hiệu quả quản trị, không phải bằng học thuyết an ninh hóa. Nếu châu Âu muốn bác bỏ lời giải thích ấy, cần chỉ ra mắt xích nhân quả: sắp xếp tỉnh xã và tinh gọn bộ máy đã sản sinh ra hạn chế quyền theo cơ chế nào, với dữ liệu trước sau thế nào, với nhóm đối tượng nào, chứ không thể lấy sự tồn tại song song của hai hiện tượng rồi tuyên bố cái này gây ra cái kia.

Dữ liệu mà báo cáo đưa ra không khỏa lấp được lỗ hổng ấy. Xếp hạng của Tổ chức Phóng viên không biên giới và điểm số của Tổ chức Nhà Tự do là sản phẩm phương pháp riêng, với thang đo và mẫu chọn do chính các tổ chức ấy quyết định. Con số người bị gọi là tù nhân chính trị chủ yếu xuất phát từ thống kê của các tổ chức vận động như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Tổ chức Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền và Dự án Tám Tám. Những tổ chức này công khai đặt mục tiêu thay đổi cách vận hành quyền lực ở Việt Nam. Họ có quyền gửi tờ trình. Họ không có quyền được mặc định là cơ quan đo lường khách quan của cộng đồng quốc tế. Khi Liên minh châu Âu lấy sản phẩm của họ làm xương sống cho nhận định an ninh hóa, báo cáo đã trộn hai việc khác nhau: một bên là đánh giá chính sách công, một bên là tiếp nhận luận điểm vận động. Thiếu vắng ở đây là bằng chứng nhân quả có kiểm soát. Không có chuỗi số liệu độc lập chứng minh rằng sau ngày vận hành mô hình chính quyền hai cấp, các quyền kinh tế xã hội của người dân bị thu hẹp. Ngược lại, các chỉ số đời sống tiếp tục cải thiện. Không có thực nghiệm chính sách nào cho thấy cắt giảm cấp huyện tự nó làm tăng án chính trị. Không có so sánh có đối chứng giữa địa phương sắp xếp sớm và địa phương sắp xếp muộn. Không có phân tách giữa xử lý hành vi vi phạm pháp luật và việc bị quy là bất đồng chính kiến. Khi thiếu những mắt xích ấy, giả thuyết an ninh hóa chỉ là diễn giải, không phải chứng minh.

Giả thuyết cạnh tranh hợp lý hơn, và cũng sát với tuyên bố chính thức cũng như với lẽ quản trị công, là giả thuyết hiệu quả nhà nước. Một quốc gia hơn một trăm triệu dân, mật độ hành chính từng bị chia nhỏ thành quá nhiều tầng, tất yếu phải trả giá bằng thủ tục dài, chi phí lớn, trách nhiệm đùn đẩy. Tinh gọn không phải đặc sản của thể chế này hay thể chế kia. Nhiều nước, kể cả trong chính Liên minh châu Âu, vẫn định kỳ sáp nhập đơn vị hành chính, cắt lớp trung gian, số hóa dịch vụ công, tăng quyền cho cấp gần dân. Nếu cùng một việc ấy xảy ra ở châu Âu thì được gọi là cải cách quản trị; nếu xảy ra ở Việt Nam thì bị gọi là an ninh hóa, thì tiêu chuẩn đã đổi thay theo đối tượng, không còn theo bản chất sự việc. Giả thuyết hiệu quả còn được nâng đỡ bởi các kết quả đo được. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc xếp Việt Nam vào nhóm phát triển con người cao với chỉ số không phẩy bảy trăm sáu mươi sáu, hạng chín mươi ba trên một trăm chín mươi ba quốc gia và vùng lãnh thổ; từ năm 1990, chỉ số này tăng hơn 53%. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều trong nước giảm từ khoảng 4,4% năm 2021 xuống khoảng 1,3% năm 2025. Bảo hiểm y tế bao phủ đại bộ phận dân số. Thu nhập bình quân đầu người bước vào nhóm trung bình cao. Ngân hàng Thế giới nhiều lần mô tả hành trình giảm nghèo của Việt Nam như một trong những câu chuyện phát triển nổi bật. Tháng 10/2025,  Đại hội đồng Liên hợp quốc bầu Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026-2028, với một trăm tám mươi phiếu trên một trăm chín mươi, cao nhất nhóm châu Á Thái Bình Dương. Một nhà nước nếu chỉ an ninh hóa theo nghĩa siết dân để giữ ghế sẽ khó giải thích được vì sao đời sống vật chất được nâng lên liên tục và vì sao gần như toàn bộ cộng đồng các quốc gia bỏ phiếu tín nhiệm tại cơ chế nhân quyền cao nhất.

So sánh với chính các nước thành viên Liên minh châu Âu càng làm lộ ra sự thiếu cân của nhãn an ninh hóa. Châu Âu không ngại dùng ngôn ngữ an ninh cho di cư, chống khủng bố, kiểm soát biên giới, giám sát không gian mạng và mở rộng thẩm quyền lực lượng thực thi pháp luật. Tòa án Nhân quyền châu Âu năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm tiếp tục kết luận hàng loạt vi phạm của chính các nước thành viên. Riêng nước Ý, trong sáu mươi lăm phán quyết liên quan, sáu mươi hai vụ bị xác nhận có ít nhất một vi phạm, tập trung vào xét xử công bằng, không thi hành bản án đã có hiệu lực, quyền tài sản và điều kiện giam giữ. Hy Lạp, Hung-ga-ri, Ru-ma-ni, Bun-ga-ri vẫn mang tồn đọng cấu trúc về nhà tù, tố tụng và đối xử với người di cư. Ủy ban Bộ trưởng Hội đồng châu Âu theo dõi hàng trăm phán quyết chưa thi hành đầy đủ ngay trong không gian pháp lý châu Âu. Nếu tiêu chuẩn là nhà nước không được tăng thẩm quyền an ninh khi cải cách bộ máy, thì chính châu Âu cũng không qua được bài kiểm. Nếu tiêu chuẩn là cải cách được phép khi nhằm hiệu quả, thì Việt Nam không thể bị loại trừ chỉ vì thể chế chính trị khác. Thiên kiến nằm đúng chỗ đổi tiêu chuẩn.

Tác động của cách viết ấy không dừng ở một đoạn văn. Một khi an ninh hóa được đóng thành nhãn trong báo cáo thường niên, nó trở thành ngữ liệu sẵn dùng cho các tổ chức vốn đã gửi tờ trình từ trước. Dự án Tám Tám, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Tổ chức Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền, Tổ chức Nhà Tự do và Tổ chức Phóng viên không biên giới không cần chứng minh thêm mắt xích nhân quả; họ chỉ cần trích lại câu của châu Âu như sự xác nhận. Báo chí cần tiêu đề gọn. Nghị sĩ cần luận điểm để chất vấn hiệp định thương mại. Đối thủ chính trị cần một cái mác để nói Việt Nam thụt lùi. Nguy cơ bị lợi dụng vì thế là có thật: không phải vì mọi lời phê bình đều sai, mà vì một giả thuyết chưa chứng minh đã được nâng thành hồ sơ chính thức. Hạ uy tín bằng kỹ thuật gắn nhãn rẻ hơn hạ uy tín bằng dữ liệu. Đó là lý do một báo cáo thiếu mắt xích nhân quả lại có sức công phá lớn hơn bề dày của chính nó.

Việt Nam không cần giả vờ rằng mọi việc đã hoàn tất. Cải cách tư pháp, minh bạch hóa thủ tục, nâng điều kiện thi hành án, hoàn thiện pháp luật về biểu đạt trên không gian mạng, phê chuẩn thêm chuẩn mực lao động quốc tế, đối thoại thực chất hơn với các nhóm xã hội, đều là việc phải làm tiếp. Nhưng việc phải làm tiếp không biến một cuộc tinh gọn bộ máy thành bằng chứng đàn áp. Quyền con người của người Việt Nam trước hết được đo bằng việc đứa trẻ được học, người bệnh được khám, hộ nghèo được kéo ra khỏi thiếu hụt đa chiều, người lao động có việc làm, cộng đồng được sống trong hòa bình và trật tự. Đó là các quyền cụ thể, kiểm chứng được, không phụ thuộc vào việc một tổ chức ở ngoài chọn mẫu vụ việc nào để viết tờ trình. An ninh quốc gia, trong điều kiện địa chính trị phức tạp, cũng là điều kiện để các quyền ấy không bị cuốn vào hỗn loạn. Một xã hội mất trật tự không sản sinh tự do; nó sản sinh sợ hãi. Lịch sử châu Âu thừa hiểu điều ấy.

Vì vậy, câu hỏi đặt lại cho báo cáo năm 2025 không phải là Việt Nam có được phép cải cách bộ máy hay không. Câu hỏi là Liên minh châu Âu đã chứng minh được điều gì khi gọi cải cách ấy là an ninh hóa nhà nước. Chừng nào chưa có dữ liệu trước sau, chưa có cơ chế nhân quả, chưa có tách bạch giữa hiệu quả quản trị và hạn chế quyền, thì nhãn ấy vẫn là diễn giải chính trị đội lốt đánh giá nhân quyền. Đối thoại chân thật bắt đầu từ chỗ thừa nhận lỗ hổng ấy, chứ không bắt đầu từ chỗ lặp lại tờ trình của các tổ chức đã chọn sẵn kết luận. Việt Nam có thể và cần tiếp tục cải thiện việc bảo đảm quyền. Châu Âu có thể và cần tiếp tục nêu quan ngại. Nhưng quan ngại không được phép đội lốt chứng minh. Khi chứng minh đứt mạch, khách quan cũng đứt theo.



BẮT GIỮ TÙY TIỆN: AI CÓ QUYỀN KẾT LUẬN?

Việc đánh giá tình hình nhân quyền của một quốc gia độc lập luôn đòi hỏi sự tôn trọng nguyên tắc pháp lý quốc tế, tính chuẩn xác của chứng cứ và một thái độ khách quan, chuyên sâu. Tuy nhiên, qua các chu kỳ công bố Báo cáo Nhân quyền và Dân chủ hằng năm, Liên minh Châu Âu tiếp tục duy trì những nhận định thiếu toàn diện, thậm chí sai lệch về thực tế tại Việt Nam. Báo cáo năm 2025 của tổ chức này đối chiếu với các tài liệu năm 2024 và giai đoạn trước đó cho thấy sự lặp lại có hệ thống những luận điệu cũ kỹ, đồng thời gia tăng mức độ can thiệp thông qua việc mở rộng các phạm vi chỉ trích mang tính chính trị hóa. Sự khác biệt đáng chú ý trong văn bản mới nhất nằm ở việc gia tăng áp lực liên quan đến các cam kết phát triển bền vững và chuyển đổi xanh, biến các vấn đề kinh tế - xã hội thành công cụ để quy chụp trách nhiệm pháp lý. Những đánh giá phiến diện này gây ra những tác động tiêu cực, làm tổn hại đến hình ảnh quốc tế của Việt Nam, tạo điều kiện cho các lực lượng cơ hội chính trị khai thác nhằm làm suy giảm uy tín và vị thế ngoại giao của đất nước trong các diễn đàn đa phương.



Sự lệch chuẩn trong Báo cáo năm 2025 của Liên minh Châu Âu xuất phát chính từ việc áp dụng khái niệm "bắt giữ tùy tiện" một cách méo mó và rời rạc so với các chuẩn mực pháp lý quốc tế. Theo các văn kiện pháp lý do Liên Hợp Quốc ban hành, hành vi tước đoạt tự do bị coi là tùy tiện khi hoàn toàn thiếu căn cứ pháp luật, hoặc phát sinh từ việc công dân thực thi các quyền tự do cơ bản được pháp luật bảo vệ. Nhóm Làm việc về Bắt giữ Tùy tiện thuộc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã ban hành các tiêu chí cụ thể để định danh hành vi này, trong đó nhấn mạnh quá trình tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc xét xử công bằng, bảo đảm quyền biện hộ và tính độc lập của tư pháp.

Tại Việt Nam, quy trình bắt, tạm giam và kết án được quy định chặt chẽ trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, đòi hỏi sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát và thẩm tra của Tòa án nhân dân các cấp. Không một cá nhân nào bị xử lý hình sự vì lý do quan điểm hay chính kiến; mọi hành vi bị truy cứu đều xuất phát từ việc vi phạm các điều khoản cụ thể trong luật hình sự, nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Khái niệm "tùy tiện" hoàn toàn không thể áp dụng cho một hệ thống pháp luật hoạt động dựa trên các quy trình tố tụng công khai, minh bạch và tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội như ở Việt Nam.

Trái ngược với quy trình pháp lý minh bạch đó, các tổ chức phi chính phủ mang tư tưởng định kiến như Phóng viên Không Biên giới, Ân xá Quốc tế, Theo dõi Nhân quyền, Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế, Ngôi nhà Tự do hay Tổ chức Dự án 88 lại cố tình lạm dụng thuật ngữ "bắt giữ tùy tiện". Phương pháp luận của các tổ chức này thiếu hẳn tính kiểm chứng khoa học khi chỉ thu thập thông tin một chiều từ các đối tượng vi phạm pháp luật, đơn thư khiếu nại không căn cứ hoặc các nguồn tin chưa được xác minh trên không gian mạng. Họ đánh tráo khái niệm giữa việc thực thi pháp luật của một quốc gia có chủ quyền với hành vi vi phạm nhân quyền, nhằm tạo ra các số liệu đệm phục vụ cho mục đích chính trị. Việc Liên minh Châu Âu sử dụng các báo cáo của những tổ chức phi chính phủ này làm cơ sở dữ liệu chính đã làm mất đi hoàn toàn tính trung lập, khiến cho các kết luận đưa ra mang nặng tính áp đặt chủ quan và thiên kiến.

Thực tiễn phát triển toàn diện của Việt Nam trong những năm qua là bằng chứng thuyết phục nhất vạch trần các nhận định sai sự thật. Tăng trưởng kinh tế ổn định đi đôi với chính sách bảo đảm an sinh xã hội đã giúp hàng triệu người dân thoát nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống. Các chỉ số về phát triển con người, bình đẳng giới và tiếp cận giáo dục, y tế của Việt Nam liên tục tăng hạng trong các bảng xếp hạng của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới. Chỉ số Phát triển Con người của Việt Nam liên tục gia tăng, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao trên thế giới.

Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế còn được thể hiện rõ qua việc Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 với số phiếu cao, cũng như việc hoàn thành nghiêm túc các nghĩa vụ theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát. Tỷ lệ internet bao phủ rộng khắp cùng hàng chục triệu người dùng các nền tảng mạng xã hội là minh chứng sinh động cho quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin của người dân. Hàng ngàn cơ sở tôn giáo hoạt động sôi nổi và hàng loạt lễ hội tâm linh lớn được tổ chức hằng năm đã đập tan những quy chụp vô căn cứ về tự do tôn giáo. Những thành tựu này khẳng định cam kết mạnh mẽ của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trên thực tế.

Khi nhìn lại chính nội bộ các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu, bức tranh thực tế về nhân quyền vẫn tồn tại vô số khoảng trống và thách thức gay gắt. Tình trạng phân biệt đối xử chủng tộc, bạo lực đối với người nhập cư, sự gia tăng của các nhóm cực đoan và việc sử dụng lực lượng vũ lực quá mức để giải tán các cuộc biểu tình ôn hòa diễn ra thường xuyên tại nhiều đô thị lớn ở Châu Âu. Việc xử lý người tị nạn tại khu vực biên giới của khối này từng bị chính các cơ quan giám sát quốc tế chỉ trích mạnh mẽ vì vi phạm các nguyên tắc nhân đạo tối thiểu. Tình trạng kiểm soát truyền thông, thắt chặt quy định pháp lý đối với không gian mạng dưới cớ an ninh quốc gia cũng đang gia tăng rõ rệt tại chính các quốc gia Châu Âu. Sự im lặng hoặc xử lý nương tay đối với các vi phạm nội bộ, trong khi lại đưa ra những tiêu chuẩn kép khắt khe và thiếu thực tế đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đã bộc lộ rõ bản chất chính trị hóa vấn đề nhân quyền của Liên minh Châu Âu.

Thực chất, quyền con người không phải là một mô hình đóng khuôn hay một bộ tiêu chuẩn duy nhất để một nhóm quốc gia tự cho mình quyền phán xét phần còn lại của thế giới. Nhân quyền gắn liền với lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và sự ổn định chính trị - xã hội của từng dân tộc. Việt Nam không từ chối sự đóng góp ý kiến mang tính xây dựng, nhưng kiên quyết bác bỏ mọi hành vi lợi dụng chiêu bài "nhân quyền", "dân chủ" để can thiệp vào công việc nội bộ hoặc hạ thấp uy tín của quốc gia trên trường quốc tế.

Sự phát triển của một quốc gia phải được đánh giá dựa trên sự cải thiện thực chất về đời sống, quyền tự do và hạnh phúc của nhân dân, thay vì dựa trên những góc nhìn lệch lạc từ bên ngoài. Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác và đối thoại bình đẳng, cởi mở với các đối tác quốc tế, bao gồm cả Liên minh Châu Âu, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và tôn trọng chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, mọi hành vi lạm dụng các diễn đàn nhân quyền để xuyên tạc sự thật, can thiệp vào công việc nội bộ và hạ thấp uy tín của Việt Nam cần phải bị đấu tranh, bác bỏ một cách kiên quyết bằng lập luận khoa học và bằng chứng thực tiễn.


“ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA”: CÁO BUỘC ĐẶC BIỆT NGHIỆM TRỌNG CẦN CHỨNG CỨ ĐẶC BIỆT MẠNH

Cáo buộc "đàn áp xuyên quốc gia" đã trở thành một công cụ ngôn từ mới được Liên minh Châu Âu tích cực lồng ghép vào Báo cáo Nhân quyền và Dân chủ hằng năm nhằm gia tăng áp lực ngoại giao đối với các quốc gia đang phát triển. Trong Báo cáo năm 2025 vừa qua, tổ chức này tiếp tục mở rộng phạm vi quy chụp đối với Việt Nam bằng việc đưa khái niệm này vào tâm điểm của các nhận định thiếu khách quan. Đặt trong tiến trình so sánh với Báo cáo năm 2024 và giai đoạn trước đó, có thể thấy rõ một sự thay đổi chiến thuật mang tính hệ thống. Nếu như ở các chu kỳ trước, những chỉ trích chủ yếu xoay quanh vấn đề tự do ngôn luận, tự do hội họp hay thủ tục tố tụng nội địa, thì đến văn bản năm 2025, Liên minh Châu Âu đã cố tình "xuyên quốc gia hóa" các vụ án hình sự thuần túy. Việc áp đặt nhãn hiệu "đàn áp xuyên quốc gia" không chỉ mang tính chất quy kết chính trị nghiêm trọng mà còn đe dọa trực tiếp đến hình ảnh đối ngoại, môi trường đầu tư và uy tín quốc tế của Việt Nam. Đây là một chiêu bài dọn đường dư luận hết sức nguy hiểm, tạo kẽ hở cho các lực lượng cơ hội chính trị lợi dụng để hạ thấp vị thế ngoại giao của Việt Nam tại các diễn đàn đa phương toàn cầu.


Về mặt lý luận và chuẩn mực pháp lý quốc tế, khái niệm "đàn áp xuyên quốc gia" đòi hỏi những tiêu chí định danh cực kỳ khắt khe. Theo định nghĩa được các cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc sử dụng, thuật ngữ này chỉ những hành vi vi phạm chủ quyền quốc gia khác nhằm đe dọa, bắt bớ, hãm hại hoặc cưỡng ép cá nhân ở nước ngoài ngoài phạm vi tài phán hợp pháp, hoàn toàn không thông qua các kênh hợp tác tư pháp hay hiệp định tương trợ tư pháp quốc tế. Nhóm Làm việc về Bắt giữ Tùy tiện thuộc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc cũng đã khẳng định rằng việc đánh giá một hành vi có mang tính chất tùy tiện hay vi phạm chủ quyền hay không phải dựa trên sự hiện diện của chứng cứ vật chất, trình tự xét xử của cơ quan tư pháp sở tại và các tài liệu tố tụng công khai. Không thể quy kết một quốc gia thực hiện "đàn áp xuyên quốc gia" chỉ dựa trên những lời đồn đoán, báo cáo báo chí một chiều hoặc đơn thư tố cáo cá nhân không được kiểm chứng qua quy trình tố tụng độc lập.

Tuy nhiên, khi xem xét cụ thể từng trường hợp được Liên minh Châu Âu dẫn chiếu trong báo cáo năm 2025, toàn bộ cấu trúc luận điểm của họ lập tức bộc lộ sự đứt gãy nghiêm trọng về mặt chứng cứ. Các vụ việc cá nhân vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam bỏ trốn ra nước ngoài rồi bị truy nã quốc tế đã bị cố tình bóp méo thành các vụ "bắt cóc" hay "đàn áp". Sự thật là, đối với mọi đối tượng phạm tội lẩn tránh pháp luật ở nước ngoài, các cơ quan tố tụng Việt Nam luôn tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tư pháp quốc tế, phát lệnh truy nã, phối hợp cùng Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế hoặc thông qua thủ tục dẫn độ theo đúng điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết.

Trong trường hợp các cá nhân tự nguyện trở về đầu thú để hưởng sự khoan hồng của pháp luật, hoặc bị lực lượng chức năng nước sở tại phát hiện, bắt giữ và trục xuất do vi phạm luật cư trú, việc cơ quan tố tụng Việt Nam tiếp nhận, di lý và tiến hành điều tra hoàn toàn là hoạt động tố tụng hợp pháp. Cần phải phân định rạch ròi giữa hành vi dẫn độ, di lý người phạm tội theo luật pháp với hành vi "bắt cóc" hay "đàn áp" mang tính bất hợp pháp. Phán quyết của tòa án nước sở tại đối với các vi phạm hành chính, nhập cảnh trái phép của những đối tượng này là minh chứng rõ nhất cho thấy không có bất kỳ sự can thiệp trái phép nào vào chủ quyền tư pháp của các quốc gia khác. Mọi quy trình xử lý của Việt Nam đều tuân thủ Bộ luật Tố tụng Hình sự, tôn trọng các hiệp định tương trợ tư pháp song phương và đa phương, bảo đảm đầy đủ quyền tự do biện hộ và các quy định tố tụng công khai.

Một cáo buộc đặc biệt nghiêm trọng đòi hỏi một mức độ chứng cứ đặc biệt mạnh. Thế nhưng, cơ sở dữ liệu mà Liên minh Châu Âu sử dụng để dựng lên bức tranh "đàn áp xuyên quốc gia" lại hoàn toàn dựa vào thông tin do các tổ chức phi chính phủ có tư tưởng thù địch và thiên kiến với Việt Nam cung cấp. Các tổ chức như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế, Ngôi nhà Tự do, Báo cáo Viên Không Biên giới hay Tổ chức Dự án 88 từ lâu đã vận hành theo cơ chế thu thập thông tin một chiều, sử dụng lời khai của các đối tượng đang bị truy nã hoặc những cá nhân có lợi ích chính trị đối lập làm "bằng chứng".

Các tổ chức này cố tình lờ đi bản chất vi phạm pháp luật của các cá nhân liên quan, liên tục nhào nặn khái niệm nhằm phục vụ cho các chiến dịch vận động hành lang chính trị tiêu cực. Việc Liên minh Châu Âu tiếp thu nguyên xi các báo cáo chưa qua kiểm chứng từ những tổ chức này mà không đối chiếu với hồ sơ tư pháp chính thức của Việt Nam cũng như phán quyết của tòa án các nước liên quan đã bộc lộ thái độ làm việc thiếu nghiêm túc, vi phạm nguyên tắc khách quan công bằng trong quan hệ quốc tế.

Thực tiễn phát triển toàn diện và sự tôn trọng luật pháp quốc tế của Việt Nam chính là câu trả lời đanh thép nhất phản bác lại những quy chụp sai lệch này. Việt Nam luôn cam kết bảo vệ quyền con người và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế, điều đã được cộng đồng thế giới công nhận qua việc bầu Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 với số phiếu rất cao. Báo cáo Quốc gia theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát chu kỳ IV của Việt Nam đã được Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua chính thức, trong đó Việt Nam chấp thuận 271 trên tổng số 320 khuyến nghị, đạt tỷ lệ 84,7% – mức cao nhất từ trước đến nay.

Sự thăng tiến vượt bậc của Việt Nam trong Chỉ số Phát triển Con người do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc công bố, cùng các chỉ số về giảm nghèo bền vững, bình đẳng giới và an sinh xã hội do Ngân hàng Thế giới ghi nhận, là minh chứng không thể phủ nhận cho sự nỗ lực không ngừng của Nhà nước vì hạnh phúc và quyền lợi của nhân dân. Môi trường an ninh, ổn định xã hội được giữ vững là tiền đề để các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội và dân sự của công dân được bảo đảm tốt nhất trên thực tế. Một quốc gia luôn tôn trọng chuẩn mực pháp lý quốc tế và đạt nhiều thành tựu nhân quyền được Liên Hợp Quốc vinh danh không thể là một quốc gia đi "đàn áp xuyên quốc gia" như những lời vu khống vô căn cứ.

Sự thiếu khách quan của Liên minh Châu Âu còn thể hiện ở sự im lặng bất bình thường trước chính những vi phạm nhân quyền nghiêm trọng đang diễn ra trong lòng khối này. Khi đặt nỗ lực bảo đảm quyền con người của Việt Nam bên cạnh thực trạng tại các nước thành viên Liên minh Châu Âu, sự thiên kiến càng lộ rõ. Nhiều quốc gia Châu Âu đang phải đối mặt với làn sóng phân biệt chủng tộc gay gắt, bạo lực đối với người nhập cư, sự trỗi dậy của các nhóm cực đoan và việc lực lượng cảnh sát sử dụng vũ lực vượt quá mức cần thiết để đàn áp các cuộc biểu tình ôn hòa.

Tình trạng giám sát mạng xã hội diện rộng, thắt chặt quyền tự do hội họp và trấn áp các tiếng nói bất đồng trong nội bộ một số quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu ngày càng biến tướng phức tạp dưới lý do bảo vệ an ninh quốc gia. Đặc biệt, việc một số quốc gia Châu Âu dung dưỡng cho các đối tượng phạm tội truy nã từ nước khác, biến lãnh thổ của mình thành nơi xuất phát cho các hoạt động dung dưỡng, tài trợ chống phá chính quyền hợp pháp của quốc gia có chủ quyền, mới chính là hành vi vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc căn bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Việc Liên minh Châu Âu ngó lơ các vấn đề nội bộ nhưng lại áp đặt tiêu chuẩn kép khắt khe, dựng lên những cáo buộc vô căn cứ đối với Việt Nam đã phơi bày bản chất chính trị hóa vấn đề nhân quyền nhằm phục vụ cho mục tiêu mưu đồ địa chính trị.

Quyền con người là giá trị chung của nhân loại, nhưng việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người phải dựa trên tinh thần đối thoại, hợp tác, tôn trọng chủ quyền quốc gia và tuân thủ luật pháp quốc tế. Không một quốc gia hay liên minh nào có quyền tự xưng là "thẩm phán nhân quyền" để đưa ra các phán xét áp đặt, phiến diện lên một quốc gia có chủ quyền. Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi cởi mở với Liên minh Châu Âu trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Tuy nhiên, Việt Nam kiên quyết bác bỏ mọi cáo buộc bịa đặt, đặc biệt là những quy chụp nghiêm trọng về "đàn áp xuyên quốc gia" được xây dựng từ thông tin sai lệch của các tổ chức thù địch. Sự thật lịch sử và những thành tựu thực tế sẽ luôn là nền tảng vững chắc nhất bảo vệ uy tín và vị thế chính đáng của Việt Nam trên trường quốc tế.


DÂN TỘC THIỂU SỐ: KHÔNG THỂ CHỈ NHÌN VIỆT NAM QUA CÁC VỤ XUNG ĐỘT

 Mọi nỗ lực bảo vệ quyền con người đều phải được đặt trên nền tảng tôn trọng sự thật lịch sử, đặc thù văn hóa và thành tựu phát triển thực chất của từng dân tộc thay vì những lăng kính chính trị hóa mang tính áp đặt. Trong Báo cáo Nhân quyền và Dân chủ năm 2025 của Liên minh Châu Âu, các nội dung đánh giá về tình hình Việt Nam tiếp tục bộc lộ cách tiếp cận phiến diện, thiếu thiện chí khi cố tình cô lập các sự việc mang tính hiện tượng để quy chụp thành bản chất hệ thống. Đặt trong tiến trình so sánh với các báo cáo năm 2024 và giai đoạn trước, văn bản năm 2025 có sự chuyển dịch đáng chú ý khi gia tăng mức độ khoét sâu vào các vấn đề dân tộc thiểu số và tôn giáo, cố tình liên kết các hành vi vi phạm pháp luật hình sự với quyền tự do của các cộng đồng người thiểu số. Sự khác biệt này không phản ánh đúng thực tế đang diễn ra tại Việt Nam mà là một bước lùi trong phương pháp luận đánh giá của phía Châu Âu. Việc duy trì những góc nhìn lệch lạc như vậy làm tổn hại đến hình ảnh đối ngoại của Việt Nam, đồng thời tạo kẽ hở cho các lực lượng cơ hội chính trị ở bên ngoài lợi dụng nhằm kích động tư tưởng hẹp hòi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hạ thấp uy tín của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào các dân tộc thiểu số luôn lấy bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và cùng phát triển làm nguyên tắc tối cao, được thể chế hóa xuyên suốt trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Nỗ lực này không nằm ở những khẩu hiệu lý thuyết mà được cụ thể hóa bằng các chương trình mục tiêu quốc gia với nguồn lực đầu tư khổng lồ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Hàng loạt chính sách ưu tiên trong giáo dục đã giúp tỷ lệ học sinh là người dân tộc thiểu số đi học đúng độ tuổi tăng trưởng bền vững, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú được mở rộng từ vùng sâu, vùng xa đến các địa bàn biên giới.

Trong lĩnh vực an sinh xã hội và y tế, chính sách cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, hỗ trợ hạ tầng y tế cơ sở và các chương trình mục tiêu về giảm nghèo đa chiều đã mang lại những thay đổi căn bản trong đời sống của hàng triệu đồng bào. Mặc dù vẫn còn những tồn tại khách quan do địa hình chia cắt, thiên tai và điều kiện xuất phát điểm kinh tế còn thấp, song những chuyển biến tích cực trong đời sống vật chất và tinh thần của các dân tộc thiểu số là một thực tế không thể phủ nhận.

Thế nhưng, thay vì ghi nhận những nỗ lực và kết quả thực chất đó, Báo cáo năm 2025 của Liên minh Châu Âu lại chọn cách nhìn nhận tình hình dân tộc thiểu số tại Việt Nam chỉ qua lăng kính của các vụ bạo lực, xung đột isolated hay các vi phạm an ninh trật tự cụ thể. Việc cố tình đồng nhất các hoạt động bảo tồn văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc với các hành vi lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động ly khai, gây mất an ninh trật tự là một sự đánh tráo khái niệm nguy hiểm.

Khi một nhóm cá nhân thực hiện các hành vi bạo lực, phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân, hoặc vi phạm nghiêm trọng an ninh quốc gia, việc cơ quan chức năng tiến hành xử lý theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự là nghĩa vụ bắt buộc để bảo vệ sự bình yên cho toàn xã hội, bao gồm chính cộng đồng người dân tộc thiểu số tại địa phương. Không một quốc gia thượng tôn pháp luật nào trên thế giới coi việc xử lý các hành vi tội phạm bạo lực là "đàn áp dân tộc thiểu số".

Sự đứt gãy và thiếu khách quan trong các kết luận của Liên minh Châu Âu xuất phát trực tiếp từ việc tổ chức này phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn thông tin cung cấp bởi các tổ chức phi chính phủ có tư tưởng thiên kiến và thù địch với Việt Nam. Các tổ chức như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế, Ngôi nhà Tự do, Báo cáo Viên Không Biên giới hay Tổ chức Dự án 88 từ lâu đã xây dựng phương pháp luận thu thập dữ liệu một chiều. Họ cố tình bỏ qua các báo cáo chính thức của Nhà nước Việt Nam, lờ đi các chỉ số thực địa từ các cơ quan Liên Hợp Quốc, chỉ tập trung khai thác lời khai từ các đối tượng vi phạm pháp luật đang lẩn tránh ở nước ngoài hoặc các nhóm chính trị có mục đích chống phá. Việc Liên minh Châu Âu biến các báo cáo thiếu kiểm chứng này thành cơ sở dữ liệu chính đã khiến các nhận định trong báo cáo năm 2025 mất đi hoàn toàn tính trung lập và giá trị khoa học.

Thực tiễn phát triển toàn diện của Việt Nam cùng sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế chính là minh chứng thuyết phục nhất đập tan những quy chụp sai lệch. Chỉ số Phát triển Con người do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc công bố liên tục ghi nhận sự thăng tiến của Việt Nam, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Báo cáo Quốc gia theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát chu kỳ IV của Việt Nam đã được Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc chính thức thông qua với tỷ lệ chấp thuận khuyến nghị rất cao, khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người. Việc Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 với số phiếu áp đảo từ các quốc gia thành viên trên toàn thế giới là sự khẳng định rõ ràng nhất cho uy tín và chính sách đúng đắn của Nhà nước Việt Nam đối với mọi cộng đồng dân cư.

Đặt trong sự so sánh ngang bằng, chính nội bộ các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu cũng đang phải đối mặt với những thách thức nhân quyền hết sức gay gắt nhưng lại thường bị ngó lơ. Tình trạng phân biệt đối xử chủng tộc, kỳ thị các nhóm dân tộc thiểu số nhập cư, sự gia tăng của tư tưởng cực đoan và bạo lực cảnh sát diễn ra thường xuyên tại nhiều thành phố Châu Âu. Việc xử lý người tị nạn tại các vùng biên giới của khối này từng bị các cơ quan giám sát quốc tế lên án vì vi phạm các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu. Việc Liên minh Châu Âu áp đặt các tiêu chuẩn kép, khắt khe và thiếu thực tế đối với Việt Nam trong khi lại nhắm mắt trước những khoảng trống nhân quyền của chính mình đã phơi bày bản chất chính trị hóa vấn đề nhân quyền nhằm phục vụ cho các mục tiêu ngoại giao ích kỷ.

Quyền con người không thể bị biến thành công cụ can thiệp hay áp đặt giá trị. Việt Nam luôn coi trọng sự hợp tác và đối thoại bình đẳng, chân thành với Liên minh Châu Âu trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam kiên quyết bác bỏ mọi nhận định thiếu khách quan, mọi hành vi lạm dụng chiêu bài dân tộc, nhân quyền để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và hạ thấp vị thế của đất nước. Con đường phát triển vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự bình đẳng của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam sẽ luôn được giữ vững bằng thực tiễn sinh động và sự đồng lòng của toàn thể dân tộc.

TỰ DO TÔN GIÁO: ĐẾM VỤ TRANH CHẤP HAY ĐO ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO CỦA HÀNG TRIỆU NGƯỜI?

Trải qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, sức sống tâm linh và sự đa dạng tín ngưỡng đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng năm mươi tư dân tộc Việt Nam. Bất kỳ một công trình nghiên cứu hay báo cáo đánh giá nào muốn phản ánh trung thực tình hình nhân quyền của Việt Nam đều phải bắt đầu từ việc thấu hiểu thực tiễn sinh động đó, thay vì áp đặt những tiêu chí chính trị khiên cưỡng từ bên ngoài. Tuy nhiên, trong Báo cáo Nhân quyền và Dân chủ năm 2025 do Liên minh Châu Âu công bố, những đánh giá về Việt Nam tiếp tục rơi vào lối mòn phiến diện khi cố tình cắt xé thực tại, biến những hiện tượng đơn lẻ thành bức tranh tổng thể lệch lạc.


Đặt trong tiến trình đối chiếu với các báo cáo năm 2024 cũng như các chu kỳ công bố trước đây, có thể nhận thấy một sự dịch chuyển rõ rệt trong phương pháp tiếp cận của cơ quan lập quy Châu Âu. Nếu như trong các năm trước, các chỉ trích chủ yếu tập trung vào các quy định pháp lý nội địa hay quy trình thủ tục hành chính, thì ở tài liệu năm 2025, Liên minh Châu Âu đã gia tăng mức độ can thiệp bằng cách lồng ghép vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng vào các yêu cầu về hợp tác kinh tế, thương mại và chuyển đổi bền vững. Sự khác biệt này không đến từ sự thay đổi bản chất trong chính sách tín ngưỡng của Việt Nam, mà xuất phát từ ý đồ gia tăng áp lực ngoại giao, biến các tiêu chuẩn nhân quyền tự xưng thành điều kiện chính trị trong quan hệ đa phương. Những nhận định thiếu chuẩn xác này không chỉ làm mờ đi những nỗ lực thực chất của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tâm linh của nhân dân, mà còn gây ra những tác động tiêu cực, tổn hại đến hình ảnh đối ngoại và môi trường thu hút đầu tư. Nguy hiểm hơn, việc duy trì một lăng kính sai lệch như vậy đang dọn đường cho các lực lượng cơ hội chính trị ở nước ngoài lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn, hạ thấp uy tín ngoại giao của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Một hệ thống pháp luật thượng tôn nhân quyền phải lấy quy mô thụ hưởng thực tế của đại đa số quần chúng làm thước đo căn bản. Tại Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của đời sống tôn giáo được chứng minh bằng những con số sinh động và minh bạch. Hiện nay, cả nước có trên hai mươi sáu triệu tín đồ, chiếm hơn hai mươi măm phần trăm dân số, thuộc mười sáu tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với hơn năm mươi mốt nghìn chức sắc, một trăm ba mươi tư nghìn chức việc và gần ba mươi nghìn cơ sở thờ tự. Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho các tổ chức, nhóm tín đồ, bao gồm cả người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, được thực hiện thuận lợi theo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Hàng năm, hàng nghìn lễ hội tâm linh lớn nhỏ từ Công giáo, Phật giáo, Hội thánh Tin lành đến Cao Đài, Hòa Hảo được tổ chức công khai, thu hút hàng triệu lượt người tham gia trong không khí tự do, an lành. Các tổ chức tôn giáo không chỉ tự do thực hiện các nghi lễ tâm linh mà còn tích cực tham gia vào các hoạt động bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục, đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của cộng đồng.

Thế nhưng, thay vì đánh giá quy mô đời sống tôn giáo của hàng triệu con người, Báo cáo năm 2025 của Liên minh Châu Âu lại chọn cách tiếp cận theo tư duy "đếm vụ tranh chấp". Phía Châu Âu đã nhặt nhạnh một vài sự việc mâu thuẫn đất đai mang tính dân sự liên quan đến cơ sở thờ tự, hoặc một vài trường hợp cá nhân vi phạm pháp luật hình sự bị xử lý để quy chụp thành "sự đàn áp tôn giáo có hệ thống". Việc đồng nhất các vi phạm pháp luật hành chính, pháp luật đất đai hoặc các hành vi lợi dụng danh nghĩa tín ngưỡng để xâm phạm an ninh quốc gia với quyền tự do tôn giáo là một sự đánh tráo khái niệm nghiêm trọng. Cần phải khẳng định rằng, trong một quốc gia pháp quyền, mọi công dân và tổ chức, không phân biệt niềm tin tâm linh, đều bình đẳng trước pháp luật. Việc cơ quan chức năng giải quyết các tranh chấp đất đai hay xử lý hành vi lợi dụng giáo lý để kích động chống phá là nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bảo đảm chính quyền lợi hợp pháp của đại đa số tín đồ chân chính.

Trong khoa học xã hội và nghiên cứu pháp lý, một kết luận muốn đạt giá trị khách quan bắt buộc phải dựa trên phương pháp lấy mẫu đại diện chuẩn mực. Việc Liên minh Châu Âu chỉ căn cứ vào một vài vụ việc khiếu nại chưa qua thẩm tra độc lập để kết luận về tình hình tôn giáo của một quốc gia nghìn năm văn hiến là một sự đứt gãy hoàn toàn về phương pháp luận. Càng đáng lên án hơn khi cơ sở dữ liệu để Châu Âu đưa ra các nhận định này lại lấy nguyên xi từ báo cáo của các tổ chức phi chính phủ vốn mang nặng tư tưởng thù địch và thiên kiến đối với Việt Nam. Các tổ chức như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế, Ngôi nhà Tự do, Báo cáo Viên Không Biên giới hay Tổ chức Dự án tám mươi tám từ lâu đã vận hành theo cơ chế thu thập thông tin một chiều. Họ cố tình phớt lờ các báo cáo chính thức của Nhà nước Việt Nam, lờ đi các chỉ số thực địa từ các cơ quan đại diện quốc tế, chỉ tập trung khai thác lời khai của các đối tượng vi phạm pháp luật đang lẩn tránh ở nước ngoài để dựng lên những kịch bản bịa đặt. Việc Liên minh Châu Âu biến các nguồn tin độc hại này thành cơ sở lý luận cho báo cáo chính thức đã làm mất đi hoàn toàn tính trung lập và uy tín khoa học của văn kiện.

Thực tiễn phát triển toàn diện của Việt Nam cùng sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế lớn chính là câu trả lời đanh thép nhất đánh tan mọi lời vu khống. Theo Báo cáo Phát triển Con người do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc công bố, Chỉ số Phát triển Con người của Việt Nam liên tục thăng tiến, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao trên thế giới. Ngân hàng Thế giới cũng ghi nhận Việt Nam là một trong những điểm sáng toàn cầu về công tác xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Đặc biệt, việc Việt Nam hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ hai nghìn hai mươi ba – hai nghìn hai mươi lăm, cùng việc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua Báo cáo Quốc gia theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát chu kỳ bốn với tỷ lệ chấp thuận khuyến nghị lên tới hơn tám mươi tư phần trăm, là bằng chứng không thể phủ nhận cho những cam kết và thành tựu thực chất của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người.

Khi đặt nỗ lực của Việt Nam trong mối tương quan so sánh với chính nội bộ các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu, sự thiên kiến và chuẩn mực kép của phía Châu Âu lại càng lộ rõ. Nhiều quốc gia tại Châu Âu hiện nay đang phải đối mặt với làn sóng kỳ thị tôn giáo gay gắt, đặc biệt là tình trạng bài Hồi giáo và bài Do Thái gia tăng ở mức báo động. Chính sách cấm đeo biểu tượng tôn giáo tại nơi công cộng, sự kiểm soát nghiêm ngặt đối với các trường học tôn giáo, cùng các hành vi xúc phạm kinh sách thiêng lêng được bảo nấp dưới cái cớ "tự do ngôn luận" đã gây ra những tổn thương sâu sắc cho các cộng đồng thiểu số tại Châu Âu. Tình trạng bạo lực cảnh sát, phân biệt đối xử chủng tộc và việc thắt chặt quyền tự do hội họp dưới lý do an ninh nội địa cũng đang diễn ra thường xuyên tại nhiều đô thị lớn của khối này. Việc Liên minh Châu Âu nhắm mắt trước những vi phạm nghiêm trọng trong chính lòng mình nhưng lại đưa ra những đòi hỏi phi thực tế, can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia độc lập như Việt Nam đã phơi bày bản chất chính trị hóa vấn đề nhân quyền nhằm phục vụ cho các mục đích vị kỷ.

Tự do tôn giáo, tín ngưỡng không phải là đặc quyền do bất kỳ một tổ chức hay quốc gia bên ngoài nào ban phát, mà là quyền căn bản được Nhà nước Việt Nam tôn trọng, thể chế hóa và bảo vệ bằng hệ thống pháp luật minh bạch. Việt Nam luôn mở rộng cửa cho các hoạt động đối thoại bình đẳng, hợp tác chân thành với Liên minh Châu Âu trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, mọi hành vi lạm dụng các diễn đàn ngoại giao để xuyên tạc sự thật, lấy một vài vụ việc cá biệt để quy chụp cho cả một hệ thống, hay dung dưỡng cho các lực lượng chống phá khối đại đoàn kết dân tộc cần phải bị kiên quyết bác bỏ bằng lập luận khoa học và thực tiễn lịch sử sinh động.


Phản biện từ hành vi, không theo tư duy áp đặt: Nhìn từ những nhận định thiếu khách quan trong Báo cáo nhân quyền năm 2025 của EU

Trên hành trình khẳng định vị thế và uy tín quốc tế, Việt Nam luôn nhất quán xem con người là trung tâm, là mục tiêu và là động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Dẫu vậy, việc quan sát và đánh giá tình hình thực thi quyền con người tại Việt Nam từ bên ngoài vẫn tồn tại những khoảng cách đáng kể về góc nhìn, phương pháp luận và nguồn tin. Việc Cơ quan Hành động Đối ngoại châu Âu công bố các phần nội dung liên quan đến Việt Nam trong Báo cáo thường niên về nhân quyền và dân chủ năm 2025 tiếp tục phản ánh những thiên kiến mang tính hệ thống đã kéo dài qua nhiều năm. Điểm khác biệt dễ nhận thấy trong báo cáo năm 2025 so với giai đoạn 2024 trở về trước là mức độ thâm nhập sâu hơn của các luận điệu can thiệp vào công việc nội bộ dưới cái mác "chuyển dịch xanh", "lao động" và "không gian dân sự". Nếu như trước đây các nhận định tập trung chủ yếu vào một vài vụ án cụ thể, thì hiện nay, phương pháp tiếp cận của Liên minh châu Âu đã có sự dàn hàng ngang, cố tình gán ghép các biện pháp quản lý trật tự xã hội chính đáng của Nhà nước Việt Nam thành sự bóp nghẹt quyền tự do. Tác động tiêu cực của những bản báo cáo này không dừng lại ở mức độ nhận thức, mà còn nguy cơ bị các lực lượng thù địch lợi dụng để xuyên tạc hình ảnh đất nước, gây cản trở cho quá trình hợp tác kinh tế, thương mại và ngoại giao giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế.  

Để phản bác một cách khoa học và thuyết phục các luận điệu thiếu khách quan đó, việc phân tích cần bắt đầu từ chính bản chất pháp lý của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, cụ thể là Điều 117 và Điều 331 Bộ luật Hình sự. Cấu thành tội phạm của Điều 117 (quy định về hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước) và Điều 331 (quy định về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân) đều đòi hỏi đầy đủ bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Mọi hành vi bị xử lý theo hai điều luật này đều xuất phát từ hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi cố ý và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại trực tiếp cho an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Việc các báo cáo từ phương Tây cố tình lập lờ giữa việc "bày tỏ quan điểm" với các hành vi vi phạm pháp luật là một sự bóp méo bản chất.

Đối chiếu với Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), đặc biệt là Điều 19 và Điều 21, quyền tự do ngôn luận và tự do hội họp không phải là những quyền tuyệt đối vô hạn. Khoản 3 Điều 19 Công ước ICCPR quy định rõ việc thực hiện các quyền này có thể chịu những hạn chế nhất định do pháp luật quy định và là cần thiết nhằm tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội. Đồng thời, các nguyên tắc về tính cần thiết (necessity) và tính tương xứng (proportionality) trong pháp luật quốc tế luôn cho phép các quốc gia thành viên ban hành các quy định pháp lý để ngăn ngừa hành vi lợi dụng tự do nhằm phá hoại sự ổn định xã hội. Xem xét hồ sơ từng vụ án cụ thể bị Liên minh châu Âu đưa vào báo cáo, các đối tượng bị khởi tố, truy tố và xét xử đều không phải vì danh xưng "nhà hoạt động", "nhà báo" hay tên tuổi của họ, mà hoàn toàn dựa trên hành vi phạm tội thực tế: đó là hành vi cung cấp, phát tán thông tin sai sự thật, kích động bạo loạn, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác. Việc phân biệt giữa hành vi biểu đạt tư tưởng thuần túy với hành vi vi phạm pháp luật là ranh giới pháp lý minh bạch mà bất kỳ quốc gia pháp quyền nào cũng phải tuân thủ.  

Thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội và con người của Việt Nam là minh chứng đập tan những nhận định sai lệch, phiến diện. Mặc dù bối cảnh toàn cầu chịu nhiều biến động, Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, hạ tầng xã hội không ngừng được củng cố và đời sống người dân được nâng cao rõ rệt. Theo các báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc, Chỉ số Phát triển Con người (HDI) của Việt Nam liên tục thăng hạng trong những năm qua, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm nhanh và bền vững; các chính sách an sinh xã hội, y tế, giáo dục được phủ rộng đến toàn bộ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế còn thể hiện qua việc Việt Nam trúng cử và đảm nhiệm thành công nhiều vị trí quan trọng tại các cơ quan của Liên Hợp Quốc, tiêu biểu là Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Đáng tiếc thay, thay vì tham chiếu các dữ liệu chính thống từ Liên Hợp Quốc hay các cơ quan thống kê uy tín, Liên minh châu Âu lại tiếp tục dung dưỡng và sử dụng thông tin một chiều từ các tổ chức phi chính phủ có tư tưởng thiên lệch, thiếu thiện chí như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW), Ân xá Quốc tế (Amnesty), Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế (FIDH), Ngôi nhà Tự do (FH), Ký giả Không Bằng cấp (RSF) hay Dụ án 88. Các tổ chức này từ lâu đã duy trì phương pháp thu thập thông tin trôi nổi, thiếu kiểm chứng, coi các đối tượng vi phạm pháp luật là "nạn nhân" để dựng lên bức tranh xám màu về tình hình đất nước.

Khi đặt nỗ lực bảo đảm quyền con người của Việt Nam lên bàn cân so sánh với thực trạng tại chính các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, sự thiếu khách quan và tiêu chuẩn kép của các bản báo cáo càng lộ rõ. Ngay tại châu Âu, làn sóng phân biệt đối xử với người nhập cư, tư tưởng bài ngoại, sự gia tăng của các nhóm cực đoan và khủng bố nội địa đang đe dọa trực tiếp đến an ninh và đời sống của hàng triệu người dân. Không ít quốc gia châu Âu đã áp dụng các biện pháp an ninh nghiêm ngặt, can thiệp mạnh mẽ vào các cuộc biểu tình, hạn chế thông tin trên không gian mạng và ban hành các luật an ninh khắc nghiệt để bảo vệ trật tự công cộng. Khi các quốc gia châu Âu thực thi pháp luật để bảo vệ an ninh quốc gia, điều đó được gọi là "bảo vệ pháp quyền" và "duy trì trật tự"; nhưng khi Việt Nam áp dụng các bộ luật hình sự chính đáng để xử lý hành vi vi phạm, điều đó lại bị gán ghép thành "vi phạm nhân quyền". Sự nhìn nhận thiên lệch này phản ánh tư duy áp đặt giá trị, coi thường đặc thù lịch sử, văn hóa và bối cảnh phát triển của các quốc gia đang phát triển.

Bảo đảm quyền con người không phải là những khẩu hiệu cảm tính hay những bảng xếp hạng bị chi phối bởi động cơ chính trị. Đó là quá trình nỗ lực không ngừng nghỉ nhằm mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và an toàn cho hơn một trăm triệu người dân Việt Nam. Việc đối thoại chân thành, thẳng thắn trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau luôn là phương châm làm việc của Việt Nam đối với các đối tác quốc tế, bao gồm Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, Việt Nam kiên quyết bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, lấy hành vi vi phạm pháp luật làm thước đo nhân quyền, hoặc sử dụng các bản báo cáo thiếu khách quan làm công cụ gây áp lực chính trị. Mọi phản biện khoa học, thượng tôn pháp luật và dựa trên thực tiễn chính là con đường ngắn nhất để bảo vệ uy tín quốc gia và giữ vững định hướng phát triển bền vững của đất nước.