Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

CHỐNG TIN GIẢ HAY "KIỂM SOÁT CỘNG ĐỒNG": RANH GIỚI THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ NGHỊ QUYẾT 23

Sự bùng nổ của không gian mạng toàn cầu đã mở ra những không gian tương tác vượt qua mọi ranh giới địa lý, giúp cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài dễ dàng kết nối, cập nhật mọi chuyển động đời sống, xã hội của quê hương. Tuy nhiên, sự phát triển vượt bậc này cũng vô tình trở thành mảnh đất mỡ màu cho các hành vi lan truyền thông tin sai lệch, tin giả và những chiến dịch truyền thông bẩn nhằm bóp méo các đường lối, chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Một trong những trọng tâm chống phá tiêu biểu thời gian qua là Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về tiếp tục phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng các văn bản triển khai công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Việc nhận diện bản chất thật của các chiến dịch thông tin thiếu khách quan, vạch trần các thủ đoạn quy chụp "kiểm soát báo chí, hội đoàn" và khẳng định trách nhiệm pháp lý trong công tác thông tin lãnh sự là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ quyền được tiếp cận sự thật của kiều bào.


Thực tế theo dõi trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube hay các trang blog của một số nhóm đối kháng lưu vong cho thấy, luồng dư luận tiêu cực nhằm vào Nghị quyết 23 tập trung khoét sâu vào luận điệu "Nhà nước Việt Nam đang thực hiện chiến dịch kiểm soát thông tin cộng đồng". Dẫn chứng cụ thể, khi các cơ quan đại diện ngoại giao triển khai các chương trình cung cấp thông tin pháp lý, hội thảo văn hóa hoặc phối hợp với các hội đoàn kiều bào để lan tỏa đường lối đại đoàn kết, một số tài khoản mạng xã hội lập tức đăng tải các bài viết có nội dung quy chụp. Họ lu loa rằng Nhà nước "đang tìm cách mua chuộc, thâu tóm các hội đoàn tự do", "bóp nghẹt tự do ngôn luận của báo chí kiều bào" hay "biến các hội đoàn ở hải ngoại thành cánh tay nối dài để thao túng dư luận". Các chiến dịch này cố tình đưa ra các đoạn cắt ghép thông tin, nhào nặn bản chất của công tác thông tin công cộng thành hành vi "kiểm soát an ninh", nhằm gieo rắc sự ngờ vực, gây tâm lý hoang mang và kích động sự quay lưng của kiều bào đối với các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài.

Cần phải khẳng định một cách đanh thép rằng, các cáo buộc về việc "ép buộc phát ngôn" hay "thâu tóm báo chí, hội đoàn kiều bào" là hoàn toàn sai sự thật, mang bản chất bẻ cong thực tế. Trong một xã hội thượng tôn pháp luật và giữa không gian truyền thông mở, không một cơ quan nhà nước nào có thể hay có quyền bắt buộc các hội đoàn, báo chí tư nhân ở nước ngoài phải phát ngôn theo chỉ định. Bản chất của công tác thông tin hướng về kiều bào theo tinh thần Nghị quyết 23 là cung cấp thông tin chính thức, minh bạch, chính xác và kịp thời về tình hình đất nước, các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân. Cần phân biệt rạch ròi giữa việc "cung cấp nguồn thông tin chính thống để kiều bào tham khảo, đối chiếu" với hành vi "ép buộc định hướng tư tưởng". Việc chính phủ chủ động thông tin về các quy định pháp luật mới, như chính sách đất đai, nhà ở, quốc tịch hay ưu đãi đầu tư, chính là bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin của công dân, giúp kiều bào không bị lừa gạt bởi các luồng tin giả, tin thất thiệt.

Xét dưới góc độ nhân quyền và trách nhiệm quản lý quốc gia, công tác thông tin đối ngoại và thông tin lãnh sự là một phần không thể tách rời của nghĩa vụ bảo hộ công dân. Trong các tình huống khủng hoảng, thiên tai, xung đột quân sự hay dịch bệnh toàn cầu, việc các cơ quan đại diện ngoại giao duy trì kênh thông tin khẩn cấp, chính xác đến từng hội đoàn và cá nhân kiều bào là yếu tố sinh tử để đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản cho đồng bào. Nếu không có các kênh truyền thông chính thức, thông tin sai lệch và tin giả về tình hình bảo hộ lãnh sự sẽ gây ra sự hoảng loạn nguy hiểm. Do đó, việc duy trì, mở rộng và tăng cường tính tương tác của hệ thống thông tin lãnh sự không những không phải là hành vi kiểm soát, mà là sự cụ thể hóa nghĩa vụ chăm lo, bảo vệ quyền con người của Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng ở hải ngoại.

Khi nhìn ra thực tiễn quốc tế, việc triển khai các chương trình truyền thông cộng đồng thông qua hệ thống ngoại giao là thông lệ tiêu chuẩn của mọi quốc gia phát triển. Các cơ quan đại diện ngoại giao của Mỹ, Anh, Pháp hay Nhật Bản đều vận hành những hệ thống truyền thông cực kỳ bài bản dành cho công dân sinh sống ở nước ngoài. Họ thành lập các trung tâm văn hóa, tài trợ cho các tờ báo, tạp chí của cộng đồng kiều bào, tổ chức các mạng lưới doanh nhân, trí thức hải ngoại nhằm quảng bá hình ảnh quốc gia và bảo vệ lợi ích công dân. Không một ai quy chụp những hoạt động truyền thông ngoại giao văn minh đó của các nước phương Tây là "thao túng" hay "kiểm soát tư tưởng". Do đó, việc các thế lực thù địch cố tình áp đặt tiêu chuẩn kép, vu khống hoạt động truyền thông chính thống của Việt Nam theo Nghị quyết 23 thực chất là thủ đoạn chính trị đê hèn nhằm cô lập cộng đồng kiều bào khỏi quê hương.

Chính sách đúng đắn và tính nhân văn cao đẹp của Nghị quyết 23 đã được chứng minh sinh động qua những thành tựu thực tiễn trong công tác gắn kết, hòa hợp cộng đồng. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc. Hàng loạt chính sách cụ thể đã được triển khai, từ việc tạo điều kiện cho kiều bào giữ quốc tịch Việt Nam, mua nhà ở trong nước, đến việc vinh danh các trí thức, doanh nhân kiều bào có đóng góp xuất sắc cho sự phát triển của quê hương. Các chương trình thường niên như Xuân Quê Hương, Trại hè Việt Nam hay các đoàn kiều bào thăm Trường Sa đã trở thành những nhịp cầu kết nối tình cảm thiêng liêng, xóa bỏ những rào cản quá khứ, củng cố niềm tin và lòng tự hào dân tộc trong lòng mỗi người con xa xứ.

Động cơ đen tối của những cá nhân, tổ chức đang ra sức chống phá Nghị quyết 23 không gì khác ngoài việc cố tình duy trì sự hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để phục vụ cho những lợi ích nhóm ích kỷ và mưu đồ chính trị bất chính. Chúng lo sợ một cộng đồng kiều bào đoàn kết, thông thái, gắn kết chặt chẽ với trong nước sẽ làm phá sản các chiến dịch tuyên truyền dối trá, khiến chúng mất đi lý do tồn tại và các nguồn tài trợ lưu vong. Để đối phó với các thủ đoạn tinh vi này, cộng đồng kiều bào cần hết sức tỉnh táo, nâng cao khả năng tự đề kháng trước các tin giả, chủ động kiểm chứng thông tin qua các kênh chính thức và thượng tôn pháp luật sở tại cũng như pháp luật Việt Nam.

Để xây dựng một môi trường truyền thông văn minh, lành mạnh và hiệu quả, sự thấu hiểu và trách nhiệm phải đến từ cả hai phía. Phía các cơ quan nhà nước cần tiếp tục nâng cao tính công khai, minh bạch, đa dạng hóa các phương thức truyền thông, lắng nghe và tiếp thu các ý kiến đóng góp chân thành của kiều bào với thái độ cầu thị, tuyệt đối không hành chính hóa hay tạo ra cảm giác gượng ép. Ở chiều ngược lại, dư luận xã hội, các nhà báo và những người phản biện chân chính cũng cần từ bỏ thái độ định kiến, không thể quy chụp mọi thông tin chính thức của Nhà nước là tuyên truyền hay thao túng. Ranh giới của mọi hoạt động truyền thông và phản biện phải luôn nằm ở sự thật, chứng cứ khách quan và tinh thần thượng tôn pháp luật.

Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị với tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là kim chỉ nam cho các chính sách chăm lo, phát huy nguồn lực kiều bào của Việt Nam. Sự thật khách quan về những thành tựu hòa hợp dân tộc và công tác bảo hộ công dân sẽ là câu trả lời đanh thép nhất, làm thất bại mọi âm mưu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt.


CƠ SỞ DỮ LIỆU NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI: QUẢN TRỊ SỐ PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG HAY SỰ XUYÊN TẠC VỀ "DANH SÁCH THEO DÕI"?

 Trong kỷ nguyên chuyển đổi số toàn cầu, việc hiện đại hóa công tác quản lý hành chính và tối ưu hóa các dịch vụ công dựa trên nền tảng dữ liệu đã trở thành xu thế tất yếu của mọi quốc gia phát triển. Đối với Việt Nam, chủ trương xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị – tiêu biểu là Nghị quyết 23 và Kết luận 12 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới – là bước đi chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân, hỗ trợ kiều bào và phát huy nguồn lực kiều hối, trí thức cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube hay các trang báo thiếu thiện chí, một luồng dư luận tiêu cực và sai sự thật đã cố tình bóp méo bản chất của chủ trương này. Họ rêu rao rằng việc thu thập, tạo lập cơ sở dữ liệu kiều bào thực chất là lập "danh sách theo dõi", là biện pháp "giám sát an ninh" hay "kiểm soát tư tưởng" người Việt ở hải ngoại. 


Trước hết, cần nhìn nhận khách quan luồng thông tin tiêu cực đang lan truyền trên không gian mạng. Các tài khoản mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức phản động lưu vong thường xuyên đăng tải các bài viết, video clip có nội dung quy chụp. Ví dụ cụ thể, họ viện dẫn việc triển khai cập nhật thông tin công dân ở nước ngoài vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia để tung tin đồn rằng "Nhà nước Việt Nam đang lập hồ sơ đen", "thu thập thông tin cá nhân để phục vụ cho mục đích trừng phạt khi kiều bào về nước" hoặc "kiểm soát tài sản của kiều bào gửi về quê hương". Các chiêu trò này thường sử dụng thuật ngữ giật gân, đánh tráo khái niệm giữa "quản trị số hành chính" với "hành vi giám sát bất hợp pháp". Họ cố tình xoáy sâu vào tâm lý e ngại về an toàn thông tin cá nhân để gieo rắc sự ngờ vực, chia rẽ mối quan hệ gắn kết giữa cộng đồng người Việt ở hải ngoại với quê hương.

Xét dưới góc độ nhân quyền và pháp lý, quyền riêng tư và an toàn dữ liệu cá nhân là những quan tâm hoàn toàn chính đáng của mọi công dân trong xã hội hiện đại. Cần phân biệt rõ ràng giữa một bên là những lo ngại chính đáng, mang tính đóng góp xây dựng của kiều bào về quy trình bảo mật thông tin, với một bên là những khẳng định vô chứng cứ, mang bản chất quy chụp chính trị của các đối tượng chống phá. Việc lo lắng dữ liệu cá nhân có thể bị lộ, gọt giũa hay sử dụng sai mục đích là phản ứng tự nhiên của con người trước bất kỳ hệ thống dữ liệu nào. Tuy nhiên, việc cố tình suy diễn rằng sự tồn tại của một hệ thống cơ sở dữ liệu đồng nghĩa với việc chính phủ đang tiến hành "giám sát diện rộng" là một sự quy kết vô căn cứ, thiếu logic và mang tính mị dân.

Về bản chất thực sự, việc xây dựng cơ sở dữ liệu người Việt Nam ở nước ngoài xuất phát từ nhu cầu khách quan và cấp thiết trong công tác quản lý nhà nước hiện đại. Thứ nhất, đó là công cụ đắc lực nhất để thực hiện công tác bảo hộ công dân. Trong các tình huống khủng hoảng như thiên tai, dịch bệnh hay xung đột vũ trang tại các khu vực trên thế giới, nếu không có cơ sở dữ liệu chính xác về số lượng, địa bàn sinh sống và thông tin liên lạc của công dân, việc triển khai các biện pháp giải cứu, cứu trợ khẩn cấp sẽ gặp muôn vàn khó khăn. Bài học từ việc sơ tán hàng ngàn công dân Việt Nam khỏi các vùng chiến sự hay các chuyến bay giải cứu trong đại dịch vừa qua đã chứng minh vai trò quan trọng của thông tin dữ liệu. Thứ hai, dữ liệu chuẩn xác giúp Nhà nước hoạch định các chính sách thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ pháp lý và đơn giản hóa thủ tục hành chính cho kiều bào khi có nhu cầu hồi hương, mua nhà ở hay đầu tư tại Việt Nam. Thứ ba, công tác thống kê dân số và biến động lao động là yêu cầu chuyên môn tiêu chuẩn của bất kỳ hệ thống quản trị quốc gia nào.

Khi nhìn ra thế giới, việc đăng ký công sở, thiết lập hệ thống ghi nhận thông tin kiều bào hay sổ đăng ký công dân tại đại sứ quán là thực tiễn phổ biến của hầu hết các quốc gia tiên tiến. Nhiều nước phát triển đã áp dụng hệ thống đăng ký công dân ở nước ngoài từ hàng thập kỷ nay để phục vụ công tác lãnh sự và bầu cử. Mỹ triển khai Hệ thống đăng ký công dân thông minh nhằm ghi nhận vị trí của công dân khi đi du lịch hoặc sinh sống ở nước ngoài để hỗ trợ trong trường hợp khẩn cấp. Các quốc gia Châu Âu hay Hàn Quốc, Nhật Bản đều duy trì mạng lưới đăng ký lãnh sự chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân họ trên phạm vi toàn cầu. Do đó, việc Việt Nam hiện đại hóa công tác đăng ký lãnh sự và xây dựng cơ sở dữ liệu kiều bào hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, tuân thủ các quy chuẩn quản trị số hiện đại chứ không phải là một "sáng kiến" mang tính kiểm soát như các luận điệu xuyên tạc tuyên truyền.

Tính nhân văn, nhân đạo và văn hóa cao đẹp của Nghị quyết 23 cũng như chính sách kiều bào của Việt Nam còn thể hiện qua sự khác biệt căn bản trong tư duy tiếp cận: coi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong khi nhiều quốc gia chỉ xem kiều bào là đối tượng quản lý di cư hoặc chỉ chú trọng đến nghĩa vụ thuế, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đặt sự chăm lo, bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của kiều bào lên hàng đầu. Các chính sách về giữ gìn tiếng Việt, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc, hỗ trợ pháp lý, khuyến khích kiều bào tham gia đóng góp ý kiến cho các quyết sách lớn của đất nước là minh chứng sinh động cho tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để đập tan các luận điệu sai lệch, công tác triển khai cơ sở dữ liệu kiều bào cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và kỹ thuật theo hướng áp dụng các chuẩn mực bảo vệ dữ liệu cá nhân cao nhất. Việc minh bạch hóa quy trình thu thập, quy định rõ ràng quyền truy cập, thời hạn lưu trữ thông tin và cơ chế bảo mật theo Luật An ninh mạng cũng như các quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân chính là câu trả lời đanh thép nhất. Sự minh bạch và chuyên nghiệp trong vận hành hệ thống sẽ xóa tan mọi nghi ngờ, đồng thời củng cố niềm tin của cộng đồng đối với các chủ trương của Đảng và Nhà nước.

Động cơ thực sự của các cá nhân, tổ chức đang ra sức chống phá Nghị quyết 23 không gì khác ngoài mục đích phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, ngăn cản nguồn lực trí tuệ và tài chính của kiều bào đóng góp cho sự phát triển của quê hương. Họ lo sợ một cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại hòa hợp, gắn kết chặt chẽ với trong nước sẽ làm phá sản các âm mưu chính trị đen tối và làm mất đi "nguồn sống" từ các hoạt động chống phá của họ. Trước những chiêu trò lòe bịp và thủ đoạn tinh vi đó, dư luận trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cần giữ vững sự tỉnh táo, nâng cao cảnh giác, chủ động tìm hiểu thông tin qua các kênh chính thống để không bị rơi vào bẫy tuyên truyền của các thế lực thù địch.

Nghị quyết 23 cùng các chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác người Việt Nam ở nước ngoài mãi mãi là chỗ dựa tin cậy, thể hiện tình cảm và trách nhiệm của quê hương đối với kiều bào. Sự dối trá và các luận điệu xuyên tạc dù được ngụy trang tinh vi đến đâu cũng sẽ bị phơi bày trước sự thật khách quan và những kết quả thực tiễn của chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc.


Nhận diện thủ đoạn bóp méo ngôn từ trong chiến dịch chống phá Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị

Giữa dòng chảy thông tin đa chiều của không gian mạng toàn cầu, ngôn từ từ lâu đã không chỉ là phương tiện giao tiếp mà đôi khi còn trở thành thứ vũ khí sắc bén bị các thế lực thù địch lợi dụng để bóp méo bản chất sự thật. Điển hình cho hiện tượng này là cách mà các hội nhóm, cá nhân phản động cố tình xuyên tạc, thêu dệt và thổi phồng các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, tiêu biểu là Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị. Một trong những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhất hiện nay là việc họ nhặt nhạnh, trích xuất tùy tiện các thuật ngữ hành chính quen thuộc trong văn bản chính luận nước nhà – đặc biệt là từ "tuyên truyền" – rồi cố tình dịch nghĩa hoặc áp đặt lăng kính ngoại lai vào đó để hô biến thành một "chiến dịch thao túng tư tưởng" hay "tẩy não diện rộng". Để bảo vệ sự thật khách quan, vạch trần tận gốc những chiêu trò lòe bịp kiều bào và dư luận, việc phân tích sâu sắc bản chất vấn đề dưới góc độ ngôn ngữ học chính trị, luật pháp và thực tiễn nhân quyền là điều cấp thiết hơn bao giờ hết.

Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube và một số trang thông tin điện tử phản động lưu vong, xuất hiện nhiều bài viết, video phân tích có chủ đích nhằm vào các văn bản triển khai Nghị quyết 23. Dẫn chứng cụ thể là họ thường xuyên cắt dán các đoạn trích từ thông tri, hướng dẫn hoặc kế hoạch hành động của các cơ quan ngoại giao, trong đó xuất hiện cụm từ "tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài". Ngay lập tức, những kẻ chống phá vin vào từ "tuyên truyền" này để lập luận rằng đây là bằng chứng thép cho thấy Nhà nước Việt Nam đang tiến hành một chiến dịch thao túng tâm lý, áp đặt ý thức hệ hệ thống toàn trị lên cộng đồng kiều bào tự do ở các nước phương Tây. Họ cố tình nhào nặn thông tin, tung ra các luận điệu quy chụp rằng chính sách gắn kết kiều bào thực chất chỉ là cái bẫy để thu thập tin tức tình báo, kiểm soát tư tưởng và bóp nghẹt tiếng nói phản biện của những người Việt bất đồng chính kiến ở hải ngoại. Các chiêu trò này được ngụy trang dưới vẻ ngoài của những nhà phân tích nhân quyền độc lập nhằm gieo rắc sự hoài nghi, chia rẽ tình đoàn kết ruột thịt giữa đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài.

Để vạch trần bản chất lừa bịp của các luồng dư luận trên, trước hết cần phải phân tích rõ sự khác biệt sâu sắc về mặt ngữ nghĩa và văn hóa chính trị trong hệ thống hành chính Việt Nam so với cách hiểu của ngoại ngữ. Trong tiếng Việt chính thống và hệ thống thuật ngữ chính trị học xã hội chủ nghĩa, từ "tuyên truyền" mang ý nghĩa tích cực là phổ biến, lan tỏa, giải thích và truyền đạt các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với người dân nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, nâng cao hiểu biết pháp lý và quyền lợi công dân. Bản chất của công tác này là truyền thông chính sách công khai, minh bạch, giúp người dân nắm bắt quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, khi các đối tượng chống phá cố tình dịch từ này sang ngôn ngữ phương Tây bằng những từ mang sắc thái tiêu cực nặng nề, họ cố ý đánh tráo khái niệm nhằm gán ghép hệ thống thông tin của Việt Nam với các hình thức nhồi sọ độc đoán. Đây là một thủ thuật dịch thuật định hướng vô cùng đê hèn, dùng rào cản ngôn ngữ và sự khác biệt văn hóa để lòe bịp những kiều bào ít có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với thực tiễn trong nước, từ đó kích động sự thù hận và xa lánh quê hương.

Thực tiễn các hoạt động thông tin và chăm lo cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hoàn toàn trái ngược với những luận điệu xuyên tạc đó. Nội dung cốt lõi của các chương trình thông tin chính sách hướng về kiều bào chưa bao giờ là áp đặt tư tưởng, mà tập trung vào việc cung cấp các thông tin thiết thực, phục vụ trực tiếp cho đời sống, quyền lợi hợp pháp và nhu cầu hướng về nguồn cội của kiều bào. Đó là các thông tin chi tiết về hệ thống pháp luật mới sửa đổi như Luật Đất đai, Luật Nhà ở tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào sở hữu bất động sản, đầu tư kinh doanh tại quê nhà mà không gặp rào cản pháp lý. Đó là công tác bảo hộ công dân kịp thời, hỗ trợ thủ tục lãnh sự, cấp hộ chiếu, giải quyết các vướng mắc về quốc tịch và giấy tờ tùy thân. Đó còn là các hoạt động văn hóa tâm linh phong phú như chương trình Xuân Quê Hương đưa hàng ngàn kiều bào về ăn Tết cùng gia đình, các trại hè thanh thiếu niên kiều bào giúp thế hệ trẻ tìm về cội nguồn dân tộc, các lớp tập huấn giữ gìn tiếng Việt cho con em kiều bào ở nước ngoài. Tất cả những hoạt động đó đều minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc, tình cảm ruột thịt và trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, khẳng định kiều bào là bộ phận không tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nếu đặt chính sách đối với kiều bào của Việt Nam lên bàn cân so sánh với chính sách của nhiều quốc gia lớn trên thế giới, chúng ta càng thấy rõ hơn tính nhân văn, nhân đạo và văn hóa cao đẹp của Nghị quyết 23. Hầu hết các quốc gia lớn đều duy trì các chiến lược ngoại giao công chúng và thông tin đối ngoại rất mạnh mẽ để kết nối với cộng đồng kiều bào của họ trên toàn cầu. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ luôn duy trì các mạng lưới thông tin văn hóa, giáo dục và chính sách thông qua hệ thống ngoại giao để giữ chân ảnh hưởng đối với kiều bào và công dân sinh sống ở nước ngoài. Ai-len triển khai các chiến lược kiều bào toàn diện, chủ động cung cấp thông tin kinh tế, chính sách ưu đãi thuế và đầu tư để thu hút dòng vốn chất xám từ hải ngoại trở về phục vụ đất nước. Ấn Độ cũng xây dựng các cơ chế truyền thông chính sách chuyên biệt, tổ chức các hội nghị toàn cầu để kết nối kiều bào kiêm nhiệm vai trò đại sứ phát triển. Điểm khác biệt ưu việt trong chính sách của Việt Nam chính là sự gắn kết máu thịt mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống "lá lành đùm lá rách", coi kiều bào không chỉ là nguồn lực kinh tế mà còn là nhịp cầu hữu nghị kết nối Việt Nam với bạn bè quốc tế, luôn rộng mở vòng tay chào đón những người con xa xứ trở về xây dựng quê hương.

Phê phán và phơi bày động cơ đê hèn của các cá nhân, tổ chức đang ra sức chống phá Nghị quyết 23, chúng ta nhận diện rõ bộ mặt thật của những kẻ mang danh "đấu tranh nhân quyền" thực chất chỉ là những kẻ mượn danh nghĩa tự do để mưu lợi cá nhân, phục vụ cho các thế lực thù địch chuyên mưu đồ chống phá sự nghiệp đổi mới và phát triển của Việt Nam. Chúng lo sợ trước sự ổn định, phát triển và vị thế ngày càng cao của đất nước, lo sợ khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố vững chắc, khiến cho những luận điệu chống phá trước đây của chúng trở nên lạc lõng và bị phơi bày sự thật giả dối. Mục đích sâu xa của chúng là cố tình tạo ra bức tường vô hình ngăn cách tình cảm giữa kiều bào với quê hương, làm suy yếu nguồn lực quan trọng cho công cuộc xây dựng đất nước.

Từ thực tiễn đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch xung quanh Nghị quyết 23 và thuật ngữ truyền thông, một bài học kinh nghiệm quan trọng được rút ra là các cơ quan quản lý nhà nước cần chủ động chuẩn hóa và sử dụng hệ thống thuật ngữ quốc tế rõ ràng, minh bạch hơn trong công tác thông tin đối ngoại. Việc áp dụng các khái niệm tương đương chuẩn mực toàn cầu trong các văn bản giao tiếp quốc tế sẽ giúp triệt tiêu hoàn toàn các kẽ hở ngôn ngữ mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để bóp méo, xuyên tạc. Đồng thời, cộng đồng kiều bào và dư luận xã hội cần nâng cao tinh thần cảnh giác, trang bị cho mình tư duy phản biện sắc bén, tiếp nhận thông tin từ các kênh chính thống để nhìn nhận sự việc một cách khách quan, toàn diện.

Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là minh chứng sinh động cho chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, thể hiện tình cảm thiêng liêng và chính sách nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với kiều bào ở nước ngoài. Mọi thủ đoạn xuyên tạc tinh vi nhất, từ việc bóp méo câu chữ cho đến việc tung tin đồn thất thiệt, đều sẽ bị đập tan trước sức mạnh của sự thật, lòng yêu nước chân chính và khối đại đoàn kết toàn dân tộc bền chặt không gì lay chuyển nổi.


Dạy tiếng Việt cho thế hệ thứ hai, thứ ba có phải là “nhồi sọ”?

Một đứa trẻ sinh ra cách Việt Nam hàng nghìn cây số, nói thành thạo ngôn ngữ nơi mình đang sống nhưng vẫn muốn học tiếng Việt để trò chuyện với ông bà, đọc một câu ca dao hay hiểu ý nghĩa tên mình, liệu có gì đáng lo ngại? Câu hỏi tưởng như rất đơn giản ấy lại trở thành điểm nóng trong một số tranh luận về Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị. Từ chủ trương giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và tăng cường kết nối thế hệ trẻ với quê hương, một số trang mạng hải ngoại đã đặt ra những cách diễn giải mang màu sắc chính trị, cho rằng đây là phương thức “tuyên truyền”, “thâm nhập”, tác động tư tưởng đối với thế hệ thứ hai, thứ ba. Nhưng giữa một lớp học tiếng Việt và một chương trình tác động chính trị là khoảng cách rất lớn. Muốn vượt qua khoảng cách ấy bằng một cáo buộc nghiêm trọng, điều cần thiết phải là chứng cứ chứ không phải sự liên tưởng.

Sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, một luồng bình luận tiêu cực tập trung đặc biệt vào việc văn bản quan tâm tới thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài. Một số bài được đăng và chia sẻ trên các trang hải ngoại trích những nội dung như giữ gìn tiếng Việt, giáo dục truyền thống, lịch sử, văn hóa dân tộc, tổ chức hoạt động trải nghiệm, về nguồn và giao lưu, rồi đặt tất cả trong một cách diễn giải mang tính nghi ngờ. Có bài gọi các chủ trương trong Nghị quyết là những “thủ đoạn ẩn giấu”, từ đó tạo cho người đọc cảm giác rằng việc hướng tới thế hệ thứ hai, thứ ba không đơn thuần là chính sách văn hóa mà chứa đựng mục tiêu chính trị phía sau.

Đây là thủ pháp đáng chú ý. Nội dung có thật của văn bản được giữ lại, nhưng ý nghĩa của nó được thay đổi bằng một lớp diễn giải khác. “Dạy tiếng Việt” được chuyển nghĩa thành tác động tư tưởng; “gắn kết thế hệ trẻ” được đặt gần với khái niệm lôi kéo; “giáo dục lịch sử, văn hóa” bị mặc nhiên đặt trong trạng thái đáng ngờ. Khi những khái niệm ấy được ghép liên tục với nhau, người đọc rất dễ hình thành ấn tượng rằng cứ lớp học tiếng Việt nào nhận sách, giáo trình hoặc sự hỗ trợ từ Việt Nam cũng có thể là một bộ phận của hoạt động chính trị.

Cần tách hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Một chương trình giáo dục cụ thể có thể bị phê bình nếu giáo trình chứa thông tin sai lệch, áp đặt quan điểm, kích động thù hận hoặc không phù hợp pháp luật nước sở tại. Khi đó, hãy đưa giáo trình ra, chỉ rõ bài nào, câu nào, nội dung nào không đúng. Nếu có sự cưỡng ép đối với học sinh, hãy chứng minh hành vi cưỡng ép. Nếu nguồn kinh phí không minh bạch, có thể yêu cầu công khai nguồn kinh phí. Nhưng không thể từ khả năng một chương trình giáo dục có thể bị lợi dụng để suy ra rằng bản thân việc tổ chức lớp tiếng Việt đã là “nhồi sọ”. Đó là cách lấy giả thiết thay cho chứng cứ.

Đọc trực tiếp Nghị quyết 23 cho thấy một bức tranh rộng hơn nhiều. Văn bản xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc. Một trong những mục tiêu được đặt ra là giữ gìn, lan tỏa truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa, giá trị nhân văn, lịch sử và tiếng Việt tới thế hệ trẻ và các thế hệ người Việt mai sau. Nghị quyết còn yêu cầu đổi mới phương thức nghiên cứu, giảng dạy, tôn vinh tiếng Việt; hỗ trợ kinh phí và chuyên môn cho giáo viên tiếng Việt trong cộng đồng; vận động những nước có đông người Việt tạo điều kiện để tiếng Việt hiện diện trong chương trình giáo dục.

Đáng chú ý, Nghị quyết không chỉ nói về tiếng Việt. Văn bản đồng thời đặt mục tiêu giúp cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng và phát triển ổn định tại nước sở tại. Chính hai nội dung này phải được đọc cùng nhau: hòa nhập vào xã hội đang sinh sống nhưng không nhất thiết phải đánh mất ngôn ngữ và nguồn cội. Đó cũng là bài toán chung của rất nhiều cộng đồng di cư trên thế giới.

Khoa học giáo dục từ lâu đã nghiên cứu hiện tượng trẻ em trong gia đình di cư dần mất ngôn ngữ của cha mẹ. Khi ngôn ngữ xã hội sở tại trở thành ngôn ngữ duy nhất trong trường học, bạn bè và đời sống hằng ngày, ngôn ngữ gia đình rất dễ suy giảm qua từng thế hệ. Đến thế hệ thứ ba, nhiều người chỉ còn biết một số từ đơn giản hoặc hoàn toàn không thể giao tiếp bằng tiếng của ông bà. Mất ngôn ngữ khi ấy không chỉ là mất một phương tiện giao tiếp. Khoảng cách ngôn ngữ có thể trở thành khoảng cách giữa các thế hệ trong chính một gia đình.

Các nghiên cứu về giáo dục song ngữ và duy trì ngôn ngữ nguồn cội cho thấy việc trẻ em tiếp tục học ngôn ngữ gia đình có thể hỗ trợ kết nối văn hóa, giao tiếp liên thế hệ và nhận thức về căn cước. Một nghiên cứu công bố năm 2026 về chương trình tiếp xúc tiếng Việt dành cho trẻ nhỏ ghi nhận sự tham gia tích cực của trẻ, sự gia tăng hứng thú, tự tin trong sử dụng tiếng Việt và đánh giá thuận lợi từ phụ huynh về khả năng kết nối ngôn ngữ, văn hóa.

Một điểm khác thường bị bỏ qua trong tranh luận chính trị là biết tiếng Việt thực ra còn mở rộng khả năng tự kiểm chứng thông tin. Một thanh niên gốc Việt không biết tiếng Việt phải tìm hiểu Việt Nam chủ yếu qua bản dịch hoặc nguồn bằng ngôn ngữ khác. Người biết tiếng Việt có thể đọc báo chí trong nước, báo chí ngoài nước, văn bản pháp luật, tài liệu lịch sử và những quan điểm đối lập rồi tự so sánh. Nếu mục tiêu thực sự là khuyến khích tư duy độc lập, có thêm một ngôn ngữ phải được xem là mở rộng năng lực tiếp cận thông tin chứ không phải thu hẹp nó.

Nhìn ra thế giới càng thấy việc một quốc gia chăm lo giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ ở nước ngoài không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Phi-líp-pin đã xây dựng cả hệ thống trường dành cho cộng đồng ở nước ngoài. Các trường này sử dụng chương trình giáo dục cơ bản của quê hương, đồng thời phải đáp ứng pháp luật và yêu cầu của nước sở tại. Mục tiêu bao gồm phục vụ nhu cầu học tập của con em cộng đồng, tạo thuận lợi nếu các em trở về nước và duy trì văn hóa, di sản dân tộc.

Nếu áp dụng máy móc công thức “chính phủ hỗ trợ trường học ở nước ngoài là tác động chính trị”, hệ thống trường của Phi-líp-pin cũng phải bị nhìn bằng sự nghi ngờ tương tự. Nhưng cách đánh giá hợp lý hơn phải là trường dạy nội dung gì, có tuân thủ luật nước sở tại hay không, phụ huynh có tự nguyện lựa chọn hay không và quyền lợi trẻ em có được bảo đảm hay không.

Ấn Độ cũng dành nguồn lực đáng kể để kết nối thế hệ trẻ trong cộng đồng ở nước ngoài với quê hương tổ tiên. Chương trình tìm hiểu Ấn Độ đưa thanh niên có nguồn gốc Ấn Độ về tìm hiểu lịch sử, văn hóa, kinh tế, khoa học, giáo dục và đời sống đất nước. Người tham gia được thăm các cơ quan, trường đại học, địa danh lịch sử và cơ sở văn hóa. Nhà nước hỗ trợ phần lớn chi phí. Về bản chất, đây chính là một chính sách giúp thế hệ sinh ra ở nước ngoài hiểu quê hương của cha mẹ và ông bà.

Ai-len cũng triển khai chương trình hỗ trợ cộng đồng ở nước ngoài với ngân sách nhà nước dành cho các hoạt động văn hóa, giáo dục, cộng đồng và kết nối thế hệ trẻ. Chính phủ nước này còn hỗ trợ giảng dạy tiếng Ai-len bên ngoài lãnh thổ. Những chính sách ấy xuất phát từ một thực tế đơn giản: cộng đồng di cư càng kéo dài qua nhiều thế hệ thì mối liên hệ ngôn ngữ, văn hóa với quê hương càng dễ phai nhạt nếu không có những thiết chế tự nguyện hỗ trợ duy trì.

Những so sánh trên không có nghĩa cứ quốc gia khác làm thì mọi chương trình của Việt Nam đương nhiên đúng. Giá trị của so sánh nằm ở chỗ khác: nó cho thấy tiền đề “nhà nước hỗ trợ thế hệ trẻ ở nước ngoài học tiếng và văn hóa quê hương là bất thường” không đứng vững. Chính sách chỉ đáng bị phê phán khi cách thực hiện cụ thể xâm phạm quyền, vi phạm luật sở tại, thiếu minh bạch hoặc biến giáo dục thành áp đặt chính trị. Muốn kết luận như vậy phải có chứng cứ cụ thể.

Đây cũng là điểm cần cảnh giác trước việc chính trị hóa quá mức Nghị quyết 23. Khi một văn bản nói “giữ gìn tiếng Việt” nhưng người bình luận tự thêm nghĩa “kiểm soát tư tưởng”; văn bản nói “gắn kết thế hệ trẻ” nhưng bị chuyển thành “lôi kéo”; nói “giáo dục lịch sử, văn hóa” lại bị suy thành “nhồi sọ”, nội dung chính sách đã bị thay thế bằng ý nghĩa do người phản đối tự gắn vào. Một chính sách có thể bị phản biện, nhưng phản biện phải bắt đầu từ những gì văn bản thực sự quy định.

Đương nhiên, trẻ em không nên trở thành đối tượng của bất kỳ sự áp đặt chính trị nào. Lớp tiếng Việt phải phù hợp lứa tuổi, minh bạch giáo trình, tôn trọng môi trường đa văn hóa và pháp luật nước sở tại. Phụ huynh có quyền biết con học gì; học sinh cần được khuyến khích tư duy độc lập; lịch sử phải được giảng dạy trên cơ sở kiến thức có căn cứ. Những nguyên tắc ấy càng được bảo đảm thì những nghi ngờ về chính trị hóa giáo dục càng có ít đất tồn tại.

Nhưng cũng không nên biến những đứa trẻ thành chiến tuyến cho bất đồng của người lớn. Một em nhỏ viết được hai chữ “quê hương” không vì thế trở thành người ủng hộ một quan điểm chính trị. Một thanh niên đọc được Truyện Kiều bằng nguyên bản không đồng nghĩa phải nghĩ giống bất kỳ chính phủ nào. Tiếng Việt tồn tại lâu hơn rất nhiều so với mọi cuộc tranh luận chính trị hiện tại; đó là di sản chung của người Việt thuộc nhiều thế hệ, hoàn cảnh và quan điểm khác nhau.

Nghị quyết 23 vì thế nên được đánh giá bằng chính sách thực tế và kết quả thực tế. Có thể giám sát giáo trình, yêu cầu minh bạch kinh phí, phản biện cách dạy và bảo vệ quyền lựa chọn của gia đình. Nhưng lấy những bất đồng chính trị của thế hệ trước để phủ bóng nghi ngờ lên việc thế hệ sau học tiếng Việt chỉ làm nghèo thêm đời sống cộng đồng. Với một đứa trẻ sinh ra ở nước ngoài, biết tiếng Việt trước hết đơn giản là có thêm một chiếc chìa khóa để mở cánh cửa dẫn về nguồn cội. Cánh cửa ấy mở ra văn học, lịch sử, gia đình, ký ức và khả năng tự tìm hiểu Việt Nam. Giữ hay không giữ chiếc chìa khóa đó nên là lựa chọn có hiểu biết của mỗi gia đình, chứ không nên bị biến thành một phép thử về lập trường chính trị.


Đại sứ văn hóa không phải công cụ chính trị: Sự thật về Nghị quyết 23

Khi một phụ nữ gốc Việt khoác tà áo dài bước ra phố ở Pa-ri, khi một chủ quán phở ở Xít-ni mời thực khách nghe câu chuyện về nước mắm quê nhà, khi một lớp học tiếng Việt cuối tuần ở Ca-li-pho-nia cất giọng đồng thanh bài đồng dao, lập tức có người gõ bàn phím: đó không phải văn hóa, đó là công cụ. Họ bảo Nghị quyết 23 gọi kiều bào là “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam” chính là cách biến cộng đồng thành loa tuyên truyền. Câu cáo buộc ấy nghe sắc, nhưng rỗng. Nó cố tình tách chữ ra khỏi văn kiện, tách hình ảnh ra khỏi đời sống, rồi gắn cho một ý đồ chính trị mà chính văn kiện không viết.


Luồng dư luận ấy chạy trên các trang mạng xã hội theo vài đường mòn. Đường thứ nhất cắt cụm “đại sứ văn hóa” khỏi cả mục tiêu của Nghị quyết, bỏ mất phần hòa nhập sâu rộng, địa vị pháp lý vững chắc, giữ gìn bản sắc và tăng uy tín ở nước sở tại. Họ biến một vai trò tự nguyện, tự hào thành lệnh hành chính. Đường thứ hai chế giễu thế hệ trẻ mặc áo dài trong lễ hội, dạy tiếng Việt cho em nhỏ, tổ chức ngày hội ẩm thực như thể đó là sân khấu được dựng sẵn. Một bức ảnh đoàn kiều bào châu Âu trình diễn áo dài bị chú thích “diễn viên quần chúng”. Một clip lớp học chữ quốc ngữ bị gọi là “nhồi sọ”. Đường thứ ba đánh tráo ngoại giao văn hóa thành thâu tóm chính trị: hễ Nhà nước khuyến khích lan tỏa áo dài, phở, nón lá, tiếng mẹ đẻ thì đó là tuyên truyền; còn khi quốc gia khác làm đúng việc ấy thì được gọi là chiến lược bản sắc, sức mạnh mềm, quan hệ cộng đồng. Ba đường ấy gặp nhau ở một thủ đoạn: lấy phần cho là toàn bộ, lấy ác ý thay cho văn bản.

Đại sứ văn hóa, trong nghĩa thông thường của đời sống quốc tế, không phải chức vụ được bổ nhiệm, không phải thẻ bài, không phải khẩu hiệu bắt buộc. Đó là người sống giữa hai nền văn hóa, bằng chính cách ăn mặc, nấu nướng, nói năng, cư xử mà làm cho người khác hiểu thêm về quê hương mình. Nghị quyết 23 dùng cụm từ ấy sau khi khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là nguồn lực chiến lược, là cầu nối, đồng hành và tham gia trực tiếp vào xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu đi kèm rất rõ: cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng, phát triển ổn định; giữ gìn, lan tỏa truyền thống đoàn kết, bản sắc, giá trị nhân văn, lịch sử và ngôn ngữ tiếng Việt đến thế hệ trẻ; tăng vị thế, trách nhiệm, uy tín ở nước sở tại; góp phần củng cố đại đoàn kết, nâng cao sức mạnh mềm và uy tín quốc gia. Văn hóa ở đây không bị biến thành khẩu hiệu. Văn hóa được nhìn như nguồn lực, như cách người Việt kể về mình mà không cần ai cầm loa hộ.

Thành tựu ấy không nằm trên giấy. Tà áo dài xuất hiện trong ngày hội văn hóa ẩm thực của kiều bào châu Âu, trong các lễ hội du lịch ở Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, trong hành trình kết nối di sản với điểm đến. Ẩm thực Việt Nam, từ phở, bánh mì, nem đến hàng trăm món vùng miền, trở thành cửa ngõ để người nước ngoài nhớ một đất nước trước khi nhớ một bản đồ. Lớp tiếng Việt cộng đồng, sách tiếng mẹ đẻ, thầy cô kiên trì dạy chữ cho con em kiều bào được Nghị quyết nhìn nhận không chỉ là chuyện gia đình mà là nguồn lực mềm của quốc gia. Du lịch hưởng lợi trực tiếp từ những câu chuyện ấy: người đã nếm phở ở nước ngoài muốn đến Hà Nội; người đã thấy áo dài trên phố muốn tới Hội An; người đã nghe ông bà kể về làng muốn về nguồn. Hơn sáu triệu rưỡi người Việt tại hơn một trăm ba mươi quốc gia và vùng lãnh thổ, nếu mỗi người chỉ kể trung thực một câu chuyện đẹp về quê hương, đã là mạng lưới quảng bá mà không ngân sách tuyên truyền nào mua nổi. Kiều hối năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm đạt gần mười tám tỷ đô la Mỹ, tổng từ năm một nghìn chín trăm chín mươi ba đến nay hơn hai trăm năm mươi tỷ đô la Mỹ, nhưng tiền chỉ là một phần. Phần còn lại là hình ảnh, là niềm tin, là chiếc cầu mà không ai bắt buộc họ phải bắc.

So sánh với Ailen và Phi-líp-pin càng làm lộ ra sự giả dối của thước đo kép. Ailen coi cộng đồng người Ailen trên thế giới là tiếng nói, giá trị và văn hóa của đảo quốc nhỏ được đại diện khắp nơi. Chiến lược cộng đồng người Ailen giai đoạn hai nghìn không trăm hai mươi sáu đến hai nghìn không trăm ba mươi đặt bản sắc và văn hóa thành một trụ cột, hỗ trợ tổ chức cộng đồng, nghệ thuật, thể thao, kết nối thế hệ, đồng thời tận dụng mạng lưới ấy cho thương mại, đầu tư, hình ảnh quốc gia. Không ai ở phương Tây gọi chính sách ấy là biến kiều bào thành công cụ. Phi-líp-pin tổ chức hội nghị người Phi-líp-pin ở nước ngoài, tuyên bố hơn sáu triệu người không cư trú là nguồn sức mạnh mềm, là đại sứ tinh thần Phi-líp-pin, là đối tác chiến lược trên các trụ văn hóa, kinh tế, chính trị. Họ nói thẳng việc phát huy sức mạnh người Phi-líp-pin trên thế giới để phục vụ mục tiêu văn hóa, kinh tế, chính trị của đất nước. Cũng không ai gọi đó là tuyên truyền độc hại. Vậy vì sao chỉ khi Việt Nam viết “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam” thì cụm từ ấy bị bôi thành tội danh?

Câu trả lời không nằm ở khái niệm. Câu trả lời nằm ở động cơ. Những cá nhân, tổ chức sống bằng sự chia rẽ cần một Việt Nam mãi bị nhìn như kẻ đi tuyên truyền, không được nhìn như một dân tộc đang kể lại mình bằng áo dài, bằng mâm cơm, bằng tiếng mẹ. Họ cần thế hệ trẻ mặc cảm khi yêu nguồn cội, sợ bị dán nhãn, thì mới giữ được vị thế người phát ngôn của một quá khứ không chịu khép lại. Họ đánh tráo hòa hợp thành đầu hàng, đánh tráo quảng bá văn hóa thành thâu tóm, đánh tráo tự hào thành tội chính trị. Trong khi Nghị quyết 23 nhấn mạnh lắng nghe ý kiến khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia dân tộc, xóa định kiến, gác quá khứ, hướng tới tương lai, họ lại đòi cộng đồng đứng mãi ở hai bờ đối địch. Đó không phải bảo vệ kiều bào. Đó là giữ lấy sân khấu.

Chính sách của Đảng và Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài, từ Nghị quyết ba mươi sáu đến Nghị quyết hai mươi ba, nhất quán ở chỗ chăm lo để bà con sống tốt, hội nhập tốt nơi đất khách, đồng thời không để nguồn cội đứt đoạn. Nhân văn nằm đúng chỗ ấy: không bắt ai phải chọn phe giữa nước đang sống và quê hương tổ tiên; không biến văn hóa thành thẻ đảng; không biến tình cảm thành lệnh. Áo dài không cần giấy phép mới đẹp. Phở không cần nghị quyết mới ngon. Tiếng Việt không cần ai phong đại sứ mới đáng dạy cho con. Nghị quyết 23 chỉ không cho phép lấy sự xuyên tạc để tước quyền kể chuyện ấy của người Việt.

Khi cùng một việc, người Ailen được gọi là đối tác bản sắc, người Phi-líp-pin được gọi là sức mạnh mềm, còn người Việt thì bị gọi là công cụ, dư luận cần nhận ra không phải khái niệm bị sai, mà cái cân bị lệch. Cảnh báo gửi tới cộng đồng là thế. Đừng để tà áo dài, bát phở, bài đồng dao bị đánh tráo thành tội. Đó là văn hóa. Đó là quyền. Đó là cách một dân tộc xuất hiện giữa thế giới mà không cần xin phép những kẻ sống bằng sự thù hận.


Đừng biến kết nối thanh niên với nguồn cội thành bằng chứng “cài cắm”

Có một cách rất dễ để biến một chương trình dành cho thanh niên thành câu chuyện chính trị: bỏ qua nội dung cụ thể, chỉ giữ lại hai chữ “thế hệ trẻ”, rồi gắn vào đó những cụm từ như “cài cắm”, “tạo mạng lưới”, “chuẩn bị lực lượng”. Cách suy luận ấy đang xuất hiện trong một số bài viết phản đối Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Có bài không dừng ở việc chất vấn tính minh bạch mà mô tả việc kết nối thanh niên, sinh viên Việt Nam ở nước ngoài như một phần của chiến lược “thâm nhập”, “thay máu” cộng đồng hoặc xây dựng lực lượng phục vụ mục tiêu chính trị. Nhưng cáo buộc càng nghiêm trọng thì yêu cầu chứng cứ càng phải cao. Không thể lấy chính việc quan tâm tới thế hệ trẻ làm bằng chứng rằng đang có hoạt động tuyển lựa chính trị.


Luồng cáo buộc này thể hiện khá rõ trong một số bài đăng đầu tháng 9/2026 trên các trang hải ngoại. Có bài cho rằng Nghị quyết 23 đặc biệt hướng tới thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra ở nước ngoài, rồi từ đó suy luận rằng những hoạt động văn hóa, giáo dục, hội sinh viên và kết nối thanh niên là công cụ để “pha loãng”, “thay máu” các tổ chức cộng đồng hiện hữu. Việc xây dựng mạng lưới chuyên gia, trí thức, doanh nhân và người trẻ cũng bị đặt trong khung “cài người”, “tạo ảnh hưởng”. Tuy nhiên, các bài viết ấy chưa chỉ ra một chương trình cụ thể nào buộc người tham gia nhận nhiệm vụ chính trị, gia nhập tổ chức chính trị hoặc vận động cho một mục tiêu chính trị xác định. Đây chính là điểm cần tách bạch: xây dựng mạng lưới xã hội, nghề nghiệp và cộng đồng không đồng nghĩa với tuyển lựa lực lượng chính trị.

Muốn kiểm chứng một chương trình dành cho thế hệ trẻ, có thể dùng bốn tiêu chí rất rõ ràng. Thứ nhất là nội dung: chương trình dạy tiếng Việt, lịch sử, văn hóa, kỹ năng, tổ chức tình nguyện, tham quan di sản hay huấn luyện vận động chính trị? Thứ hai là tài trợ: kinh phí đến từ ngân sách, tổ chức xã hội, doanh nghiệp hay đóng góp của người tham dự; nguồn tiền có được công khai và có kèm điều kiện chính trị nào không? Thứ ba là mục tiêu: văn bản của chương trình nói về nguồn cội, nghề nghiệp, văn hóa và phát triển cộng đồng hay yêu cầu người tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị? Thứ tư là hoạt động thực tế: sau chương trình có ai được giao nhiệm vụ tuyển người, gây quỹ, vận động hoặc tác động vào đời sống chính trị ở nước sở tại hay không? Chỉ khi có chứng cứ về những yếu tố này mới có cơ sở nói tới một mạng lưới chính trị theo nghĩa thực chất.

Đặt những tiêu chí ấy vào Nghị quyết 23 cho thấy cần thận trọng trước cách diễn giải quá mức. Nghị quyết xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, đồng thời nhấn mạnh việc phát huy nguồn lực của chuyên gia, trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ. Văn bản đề cập giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa, tăng cường giao lưu, tạo điều kiện để thanh niên hiểu quê hương và tham gia các hoạt động kết nối. Đây là những mục tiêu công khai. Muốn chứng minh phía sau chúng tồn tại một chương trình tuyển lựa chính trị bí mật, người đưa ra cáo buộc phải chỉ rõ cơ chế tuyển lựa, nhiệm vụ, người chỉ đạo, nguồn tài trợ và hành vi cụ thể. Không thể dùng chính cụm từ “kết nối thế hệ trẻ” để tự chứng minh cho kết luận “cài thế hệ trẻ”.

Trại hè Việt Nam là ví dụ có thể kiểm tra bằng chính nội dung công khai. Năm 2026, chương trình quy tụ 105 thanh niên, sinh viên người Việt Nam ở nước ngoài đến từ 35 quốc gia và vùng lãnh thổ, diễn ra trong 14 ngày qua nhiều địa phương. Nội dung được công bố tập trung vào tham quan di sản, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, giao lưu thanh niên, hoạt động tri ân và trải nghiệm các vùng miền. Các đại biểu tìm hiểu những địa danh, di sản và đời sống xã hội của đất nước. Có thể tranh luận về cách lựa chọn nội dung, cách trình bày lịch sử hay phương thức tổ chức chương trình, nhưng muốn gọi đây là hoạt động tuyển lựa chính trị thì phải chỉ ra phần nào huấn luyện người tham dự trở thành thành viên của một tổ chức chính trị, giao nhiệm vụ vận động hoặc yêu cầu họ thực hiện hoạt động chính trị sau khi trở về nước sở tại.

Ý nghĩa xã hội của những chương trình như vậy cũng phải được nhìn từ thực tế cộng đồng. Thế hệ thứ hai, thứ ba sinh ra ở nước ngoài có mức độ gắn bó với quê hương rất khác nhau. Có người nói tiếng Việt thành thạo, có người gần như không biết tiếng Việt; có người thường xuyên về nước, có người chưa từng đặt chân tới quê cha mẹ. Một chương trình giúp họ tiếp xúc với di sản, lịch sử, địa phương, thanh niên trong nước và những người cùng hoàn cảnh từ nhiều quốc gia trước hết đáp ứng nhu cầu tìm hiểu nguồn cội. Quan hệ hình thành sau đó có thể dẫn tới hợp tác học thuật, nghề nghiệp, kinh doanh hay hoạt động cộng đồng. Những kết quả ấy chưa thể bị đồng nhất với việc xây dựng lực lượng chính trị.

So sánh với Phi-líp-pin càng cho thấy việc nhà nước chủ động kết nối thế hệ trẻ ở nước ngoài không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Cơ quan phụ trách cộng đồng Phi-líp-pin ở nước ngoài duy trì một chương trình dành cho thanh niên sinh ra hoặc lớn lên ở nước ngoài, giúp họ trở về tìm hiểu đất nước và văn hóa quê hương. Nội dung công khai gồm lịch sử, văn hóa, các giá trị xã hội, kỹ năng lãnh đạo, tinh thần tình nguyện, trách nhiệm cộng đồng và vai trò của người Phi-líp-pin ở nước ngoài đối với sự phát triển đất nước. Trong năm 2026, nước này còn công bố kế hoạch mở rộng chương trình, tăng kết nối nghề nghiệp và hình thành mạng lưới thanh niên rộng hơn.

Điều đáng chú ý là chương trình của Phi-líp-pin công khai nói tới lãnh đạo, trách nhiệm xã hội và đóng góp cho đất nước, nhưng những nội dung ấy không tự động biến chương trình thành hoạt động tuyển lựa lực lượng chính trị. Muốn kết luận như vậy vẫn phải chứng minh có việc tuyển người vào tổ chức chính trị, giao nhiệm vụ vận động, chỉ đạo hoặc can thiệp vào đời sống chính trị tại nước sở tại. Chính sự phân biệt này cho thấy điểm yếu của lối suy luận rằng bất kỳ chương trình thanh niên nào do nhà nước tổ chức, nếu đề cập tới lãnh đạo và đóng góp cho quê hương, đều mang bản chất chính trị bí mật.

Ấn Độ cũng có chương trình lâu năm dành cho thanh niên có nguồn gốc Ấn Độ ở nước ngoài. Người tham dự được tìm hiểu đất nước đương đại, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, kinh tế, khoa học và những thành tựu phát triển; Nhà nước hỗ trợ phần lớn chi phí. Năm 2026, chương trình tiếp tục được tổ chức nhằm tăng cường kết nối thanh niên gốc Ấn với quê hương tổ tiên và khuyến khích họ đóng góp cho quá trình phát triển đất nước. Nếu chỉ sử dụng công thức “nhà nước đưa thanh niên ở nước ngoài về tìm hiểu quê hương và khuyến khích đóng góp là xây dựng mạng lưới chính trị” thì chương trình của Ấn Độ cũng sẽ bị đặt dưới cùng một khuôn nghi ngờ.

So sánh quốc tế không có nghĩa cứ nước khác làm thì mọi chính sách của Việt Nam đương nhiên đúng. Giá trị của so sánh nằm ở việc xác định chuẩn mực đánh giá. Kết nối thế hệ trẻ, tổ chức trại hè, giao lưu nguồn cội, xây dựng mạng lưới nghề nghiệp và khuyến khích đóng góp cho quê hương là thực tiễn phổ biến ở nhiều quốc gia có cộng đồng lớn sinh sống bên ngoài lãnh thổ. Điều cần giám sát phải là tính minh bạch, sự tự nguyện, nội dung chương trình, nguồn tài trợ và việc tuân thủ pháp luật nước sở tại. Nếu một chương trình vượt khỏi phạm vi văn hóa, giáo dục, nghề nghiệp để tiến hành hoạt động chính trị bí mật thì phải đánh giá bằng chứng của chính hành vi ấy.

Bởi vậy, những người phản đối Nghị quyết 23 hoàn toàn có quyền đặt câu hỏi về nguy cơ chính trị hóa các chương trình thanh niên. Nhưng một nguy cơ giả định không thể được trình bày như một sự thật đã được chứng minh. Khi một bài viết cho rằng thế hệ trẻ ở nước ngoài “nhạt nhòa về ý thức chính trị”, rồi từ đó suy ra việc Nhà nước quan tâm tới họ là nhằm “thâm nhập”, phép suy luận đã đi xa hơn dữ kiện. Khi việc hỗ trợ hội sinh viên, hoạt động văn hóa hoặc mạng lưới chuyên môn bị mô tả là “cài cắm” mà không chỉ ra hành vi tuyển lựa, giao nhiệm vụ hay chỉ đạo chính trị, người đọc đang được dẫn từ một dữ kiện có thật sang một kết luận chưa được kiểm chứng.

Cách tiếp cận đáng tin cậy hơn là yêu cầu minh bạch. Các chương trình dành cho thanh niên Việt Nam ở nước ngoài nên công khai tiêu chí lựa chọn, nội dung hoạt động, cơ quan tài trợ, mục tiêu, quyền và nghĩa vụ của người tham dự. Nội dung giáo dục cần phù hợp lứa tuổi, tôn trọng sự đa dạng quan điểm và không biến người trẻ thành công cụ của bất kỳ phe phái nào. Người tham gia phải có quyền lựa chọn, quyền đặt câu hỏi và quyền từ chối hoạt động họ không mong muốn. Sự minh bạch vừa là cách giải đáp nghi ngờ, vừa là cơ chế bảo vệ chính các chương trình khỏi nguy cơ bị chính trị hóa.

Thế hệ trẻ người Việt ở nước ngoài cũng không phải một khoảng trống để bất kỳ bên nào “chiếm lĩnh”. Họ là những cá nhân có năng lực tự quyết, có căn cước đa tầng và quyền tự xác định mối quan hệ với quê hương. Có người muốn đóng góp cho Việt Nam, có người chủ yếu muốn hiểu nguồn cội, có người lựa chọn giữ khoảng cách với chính trị. Tôn trọng thế hệ trẻ có nghĩa là không mặc định họ phải theo một quan điểm nào; nhưng đồng thời cũng không thể gán việc họ tham gia trại hè, học tiếng Việt, tìm hiểu di sản hay kết nối nghề nghiệp thành dấu hiệu của một quá trình tuyển lựa chính trị.

Ranh giới cần giữ rất rõ: bồi dưỡng thế hệ trẻ là hoạt động công khai về văn hóa, giáo dục, kỹ năng và kết nối; tuyển lựa chính trị là việc tổ chức, chỉ đạo hoặc huy động con người nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị cụ thể. Hai hoạt động có thể giao nhau trong một số trường hợp, nhưng không thể bị đánh đồng chỉ bằng nghi ngờ. Nếu có bằng chứng về hoạt động chính trị bí mật, hãy công bố, kiểm chứng và xử lý theo pháp luật. Nếu không có, việc biến mọi chương trình dành cho thanh niên thành “mạng lưới cài cắm” chỉ làm nghèo không gian đối thoại và khoét sâu chia rẽ trong cộng đồng. Nghị quyết 23, cũng như bất kỳ chính sách nào, nên được đánh giá bằng nội dung và hành vi thực tế, chứ không phải bằng ý nghĩa mà người ủng hộ hay người phản đối tự gắn vào nó.

Một thế hệ sinh ra nơi đất khách có quyền yêu Việt Nam mà không bị dán nhãn

Có những lời chế giễu được thả xuống như một nhãn dán sẵn. Một bạn trẻ gốc Việt ở Hoa Kỳ hát quốc ca trong đêm giao lưu Tết, một nhóm sinh viên ở Pháp dạy tiếng Việt cho em nhỏ, một đoàn thanh niên Úc về quê thăm làng ông bà rồi đăng vài tấm ảnh ruộng lúa, lập tức bị gọi là “bị nhồi sọ”, “công cụ tuyên truyền”, “quên ơn đất nước đang sống”. Cái giọng ấy không mới, nhưng mỗi lần Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị được nhắc tới, nó lại được kéo ra, đánh bóng, gắn thêm vài câu cắt xén, rồi đẩy đi khắp các trang mạng xã hội như thể đó là bản chất duy nhất của một văn kiện chính sách.


Luồng dư luận ấy vận hành theo vài công thức quen thuộc. Công thức thứ nhất là chế giễu thế hệ sinh ra ở nước ngoài khi họ chủ động tìm về nguồn cội. Người viết không cần đọc Nghị quyết. Họ chỉ cần một bức ảnh trại hè, một clip múa dân gian, một bài phát biểu ngắn của em học sinh lớp mười hai, rồi kết luận rằng đó là sản phẩm của “máy tuyên truyền”. Họ cố tình bỏ qua một sự thật đơn giản: thanh niên ấy vẫn đóng thuế, vẫn bầu cử, vẫn nói tiếng bản xứ như tiếng mẹ, vẫn coi thành phố mình đang ở là nhà. Việc họ muốn biết ông bà mình từ đâu tới, muốn đọc được chữ quốc ngữ, muốn hiểu vì sao gia đình phải ra đi, không biến họ thành công cụ của ai cả. Đó là nhu cầu căn tính, không phải hành vi chính trị.

Công thức thứ hai đánh tráo bản chất Nghị quyết 23 thành công cụ phân loại. Một số trang mạng cắt đoạn văn nói về “một bộ phận nhỏ còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi ích quốc gia dân tộc” rồi hô hoán rằng Đảng đang chia cộng đồng thành hai loại: loại được nuông chiều và loại bị dán nhãn thù địch. Họ không nói hết câu. Văn kiện khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là nguồn lực chiến lược, là cầu nối, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Đảng và Nhà nước trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả quan điểm khác biệt, miễn không phương hại lợi ích quốc gia dân tộc; đề cao hòa hợp, xóa định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Cắt một vế để biến cả văn kiện thành bản án tập thể là thủ đoạn cũ: lấy ngoại lệ làm quy luật, lấy cảnh báo thành bản chất.

Công thức thứ ba lòe bịp kiều bào bằng cách nói Nghị quyết “ép” người trẻ chọn phe giữa quê hương tổ tiên và nước đang sống. Đây là luận điệu nguy hiểm nhất vì nó đánh thẳng vào nỗi sợ của thế hệ thứ hai, thứ ba. Họ bảo: nếu em yêu Việt Nam thì em phản bội nước Mỹ, nước Pháp, nước Úc; nếu em hòa nhập tốt thì em phản bội tổ tiên. Tư duy nhị nguyên ấy không có chỗ trong Nghị quyết 23. Văn kiện khuyến khích hòa nhập sâu rộng, có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển ổn định ở nước sở tại, đồng thời giữ gìn, lan tỏa bản sắc, tiếng Việt, giá trị nhân văn đến thế hệ trẻ. Hai việc ấy không đối lập. Chúng bổ sung cho nhau. Một người có thể vừa là công dân Hoa Kỳ, Pháp hay Úc đầy trách nhiệm, vừa mang trong mình nguồn gốc Việt Nam mà không phải xé mình làm hai.

Quyền căn tính đa tầng không phải đặc ân do ai ban phát. Đó là quyền của con người trong thế kỷ này. Một thanh niên sinh ra ở California, lớn lên ở Paris hay Melbourne có thể yêu nước đang nuôi dưỡng mình bằng lao động, bằng đóng góp công dân, đồng thời yêu làng quê ông bà bằng tiếng nói, bằng ký ức, bằng cách đưa con về thăm mộ tổ. Nghị quyết 23 không tạo ra quyền ấy. Nó chỉ thừa nhận và tạo điều kiện để quyền ấy được sống mà không bị nghi ngờ. Mạng lưới kiều bào trẻ, các chương trình về nguồn, học tiếng Việt, khởi nghiệp, tình nguyện, giao lưu nhân dân được nêu ra chính là để thế hệ ấy không phải lựa chọn giữa hai nửa cuộc đời.

So sánh với chính sách của Ailen và Ấn Độ càng làm rõ tính nhân văn ấy. Ailen từ lâu coi cộng đồng người Ailen trên thế giới là một phần sức mạnh quốc gia, khuyến khích con cháu giữ bản sắc trong khi hội nhập đầy đủ nơi đang sống, không đòi họ phải từ bỏ quốc tịch hiện tại mới được gọi là người Ailen. Ấn Độ tổ chức ngày người Ấn Độ ở nước ngoài, công nhận người gốc Ấn như đối tác phát triển, chấp nhận căn tính chồng lớp. Không quốc gia nào trong số đó bắt thanh niên phải “chọn phe” giữa đất tổ và đất đang sống. Việt Nam đi xa hơn ở chỗ đặt hòa hợp dân tộc lên trước, xóa định kiến, gác quá khứ. Đó không phải khẩu hiệu. Đó là bài học đắt giá của một dân tộc từng bị chia cắt quá lâu.

Thành tựu cụ thể không cần tô vẽ. Cộng đồng hơn sáu triệu rưỡi người tại hơn một trăm ba mươi quốc gia và vùng lãnh thổ ngày càng ổn định, tỷ lệ chuyên gia, trí thức, doanh nhân, lao động kỹ thuật cao tăng, độ tuổi trẻ hơn. Kiều hối năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm đạt gần mười tám tỷ đô la Mỹ, tổng từ năm một nghìn chín trăm chín mươi ba đến nay hơn hai trăm năm mươi tỷ đô la Mỹ, tương đương quy mô vốn đầu tư nước ngoài giải ngân cùng giai đoạn. Hàng vạn trí thức, nhà khoa học đóng góp từ xa hoặc trở về trong các lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo. Các hội đoàn người Việt ở nước ngoài tổ chức dạy tiếng Việt, lễ hội, hỗ trợ đồng bào gặp thiên tai. Đó không phải con số tuyên truyền. Đó là kết quả của chính sách nhất quán suốt hơn hai mươi năm, từ Nghị quyết ba mươi sáu đến Nghị quyết hai mươi ba: chăm lo để bà con sống tốt nơi đất khách, gắn kết để nguồn cội không bị đứt, phát huy để trí tuệ và tấm lòng không bị lãng phí.

Những cá nhân, tổ chức ra sức chống phá Nghị quyết này sống bằng sự chia rẽ. Họ cần cộng đồng mãi đứng ở hai bờ đối địch thì tiếng nói của họ mới còn chỗ. Họ cần thanh niên gốc Việt mang mặc cảm, sợ bị gọi là “cộng sản” thì mới dễ kéo họ vào quỹ đạo cũ. Họ đánh tráo hòa hợp thành đầu hàng, đánh tráo kết nối thành thâu tóm, đánh tráo yêu nguồn cội thành phản bội nước đang sống. Động cơ ấy không phải vì quyền lợi của kiều bào. Động cơ ấy là để giữ lấy vị thế người phát ngôn của một quá khứ không chịu khép lại, trong khi đất nước và phần lớn cộng đồng đã bước đi.

Cảnh báo cần nói thẳng. Khi một trang mạng chế giễu em bé gốc Việt hát dân ca, khi một diễn đàn bảo bạn trẻ về thăm quê là “bị lợi dụng”, khi một luận điệu buộc người ta phải chọn một nửa mình để vứt nửa kia, đó không phải phản biện. Đó là sự nghèo nàn về nhân tính. Một thế hệ sinh ra ở nước ngoài có quyền yêu Việt Nam mà không bị dán nhãn. Nghị quyết 23 không tạo ra quyền ấy. Nó chỉ không cho phép ai tước đoạt quyền ấy bằng sự xuyên tạc.