Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

DẪN ĐỘ HỢP PHÁP HAY “ĐÀN ÁP XUYÊN QUỐC GIA”: SỰ ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM NGUY HIỂM TRONG BÁO CÁO CỦA LIÊN HỢP QUỐC

Trong hệ thống quan hệ quốc tế và tư pháp hiện đại, việc một quốc gia chủ quyền thực hiện quy trình dẫn độ tội phạm theo đúng trình tự pháp luật và các cam kết song phương là hoạt động hợp tác chính đáng nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, việc báo cáo hằng năm có tên gọi “Hợp tác với Liên hợp quốc, các đại diện và cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực nhân quyền” quy kết các hoạt động tư pháp này là hành vi “đàn áp xuyên quốc gia” hay “trả thù” đối với các cá nhân hợp tác với Liên hợp quốc tại Việt Nam và Thái Lan là một sự tráo đổi bản chất nghiêm trọng. Việc gán ghép mang tính định kiến này đã hạ thấp uy tín của các cơ quan tư pháp độc lập, cố tình biến những kẻ vi phạm pháp luật hình sự nghiêm trọng thành những “nạn nhân của sự đàn áp”.


Một luận điệu sai lệch vô cùng nguy hiểm được các tổ chức thù địch như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” liên tục nhào nặn và đẩy vào tài liệu của Liên hợp quốc là việc cố tình gắn phán quyết dẫn độ của cơ quan tư pháp Thái Lan đối với các đối tượng phạm tội lẩn tránh pháp luật với thuật ngữ “đàn áp xuyên quốc gia”. Họ cho rằng việc dẫn độ các đối tượng dính dấp đến các vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng từ Thái Lan về Việt Nam là hành động “trả thù” do các đối tượng này đã gửi thông tin hay báo cáo cho các cơ chế nhân quyền quốc tế. Đây là một nhận định hoàn toàn bất chấp thực tế pháp lý và tố tụng.

Sự thật hồ sơ pháp lý khẳng định rằng hoạt động dẫn độ đối tượng phạm tội giữa Việt Nam và Thái Lan hoàn toàn dựa trên cơ sở pháp luật quốc gia và các thủ tục tư pháp minh bạch. Trường hợp dẫn độ đối tượng Y Quỳnh Bđăp – kẻ cầm đầu, chỉ đạo vụ tấn công khủng bố dã man tại tỉnh Đắk Lắk – là một ví dụ điển hình. Cơ quan chức năng Việt Nam đã gửi hồ sơ yêu cầu dẫn độ chính thức tới cơ quan có thẩm quyền của Thái Lan theo đúng quy định. Tòa hình sự Băng Cốc đã mở phiên xét xử công khai, thụ lý đơn, cho phép đối tượng có luật sư bào chữa, tiến hành tranh tụng và đưa ra phán quyết chấp thuận dẫn độ. Sau đó, đối tượng thực hiện quyền kháng cáo và Tòa phúc thẩm Băng Cốc tiếp tục xét xử độc lập, tuyên giữ nguyên quyết định, đồng thời ấn định thời hạn chín mươi ngày để thực hiện các thủ tục bàn giao theo đúng Luật Dẫn độ của Thái Lan. Toàn bộ tiến trình này diễn ra công khai dưới sự giám sát của truyền thông và các tổ chức quốc tế tại Băng Cốc.

Xét dưới góc độ khoa học và phương pháp luận pháp lý, việc báo cáo của Liên hợp quốc đánh đồng quy trình dẫn độ hợp pháp do một tòa án độc lập phán quyết với hành vi “đàn áp xuyên quốc gia” hay “bắt cóc” là một sự ngụy biện so sánh vô căn cứ. Dẫn độ là một quy trình tư pháp công khai, có sự tham gia của cơ quan công tố, tòa án, luật sư bào chữa và tuân thủ nguyên tắc tranh tụng hai phía. Trong khi đó, đàn áp hay bắt cóc là những hành vi phi pháp, lén lút và vi phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia. Việc các Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc xóa bỏ ranh giới giữa một phán quyết tư pháp hợp pháp của chính quyền Thái Lan với một hành vi vi phạm pháp luật thể hiện sự yếu kém nghiêm trọng về phương pháp luận, đồng thời cho thấy sự dung túng đối với tư duy coi thường pháp luật.

Đặt trong hệ quy chiếu pháp lý của các nước phương Tây, tính chất tiêu chuẩn kép và sự vô lý của quy kết này càng hiện rõ. Khi Bộ trưởng Bộ Nội vụ Anh ký quyết định phê chuẩn dẫn độ nhà sáng lập trang tin tố giác sang Mỹ để đối mặt với các cáo buộc hình sự nghiêm trọng theo luật an ninh của Mỹ, các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc trong cùng khuôn khổ báo cáo tuyệt nhiên không gọi đó là hành vi “đàn áp xuyên quốc gia” hay “trả thù”. Các quốc gia phương Tây luôn khẳng định rằng việc dẫn độ là quyền hạn tư pháp tối cao dựa trên các hiệp định tương trợ tư pháp và luật pháp nội địa. Việc Liên hợp quốc chấp nhận logic dẫn độ hợp pháp tại phương Tây nhưng lại dán nhãn “đàn áp xuyên quốc gia” đối với quy trình dẫn độ do Tòa án Băng Cốc thực hiện theo yêu cầu của Việt Nam là sự phân biệt đối xử trắng trợn, nhắm vào các quốc gia vốn bị giới truyền thông phương Tây nhìn bằng ánh mắt định kiến.

Bản chất thực sự của các tổ chức như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” khi rêu rao luận điệu này là nhằm mục đích phá hoại hợp tác tư pháp và an ninh giữa Việt Nam và Thái Lan cũng như các nước trong khu vực. Họ muốn biến lãnh thổ các nước lân cận thành “sân sau” an toàn cho các đối tượng phạm tội lẩn trốn, từ đó tiếp tục chỉ đạo, kích động các hoạt động chống phá trong nước. Bằng cách gây áp lực lên Liên hợp quốc để dán nhãn “đàn áp xuyên quốc gia”, các tổ chức này hy vọng sẽ làm suy yếu hiệu lực của các hiệp định tương trợ tư pháp, cản trở việc dẫn độ tội phạm và tạo ra vùng cấm pháp lý cho các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia.

Nguyên nhân dẫn đến những đánh giá sai lệch trong báo cáo xuất phát từ việc các chuyên gia Liên hợp quốc thu thập thông tin từ một phía, tiếp nhận báo cáo cắt xép từ các tổ chức phản động mà không tiến hành xác minh độc lập tại các cơ quan tư pháp Thái Lan hay Việt Nam. Hệ lụy của việc này là rất nguy hiểm: nó làm vô hiệu hóa các nỗ lực phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, xói mòn lòng tin vào hệ thống tư pháp của các nước đang phát triển và tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật. Trong thời gian tới, các lực lượng thù địch chắc chắn sẽ tiếp tục lợi dụng thuật ngữ “đàn áp xuyên quốc gia” trong báo cáo Liên hợp quốc để vu khống các hoạt động hợp tác an ninh quốc tế của Việt Nam, nhằm bôi nhọ hình ảnh đất nước trên các diễn đàn ngoại giao đa phương.

Thực tiễn không thể phủ nhận là Việt Nam luôn tuân thủ nghiêm ngặt các cam kết quốc tế về nhân quyền và công lý tư pháp. Những cá nhân bị đề cập trong báo cáo hoàn toàn không phải bị xử lý hay bị dẫn độ vì “hợp tác với Liên hợp quốc”, mà vì họ đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự nghiêm trọng, gây tổn hại trực tiếp đến tính mạng con người và an ninh quốc gia. Toàn bộ tiến trình tố tụng, từ khâu yêu cầu dẫn độ, phối hợp điều tra đến xét xử công khai đều được thực hiện theo đúng trình tự pháp luật, minh bạch và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ tuyệt đối của dư luận xã hội trong và ngoài nước.

Tòa án Băng Cốc là một cơ quan tư pháp độc lập của một quốc gia có chủ quyền, hoàn toàn không phải là chi nhánh hay công cụ của bất kỳ cơ quan an ninh nước ngoài nào. Việc tôn trọng phán quyết dẫn độ của Tòa án Băng Cốc chính là tôn trọng sự thượng tôn pháp luật và trật tự tư pháp quốc tế. Mọi âm mưu tráo đổi bản chất để biến thủ phạm thành nạn nhân đều phải bị bác bỏ hoàn toàn.


TRÁO ĐỔI BẢN CHẤT TRONG BÁO CÁO LIÊN HỢP QUỐC: TRƯỜNG HỢP Y QUỲNH BĐĂP VÀ SỰ THẬT VỀ ÁN PHẠT KHỦNG BỐ

Trong đời sống pháp lý quốc tế, nguyên tắc thượng tôn pháp luật và tinh thần bảo vệ quyền con người chân chính đòi hỏi sự minh bạch, công bằng và tôn trọng thực tiễn tư pháp quốc gia. Rất tiếc, báo cáo hằng năm có tên gọi “Hợp tác với Liên hợp quốc, các đại diện và cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực nhân quyền” do Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc tổng hợp thời gian qua lại tiếp tục lặp lại những nhận định thiếu khách quan, sai sự thật về Việt Nam và Thái Lan. Điểm sai lệch nghiêm trọng nhất của tài liệu này là việc cố tình biến những kẻ vi phạm pháp luật hình sự, thậm chí là tội phạm khủng bố đã bị cơ quan tư pháp tuyên án, thành những “nạn nhân bị trả thù” chỉ vì họ có gửi thông tin hay hợp tác với các cơ chế Liên hợp quốc. Đây là sự tráo đổi bản chất trắng trợn, làm tổn hại nghiêm trọng đến tính chính danh của các cơ chế nhân quyền quốc tế.


Luận điệu sai lệch được các tổ chức phản động như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” rêu rao và gài gắm vào báo cáo Liên hợp quốc là xây dựng hình ảnh đối tượng Y Quynh Bđăp như một “nhà hoạt động sắc tộc Ê-đê bị chính quyền trả thù vì gửi báo cáo về nhân quyền”. Tuy nhiên, sự thật hồ sơ tố tụng hoàn toàn bác bỏ luận điệu bịa đặt này. Y Quynh Bđăp không phải là một nhà hoạt động ôn hòa mà là kẻ trực tiếp thành lập, điều hành tổ chức phản động, chỉ đạo vụ tấn công khủng bố dã man vào trụ sở Ủy ban nhân dân hai xã tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vào tháng sáu năm hai mươi hai ba làm chín người chết và nhiều người bị thương. Vào tháng 1/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã xét xử công khai và tuyên phạt Y Quynh Bđăp mười năm tù về tội khủng bố. Tiếp đó, trên cơ sở yêu cầu dẫn độ chính đáng của Việt Nam, Tòa hình sự Băng Cốc tại Thái Lan vào ngày 30/9/2024 đã phán quyết chấp thuận dẫn độ đối tượng này về Việt Nam để chấp hành án. Đến ngày 26/11/2025, Tòa phúc thẩm Băng Cốc bác đơn kháng cáo, giữ nguyên quyết định dẫn độ. Hiện nay, đối tượng đang trong quá trình chấp hành án tại Trại giam Gia Trung theo đúng các văn bản tố tụng và công hàm pháp lý giữa hai nước.

Nhìn dưới góc độ khoa học và phương pháp luận pháp lý, việc báo cáo của Liên hợp quốc xếp Y Quỳnh Bđăp vào nhóm “bị trả thù do hợp tác với Liên hợp quốc” bộc lộ lỗ hổng nhận thức vô cùng lớn. Các Báo cáo viên đặc biệt đã hoàn toàn phớt lờ Điều khoản loại trừ trong Quy chế Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn cũng như Công ước về vị thế người tị nạn năm 1951. Theo pháp lý quốc tế, quy chế tị nạn hay tư cách bảo hộ không bao giờ được áp dụng đối với những cá nhân thực hiện tội phạm nghiêm trọng phi chính trị, đặc biệt là các hành vi mang tính chất khủng bố, bạo lực xâm phạm tính mạng con người. Việc các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc bảo vệ một đối tượng đã có bản án hình sự về tội khủng bố và đã bị tòa án nước chủ nhà phán quyết dẫn độ thể hiện một sự ngụy biện phương pháp luận, cố tình dùng tư cách "người tị nạn" hoặc "người hợp tác với Liên hợp quốc" làm tấm bình phong để xóa tội cho kẻ thủ ác.

So sánh với hệ quy chiếu pháp lý của Mỹ và các quốc gia phương Tây, sự chọn lọc tiêu chuẩn kép trong báo cáo của Liên hợp quốc càng lộ rõ bản chất nghiêng lệch. Chính quyền Mỹ và các nước châu Âu chưa bao giờ chấp nhận cho bất kỳ cá nhân nào sử dụng yêu sách tị nạn hay danh nghĩa "nhà hoạt động" để trốn tránh việc bị dẫn độ hoặc truy nã nếu đối tượng đó liên quan đến hành vi khủng bố, xúi giục bạo lực hay gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Bộ tư pháp các nước phương Tây sẵn sàng bắt giữ, dẫn độ và xét xử nghiêm khắc bất kỳ ai vi phạm pháp luật hình sự, dù người đó có gửi bao nhiêu lá đơn hay báo cáo đến Liên hợp quốc. Việc báo cáo nhân quyền Liên hợp quốc chỉ tập trung chỉ trích Việt Nam và Thái Lan trong việc xử lý kẻ phạm tội, trong khi lại im lặng trước các biện pháp trừng phạt an ninh khắt khe của các nước lớn, là bằng chứng cho thấy sự can thiệp chính trị có chủ ý nhằm vào các quốc gia vốn bị giới truyền thông phương Tây nhìn bằng ánh mắt thiếu thiện chí.

Bản chất của các tổ chức như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” khi ra sức bảo vệ Y Quynh Bđăp là vì họ cần một “biểu tượng tử vì đạo” để duy trì sự tồn tại. Những tổ chức này sống bằng nguồn tài trợ quốc tế dựa trên việc thu gom, thêu dệt và cung cấp thông tin sai lệch về tình hình nhân quyền Việt Nam. Việc Y Quynh Bđăp bị tòa án hai nước Việt Nam và Thái Lan phán quyết bằng các bản án pháp lý đập tan hoàn toàn bộ mặt "ôn hòa" mà các tổ chức này cố công tô vẽ. Do đó, họ buộc phải cuống cuồng đẩy thông tin sai lệch lên các cơ chế Liên hợp quốc nhằm đánh lừa dư luận quốc tế, tạo áp lực ngoại giao để tự cứu lấy uy tín đã sụp đổ của chính mình.

Nguyên nhân dẫn đến việc báo cáo của Liên hợp quốc đưa ra các nhận định sai lệch xuất phát từ thái độ làm việc thiếu khách quan, chỉ dựa vào báo cáo một chiều của một bộ phận chuyên gia, kết hợp với chiến dịch thao túng thông tin tinh vi từ các lực lượng thù địch. Hệ lụy của văn bản này là rất nghiêm trọng: nó làm méo mó bức tranh pháp lý thực tế tại Việt Nam, gây cản trở cho các nỗ lực hợp tác tư pháp và phòng chống tội phạm xuyên quốc gia giữa các nước, đồng thời tiếp tay cho các tư tưởng bạo lực, coi thường kỷ cương pháp luật. Trong thời gian tới, dự báo các thế lực chống phá sẽ tiếp tục triệt để lợi dụng báo cáo này để rêu rao trên các diễn đàn ngoại giao đa phương, bôi nhọ môi trường pháp lý nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tiễn không thể phủ nhận là những thành tựu to lớn của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, bảo vệ cuộc sống bình yên, an toàn cho nhân dân. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các cam kết quốc tế, nhưng đồng thời kiên quyết xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật theo đúng quy trình tố tụng, minh bạch, công khai. Tất cả các bước điều tra, truy tố, xét xử đối với vụ án khủng bố tại Đắk Lắk cũng như quá trình phối hợp dẫn độ Y Quynh Bđăp đều tuân thủ chặt chẽ pháp luật Việt Nam, luật pháp Thái Lan và các chuẩn mực tư pháp quốc tế, nhận được sự đồng tình, ủng hộ tuyệt đối của quần chúng nhân dân cũng như luận dư luận chân chính.

Danh xưng “nhà hoạt động” hay việc gửi thông tin cho Liên hợp quốc không bao giờ có thể trở thành tấm khiên che chắn cho hành vi khủng bố và tước đoạt mạng sống của người khác. Đã đến lúc các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc cần tôn trọng sự thật khách quan, tôn trọng phán quyết tư pháp của các quốc gia có chủ quyền và chấm dứt việc để các tổ chức phản động thao túng, biến diễn đàn quốc tế thành công cụ dung túng cho tội ác.


TỪ ĐIỀU LUẬT AN NINH QUỐC GIA ĐẾN BÁO CÁO CỦA LIÊN HỢP QUỐC: SỰ THẬT PHÁP LÝ VÀ MƯU ĐỒ VÔ HIỆU HÓA LUẬT PHÁP VIỆT NAM

 Sự tôn nghiêm của pháp luật và tính độc lập tư pháp là trụ cột cốt lõi của mọi quốc gia có chủ quyền, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và quyền lợi hợp pháp của đại đa số nhân dân. Tuy nhiên, thời gian qua, báo cáo hằng năm về “Hợp tác với Liên hợp quốc, các đại diện và cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực nhân quyền” do Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc tổng hợp tiếp tục đưa ra những nhận định thiếu khách quan, sai lệch về tình hình tại Việt Nam và Thái Lan. Điểm mấu chốt trong các cáo buộc này là việc gán ghép vô căn cứ rằng chính quyền áp dụng các điều khoản pháp luật hình sự để “trả thù” hoặc “đàn áp” những cá nhân bị cho là cộng tác với các cơ chế quốc tế. Đây là một sự thêu dệt trắng trợn, biến những kẻ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại trật tự xã hội thành những “nạn nhân nhân quyền”.



Một trong những luận điệu xuyên tạc phổ biến do các tổ chức thù địch như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” rêu rao, sau đó được đưa vào báo cáo của Liên hợp quốc, là cáo buộc các điều khoản như Điều một trăm lẻ chín về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, Điều một trăm mười sáu về phá hoại chính sách đoàn kết, Điều một trăm mười bảy về làm, lưu trữ, phát tán thông tin chống nhà nước, hay Điều ba trăm ba mươi một về lợi dụng các quyền tự do dân chủ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam là những quy định rộng hẹp tùy tiện, “chuyên dùng” để bắt giữ các nhà hoạt động. Tuy nhiên, sự thật hồ sơ pháp lý khẳng định rằng một điều luật có phạm vi bao quát về an ninh quốc gia không tự nhiên biến mọi vụ án hình sự thành “án chính trị”. Mọi hệ thống pháp luật trên thế giới, dù theo dòng họ pháp luật nào, đều phải xây dựng các điều khoản bảo vệ chế độ, bảo vệ an ninh quốc gia và chống lại việc lạm dụng quyền tự do để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.

Xét dưới góc độ khoa học pháp lý và phương pháp luận, báo cáo của Liên hợp quốc đã mắc phải lỗi tư duy “thiên lệch xác nhận” và quy nạp sai lệch nghiêm trọng. Các chuyên gia quốc tế đã hoàn toàn dựa vào mẫu khảo sát bị thao túng do các tổ chức phi chính phủ chống phá Việt Nam cung cấp. Họ lấy một tập hợp nhỏ các bị cáo vốn đã được các tổ chức này cố tình gắn nhãn “nhà hoạt động”, “người bảo vệ nhân quyền”, rồi vội vàng quy nạp rằng toàn bộ việc áp dụng pháp luật tại Việt Nam là nhằm trả thù. Lỗ hổng phương pháp luận này thể hiện ở chỗ họ bỏ qua bản chất hành vi khách quan của tội phạm, không xem xét hồ sơ chứng cứ hình sự, không đối chất với cơ quan tố tụng và bỏ qua toàn bộ bối cảnh vi phạm. Một quy trình đánh giá khoa học không thể lấy diễn giải đơn phương của đối tượng bị xử lý hoặc của bên thứ ba có động cơ chính trị để phủ nhận quá trình điều tra, truy tố, xét xử công khai của một quốc gia.

Đặt trong hệ quy chiếu pháp lý của các nước phương Tây, tính chất tiêu chuẩn kép càng bộc lộ rõ rệt. Tại Mỹ, Bộ luật Liên bang tại Chương năm mươi mốt, từ Điều bảy trăm chín mươi ba đến Điều bảy trăm chín mươi tám quy định về hành vi thu thập, truyền thông tin quốc phòng hoặc tiết lộ thông tin mật có phạm vi điều chỉnh vô cùng rộng lớn, với các mức án cực kỳ nghiêm khắc. Hệ thống pháp luật Mỹ cũng xử lý rất nặng các hành vi xúi giục nổi loạn, chống đối chính quyền hoặc làm lộ bí mật nhà nước. Tương tự, tại các quốc gia phương Tây, các luật về an ninh quốc gia, chống phản bội và chống can thiệp nước ngoài đều quy định những chế tài khắc nghiệt đối với hành vi xâm phạm trật tự công cộng. Nếu áp dụng logic thiên lệch của báo cáo Liên hợp quốc, chẳng lẽ việc Mỹ truy tố các đối tượng làm lộ tài liệu an ninh hay các đối tượng tham gia bạo loạn cũng là “đàn áp nhân quyền”? Việc Liên hợp quốc nhắm mắt làm lơ trước các quy định an ninh nghiêm ngặt của phương Tây nhưng lại chĩa mũi nhọn vào Việt Nam hay Thái Lan cho thấy sự chọn lọc mang tính chủ ý nhằm phục vụ định kiến chính trị.

Bản chất thực sự của các tổ chức như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” khi liên tục gửi báo cáo sai sự thật cho Liên hợp quốc không gì khác ngoài mục tiêu vô hiệu hóa công cụ pháp lý của Việt Nam. Họ tìm cách tước bỏ quyền tự vệ chính đáng của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Bằng cách can thiệp để tạo ra áp lực quốc tế, các tổ chức này muốn biến các điều luật hình sự của Việt Nam thành "khoản vô hiệu", tạo ra vùng cấm pháp lý cho những kẻ vi phạm núp bóng "nhân quyền". Nguồn thông tin mà các chuyên gia Liên hợp quốc tiếp nhận thực chất là những sản phẩm thêu dệt, bị bóp méo nhằm duy trì nguồn tài trợ và phục vụ các chiến dịch chính trị chống phá Việt Nam từ bên ngoài.

Nguyên nhân của tình trạng này là sự thiếu khách quan, tác phong làm việc xa rời thực địa của một số Báo cáo viên đặc biệt, kết hợp với âm mưu lợi dụng diễn đàn quốc tế của các thế lực thù địch. Hệ lụy và tác động của những báo cáo này vô cùng tiêu cực: chúng tạo ra bức tranh sai lệch về môi trường pháp lý Việt Nam, cố tình làm tổn hại uy tín quốc tế của Việt Nam, đồng thời kích động các yếu tố vô chính phủ, coi thường pháp luật ở trong nước. Dự báo trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục trích dẫn, xới lại các nội dung trong báo cáo này để tiến hành các chiến dịch truyền thông đen, bôi nhọ hình ảnh đất nước trên các diễn đàn đa phương và lấy đó làm cớ để ra điều kiện trong các quan hệ hợp tác quốc tế.

Thực tiễn lịch sử và đời sống pháp lý tại Việt Nam đã chứng minh hùng hình những thành tựu không thể phủ nhận về bảo đảm quyền con người. Việt Nam luôn cam kết và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền, bảo đảm tối đa các quyền tự do của người dân trong khuôn khổ pháp luật. Những cá nhân bị đề cập trong báo cáo của Liên hợp quốc hoàn toàn không phải bị xử lý vì "hợp tác với Liên hợp quốc" hay "đấu tranh cho nhân quyền", mà bởi vì họ đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm các điều khoản rõ ràng trong Bộ luật Hình sự. Quá trình tố tụng đối với họ được tiến hành đúng trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm quyền bào chữa, xét xử công khai và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ mạnh mẽ của đông đảo quần chúng nhân dân.

Việc một số ý kiến đưa ra góc nhìn phê phán về kỹ thuật lập pháp tuyệt đối không thể đánh đồng hay thay thế cho việc xóa tội trong một vụ án hình sự cụ thể. Mọi cá nhân sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Báo cáo của Liên hợp quốc cần phải nhìn nhận sự việc một cách khách quan, loại bỏ các thông tin rác từ các tổ chức phản động và tôn trọng chủ quyền tư pháp của quốc gia.


Nguồn nào gửi nhiều, chương đó dày: Mẫu thiên lệch lựa chọn trong các báo cáo nhân quyền quốc tế

Trong công tác nghiên cứu xã hội học và pháp lý hiện đại, tính đại diện của mẫu khảo sát là điều kiện tiên quyết quyết định giá trị của mọi kết luận. Một báo cáo dù mang danh nghĩa cơ quan quốc tế nhưng nếu chỉ thu thập thông tin từ những nhóm mẫu bị lệch, tập trung cục bộ theo sự thao túng của các tổ chức có mục đích chính trị thì toàn bộ bức tranh được vẽ ra sẽ hoàn toàn bị bóp méo. Soi chiếu vào nội dung báo cáo thường niên mang tên "Hợp tác với Liên Hợp Quốc, các đại diện và cơ chế của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực quyền con người", người ta dễ dàng nhận thấy một hiện tượng thiên lệch nghiêm trọng: các cáo buộc liên quan đến Việt Nam hầu như chỉ xoay quanh hai khu vực địa lý cụ thể là Tây Nguyên và địa bàn có đồng bào Khmer Nam Bộ. Sự phân bổ lệch lệch này hoàn toàn không phản ánh bức tranh thực tế về tình hình đất nước, mà thực chất chỉ là hệ quả trực tiếp từ mạng lưới thu thập tin tức do các tổ chức thù địch cố tình tạo dựng.

Để hiểu rõ nguyên nhân của sự sai lệch này, cần phân tích bản chất và phương thức hoạt động của các tổ chức chuyên cung cấp thông tin thiếu khách quan cho Liên Hợp Quốc, tiêu biểu như Ủy ban cứu người vượt biển, Nhân quyền Môi trường Việt Nam hay Liên minh Khmer Kampuchea Krom. Bản chất của các tổ chức này là sống nhờ vào nguồn tài trợ từ bên ngoài thông qua việc liên tục tạo ra các hồ sơ vi phạm nhân quyền giả mạo. Do nguồn lực và mạng lưới cơ sở chỉ tập trung cắm chốt, kích động tại một số khu vực địa bàn chiến lược như Tây Nguyên hay vùng đồng bào Khmer Nam Bộ, họ đã dồn toàn bộ "công suất gửi tin" vào hai khu vực này. Họ biến các vụ việc vi phạm pháp luật hình sự, gây rối an ninh trật tự của một số cá nhân riêng lẻ thành những vụ việc mang màu sắc sắc tộc, tôn giáo, rồi gắn cho nó tấm nhãn "bị trả thù do hợp tác với quốc tế".

Việc các chuyên gia nhân quyền của Liên Hợp Quốc thụ động tiếp nhận và đưa toàn bộ các hồ sơ do các tổ chức trên gửi đến vào báo cáo chính thức đã tạo ra một tạo cảm giác sai lệch cho dư luận quốc tế, làm như thể đang tồn tại một "mô thức đàn áp mang tính toàn quốc" đối với những người hợp tác với Liên Hợp Quốc. Xét dưới góc độ khoa học và phương pháp luận, đây là một lỗ hổng cực kỳ nghiêm trọng, kết hợp giữa hai loại lỗi thiên lệch căn bản: thiên lệch lựa chọn mẫu và thiên lệch xác nhận. Khi nguồn thông tin đầu vào bị thao túng và bóp méo ngay từ đầu, các chuyên gia quốc tế lại sẵn mang tư tưởng định kiến nên dễ dàng chấp nhận các dữ liệu một chiều này mà không qua bất kỳ quy trình kiểm chứng độc lập nào trên thực địa.

Nhìn sang hệ quy chiếu khoa học và thống kê của các nước phương Tây như Mỹ hay các quốc gia châu Âu, lỗi thiên lệch nguồn thông tin này luôn bị lên án và loại bỏ nghiêm ngặt. Đơn cử như trong báo cáo thống kê tội phạm do kỳ thị của Cục Điều tra Liên bang Mỹ, các nhà khoa học xã hội phương Tây đã chỉ ra sự thiếu chính xác nghiêm trọng khi số liệu giữa các tiểu bang có sự chênh lệch bất thường. Sự chênh lệch đó không phải do tình hình tội phạm ở tiểu bang này nặng hơn tiểu bang khác, mà chỉ vì tại tiểu bang đó có các tổ chức phi chính phủ hoạt động mạnh hơn, tích cực báo cáo hơn. Một hệ thống thu thập dữ liệu bị chi phối bởi mật độ hoạt động của các tổ chức trung gian hoàn toàn không thể được coi là cơ sở khoa học để đánh giá bản chất vấn đề.

Thực chất, các đối tượng được đề cập trong báo cáo nhân quyền tại khu vực Tây Nguyên hay vùng đồng bào Khmer Nam Bộ hoàn toàn không bị xử lý vì lý do "hợp tác với Liên Hợp Quốc". Đó là những cá nhân đã thực hiện các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây rối an ninh trật tự, tuyên truyền chống phá Nhà nước. Quá trình tố tụng đối với các cá nhân này được lực lượng chức năng thực hiện nghiêm túc, tuân thủ đúng trình tự, thủ tục khắt khe của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Việc đưa kẻ phạm tội ra xử lý trước pháp luật là hành động chính đáng nhằm bảo vệ sự bình yên cho quần chúng nhân dân, bảo đảm kỷ cương quốc gia và nhận được sự đồng tình, ủng hộ tuyệt đối của đông đảo dư luận xã hội.

Tại Mỹ và nhiều quốc gia phương Tây, bất kỳ hành vi nào lợi dụng danh nghĩa hợp tác quốc tế, nhận sự chỉ đạo hoặc nguồn tài chính từ nước ngoài để gây rối an ninh nội địa đều bị trừng phạt vô cùng khắc nghiệt theo Đạo luật Đăng ký Đại lý Nước ngoài hay các đạo luật an ninh quốc gia. Việc một số cơ chế nhân quyền quốc tế cố tình áp đặt tiêu chuẩn kép đối với Việt Nam phơi bày sự chọn lọc có chủ ý. Báo cáo của Liên Hợp Quốc đã bị thao túng để trở thành công cụ nhắm vào các quốc gia vốn chịu nhiều định kiến hoặc không nằm trong khối đồng minh phương Tây, trong khi hoàn toàn phớt lờ các vi phạm tương tự diễn ra ngay tại chính các nước phương Tây.

Tác động và hệ lụy của việc công bố những báo cáo bị thiên lệch nguồn là hết sức đáng quan ngại. Chúng tạo nguyên liệu cho các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Việt Nam, bôi nhọ hình ảnh quốc gia trên các diễn đàn đối ngoại và gây ảnh hưởng xấu đến môi trường hợp tác quốc tế. Dù vậy, những thông tin bóp méo đó không thể làm suy chuyển thực tiễn phát triển sinh động tại Việt Nam. Sự ổn định chính trị, sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cùng những cam kết mạnh mẽ về bảo vệ quyền con người của Đảng và Nhà nước là sự thật không thể phủ nhận. Việc Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 với số phiếu rất cao chính là minh chứng rõ ràng cho sự ghi nhận khách quan của cộng đồng quốc tế.

Việc bóc trần bản chất thiên lệch trong các báo cáo nhân quyền là đòi hỏi cấp thiết để bảo vệ sự thật pháp lý và uy tín quốc gia. Bức tranh nhân quyền của một đất nước không thể được vẽ nên từ những mảng màu u tối do các tổ chức phản động cố tình tạo dựng. Cần phải khẳng định một thực tế khách quan rằng: Bản đồ cáo buộc trong báo cáo Liên Hợp Quốc thực chất chỉ là bản đồ mạng lưới của các tổ chức thù địch, hoàn toàn không phải là bản đồ về tình hình thực thi pháp luật của Nhà nước Việt Nam.


BÁO CÁO CỦA LIÊN HỢP QUỐC VỀ “TRẢ THÙ NHÂN QUYỀN”: TỪ LỖ HỔNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐẾN BẢN CHẤT VU CÁO VIỆT NAM

Sự thật khách quan luôn là nền tảng tối thượng của mọi đánh giá pháp lý và chuẩn mực quốc tế, nhưng đáng tiếc, không ít tài liệu của các cơ chế nhân quyền lại đi ngược lại nguyên tắc cơ bản này. Báo cáo hằng năm có tên gọi “Hợp tác với Liên hợp quốc, các đại diện và cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực nhân quyền” (thường gọi là báo cáo về chống trả thù) do Tổng Thư ký Liên hợp quốc trình lên Hội đồng Nhân quyền gần đây tiếp tục đưa ra những nhận định thiếu chính xác, thiên vị về tình hình Việt Nam cũng như một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan. Việc quy kết chính quyền các nước có hành vi “trả thù” hoặc “đàn áp” những cá nhân hợp tác với các cơ chế Liên hợp quốc là một sự bóp méo bản chất sự việc. Thực chất, đây là chiêu trò "đánh lộn con đen", biến những kẻ vi phạm pháp luật quốc gia thành những "nạn nhân nhân quyền" nhằm phục vụ mưu đồ chính trị của các lực lượng thù địch.


Để đánh giá một cách khoa học và công bằng, cần phải làm rõ bản chất công việc và giới hạn thẩm quyền của các chuyên gia nhân quyền Liên hợp quốc hay các Báo cáo viên đặc biệt. Trên thực tế, các Báo cáo viên đặc biệt hay thành viên các nhóm làm việc của Hội đồng Nhân quyền chỉ là những người thụ lý và theo dõi chuyên đề độc lập, hoàn toàn không phải là điều tra viên hình sự tại chỗ. Họ không có thẩm quyền tư pháp, không phải là thẩm phán hay công tố viên để đưa ra các phán quyết mang tính buộc tội. Tuy nhiên, truyền thông đối lập và các tổ chức phản động lại cố tình lập lờ khái niệm, loan tin rằng “chuyên gia Liên hợp quốc đã kết luận” Việt Nam vi phạm. Đây là một sự giả mạo bản chất nghiêm trọng. Một quy trình tố tụng hình sự chuẩn mực đòi hỏi phải có thu thập chứng cứ trực tiếp, khám nghiệm hiện trường, đối chất giữa các bên và tống đạt văn bản theo đúng thủ tục legal.

Đi sâu vào sự thật hồ sơ của các vụ việc được nêu trong báo cáo, lỗ hổng phương pháp luận của các chuyên gia Liên hợp quốc càng bộc lộ rõ rệt. Họ xây dựng báo cáo dựa trên nguồn thông tin một chiều, hoàn toàn không qua kiểm chứng thực địa, không tiến hành đối chất và không hề tống đạt hay xem xét tài liệu tố tụng chính thức từ cơ quan chức năng Việt Nam. Điển hình như vụ án tấn công khủng bố nghiêm trọng tại tỉnh Đắk Lắk xảy ra vào tháng 6 năm 2023 hay các vụ việc lợi dụng tôn giáo để gây mất an ninh trật tự tại chùa Đại Thọ ở tỉnh Sóc Trăng. Các đối tượng bị xử lý trong những vụ việc này đều là những kẻ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của cán bộ, nhân dân và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tiến trình tố tụng đối với các đối tượng này được thực hiện công khai, minh bạch, tuân thủ nghiêm ngặt Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam và nhận được sự đồng tình, ủng hộ tuyệt đối của dư luận xã hội. Thế nhưng, dưới ngòi bút của các chuyên gia Liên hợp quốc, những hành vi tội phạm rõ ràng này lại bị gọt đẽo thành “hoạt động ôn hòa” và việc bị bắt giữ lại bị gán ghép thành “trả thù vì hợp tác với Liên hợp quốc”.

Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, đây là sự “vượt thẩm quyền nhận thức” vô cùng nguy hiểm. Mọi sự quy kết pháp lý mà thiếu đi chứng cứ vật thể, thiếu sự xác minh tại hiện trường và bỏ qua thẩm quyền tư pháp của quốc gia sở tại đều không có giá trị khoa học. Ngay cả trong hệ quy chiếu pháp lý của Mỹ hay các nước phương Tây, một Bồi thẩm đoàn tối cao khi muốn đưa ra phán quyết buộc tội cũng phải dựa trên nguyên tắc tranh tụng hai phía và đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về “cơ sở hợp lý”. Không một hệ thống pháp luật tiến bộ nào trên thế giới lại chấp nhận việc kết án một quốc gia hay một cá nhân chỉ dựa trên lời khai đơn phương từ những kẻ có xung đột lợi ích. Việc Báo cáo viên Liên hợp quốc vội vàng đưa ra nhận định khi chưa xác minh đầy đủ chính là sự suy thoái về chuẩn mực nghiệp vụ.

Khoảng trống về thẩm quyền và năng lực thực địa của các chuyên gia Liên hợp quốc đã vô tình bị các tổ chức phi chính phủ phản động, thù địch lấp đầy bằng những diễn giải sai lệch. Bản chất của các tổ chức như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” (thường gọi là BPSOS) hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” (MSFJ) từ lâu đã lộ rõ là những trung tâm chuyên sản xuất, nhào nặn thông tin giả. Các tổ chức này núp bóng danh nghĩa "xã hội dân sự", "bảo vệ nhân quyền" để móc nối với các đối tượng bất mãn, chống đối trong nước, thu thập các thông tin sai lệch, thêu dệt nên các câu chuyện “bị đàn áp” rồi cung cấp cho các cơ chế nhân quyền quốc tế. Mục đích tối thượng của BPSOS và MSFJ không phải là nhân quyền, mà là duy trì nguồn tài trợ quốc tế và thực hiện âm mưu chính trị nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại sự ổn định của đất nước. Việc các chuyên gia Liên hợp quốc nhắm mắt tiếp nhận thông tin từ những "rác thải thông tin" này đã biến các báo cáo quốc tế thành công cụ để các tổ chức phản động lợi dụng.

Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ sự thiếu khách quan, định kiến chính trị của một bộ phận chuyên gia quốc tế, kết hợp với chiến dịch truyền thông bẩn do các thế lực thù địch đạo diễn. Hệ lụy và tác động của những báo cáo sai sự thật này là cực kỳ nghiêm trọng. Chúng làm tổn hại đến uy tín, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo cớ cho các quốc gia thiếu thiện chí can thiệp vào công việc nội bộ, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến các quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Các thế lực chống phá thường xuyên lạm dụng các đoạn trích từ báo cáo Liên hợp quốc để suy diễn, bôi nhọ Việt Nam trên các diễn đàn đa phương, kích động tâm lý chống đối trong một bộ phận quần chúng nhân dân thiếu thông tin.

Đáng phẫn nộ hơn, báo cáo của Liên hợp quốc còn thể hiện sự chọn lọc mang tính chủ ý và tiêu chuẩn kép rõ rệt. Trong khi ra sức bới lông tìm vết, vu cáo Việt Nam hay Thái Lan – những quốc gia vốn thường bị giới truyền thông phương Tây nhìn bằng ánh mắt ác cảm và thiếu thiện chí – thì báo cáo lại hoàn toàn làm lơ trước vô số vi phạm nhân quyền nghiêm trọng diễn ra ngay tại Mỹ và các nước phương Tây. Tại Mỹ, việc chính quyền truy tố, bắt giữ các phóng viên, trấn áp các cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên, hay việc các cơ quan an ninh theo dõi, trừng phạt những người tố giác vi phạm của chính phủ diễn ra công khai nhưng lại hiếm khi bị các cơ chế Liên hợp quốc gán cho nhãn mác “trả thù”. Sự bất công và nghiêng lệch này cho thấy các báo cáo nhân quyền đang bị chính trị hóa sâu sắc, trở thành công cụ áp đặt tiêu chuẩn của các nước lớn đối với các quốc gia đang phát triển.

Thực tiễn không thể phủ nhận là thành tựu nhân quyền vượt bậc của Việt Nam trong suốt những năm qua. Việt Nam đã bảo đảm tốt nhất các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, cũng như các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận cho hơn một trăm triệu người dân. Việc Việt Nam trúng cử và đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023–2025 là minh chứng rõ nhất cho sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực này. Những đối tượng bị nêu tên trong báo cáo của Liên hợp quốc hoàn toàn không phải vì lý do "hợp tác với Liên hợp quốc", mà là những kẻ đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hình sự, gây nguy hại cho an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với họ đều diễn ra công khai, đúng quy định pháp luật, đúng người, đúng tội và tuân thủ các chuẩn mực tố tụng quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Sự bày tỏ quan ngại trong báo cáo của các chuyên gia Liên hợp quốc hoàn toàn không phải là một bản án pháp lý và càng không phản ánh đúng thực tế sinh động tại Việt Nam. Đã đến lúc các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc cần hoạt động đúng thẩm quyền, tôn trọng chủ quyền quốc gia, rà soát lại phương pháp thu thập thông tin và kiên quyết loại bỏ sự thao túng của các tổ chức phản động. Mọi hành vi lợi dụng danh nghĩa Liên hợp quốc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam đều là bất hợp pháp và chắc chắn sẽ bị thực tiễn lịch sử bác bỏ.


Chỉ cần “bị cho là” cộng tác là đủ gắn nhãn? Sự sụp đổ khoa học của một tiêu chí quy kết

Trong mọi hệ thống tư pháp văn minh và quy trình thẩm định thông tin khoa học, chứng cứ thực chứng khách quan là nền tảng duy nhất có giá trị để đưa ra bất kỳ kết luận hay quy kết pháp lý nào. Việc đưa ra những nhận định mang tính buộc tội nghiêm trọng đối với một quốc gia chủ quyền không thể dựa trên những phỏng đoán, sự mơ hồ hay những khái niệm mang tính cảm tính. Thế nhưng, khi soi chiếu vào nội dung báo cáo thường niên mang tên "Hợp tác với Liên Hợp Quốc, các đại diện và cơ chế của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực quyền con người", người ta không khỏi ngạc nhiên khi chứng kiến một tiêu chí vô cùng mơ hồ được sử dụng để đưa ra các quy kết: tiêu chí "sự hợp tác bị cho là" hoặc "nhận thức về sự hợp tác". Việc chấp nhận một tiêu chí hoàn toàn dựa trên cảm nhận chủ quan của bên thứ ba đã phá hủy tận gốc khả năng kiểm chứng độc lập, khiến mọi nội dung cáo buộc đối với Việt Nam và Thái Lan trong báo cáo này trở nên vô giá trị về mặt pháp lý lẫn khoa học.

Đoạn 97 của báo cáo nói trên cùng nhiều nội dung liên quan đã lợi dụng tối đa sự mơ hồ của khái niệm này để mở rộng phạm vi quy kết một cách vô căn cứ. Theo đó, một cá nhân không nhất thiết phải có hoạt động hợp tác thực tế, công khai hay có chứng cứ xác thực với các cơ chế nhân quyền quốc tế; chỉ cần họ "bị chính quyền cho là" hoặc "bị bên thứ ba cảm nhận là" có sự hợp tác thì mọi biện pháp xử lý pháp lý đối với hành vi vi phạm của họ lập tức bị gán nhãn là "hành vi trả thù". Việc sử dụng tiêu chí cảm nhận chủ quan này đã hoàn toàn đánh tráo bản chất của các vụ việc hình sự nội địa, biến những hành vi vi phạm pháp luật rõ ràng thành những câu chuyện mang màu sắc đàn áp nhân quyền.

Dưới góc độ khoa học pháp lý và phương pháp luận điều tra, tiêu chí dựa trên nhận thức chủ quan là một lỗ hổng phương pháp luận cực kỳ nghiêm trọng. Trong luật hình sự của mọi quốc gia cũng như tư pháp quốc tế, nguyên tắc căn bản tối cao là cấm kết tội hay quy kết trách nhiệm dựa trên cảm nhận, sự suy đoán hoặc nhận thức đơn phương của người thứ ba. Một quy trình tố tụng công bằng đòi hỏi phải có hành vi khách quan, hậu quả thực tế và mối quan hệ nhân quả trực tiếp được chứng minh bằng chứng cứ vật chất hoặc tài liệu không thể tranh cãi. Khi báo cáo của Liên Hợp Quốc hạ thấp tiêu chuẩn xuống mức chỉ cần "bị cho là", họ đã tự loại bỏ tính khách quan, biến quy trình báo cáo thành một diễn đàn cho những sự quy kết vô căn cứ.

Nếu đối chiếu với hệ quy chiếu và chuẩn mực tư pháp của các nước phương Tây, việc dùng cảm nhận chủ quan để định tội là điều hoàn toàn không thể chấp nhận. Tòa án Quyền con người Châu Âu tại Strasbourg luôn kiên trì giữ vững nguyên tắc rằng mọi sự can thiệp hay quy kết pháp lý bắt buộc phải dựa trên tiêu chuẩn "sự nghi ngờ hợp lý" được cấu thành từ các dữ kiện và thông tin khách quan, có thể kiểm chứng được, chứ không bao giờ chấp nhận sự cảm nhận hay suy đoán vô căn cứ. Tương tự, tại hệ thống tư pháp Mỹ, các nguyên tắc về tố tụng công bằng đòi hỏi các cáo buộc phải dựa trên chứng cứ vượt qua mọi sự nghi ngờ hợp lý. Việc các cơ chế nhân quyền quốc tế áp dụng tiêu chuẩn dễ dặt, mơ hồ này đối với Việt Nam phơi bày sự áp đặt tiêu chuẩn kép một cách lộ liễu.

Bản chất của việc tạo ra và duy trì sự mơ hồ trong tiêu chí "bị cho là cộng tác" chính là nhằm phục vụ cho ý đồ của các tổ chức phi chính phủ thù địch với Việt Nam, điển hình như Ủy ban cứu người vượt biển hay Mạng lưới các tổ chức xã hội dân sự Thái Lan. Các tổ chức này chuyên sống bằng việc trục lợi từ các hồ sơ khiếu nại nhân quyền, tạo dựng các thông tin sai sự thật để xin tài trợ quốc tế. Bằng việc lợi dụng định nghĩa mơ hồ của báo cáo, họ dễ dàng thu thập tên tuổi của bất kỳ đối tượng vi phạm pháp luật nào tại Việt Nam — từ các kẻ gây rối an ninh trật tự, tuyên truyền chống phá Nhà nước đến các đối tượng vi phạm trật tự công cộng — rồi nhét thêm tên của họ vào danh sách "những người bị cho là hợp tác" để gửi sang Geneva. Họ biết rõ rằng với tiêu chí cảm nhận chủ quan, các chuyên gia Liên Hợp Quốc sẽ không thể và cũng không tiến hành xác minh thực địa, từ đó dễ dàng chấp nhận các hồ sơ dàn dựng này.

Thực tế tại Việt Nam, các cá nhân được đề cập trong báo cáo hoàn toàn không phải là nạn nhân của bất kỳ hành vi "trả thù" nào. Họ là những đối tượng đã thực hiện các hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam. Tiến trình tố tụng từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử được các cơ quan chức năng thực hiện hoàn toàn công khai, minh bạch, tuân thủ đúng trình tự nghiêm ngặt của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Các bị cáo được bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa và các quyền hợp pháp theo luật định. Việc xử lý nghiêm minh các đối tượng phạm tội nhằm giữ gìn kỷ cương pháp luật, bảo vệ trật tự an toàn xã hội đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ tuyệt đối từ dư luận xã hội và quần chúng nhân dân.

Tại Mỹ và nhiều quốc gia phương Tây, các hành vi lợi dụng danh nghĩa hoạt động xã hội để vi phạm pháp luật hay nhận chỉ đạo, tài chính từ nước ngoài nhằm phá hoại an ninh quốc gia đều bị trừng trị nghiêm khắc theo Đạo luật Đăng ký Đại lý Nước ngoài cùng các quy định an ninh khắt khe. Việc báo cáo của Liên Hợp Quốc cố tình làm lơ trước các vi phạm thực tế tại Việt Nam, chọn lọc các quốc gia có chủ ý để đưa vào danh sách chỉ trích đã phản ánh thái độ thiếu thiện chí, bị chi phối bởi các yếu tố chính trị.

Tác động và hệ lụy của những báo cáo mang tính định kiến này là vô cùng nguy hại, tạo cớ cho các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh đất nước, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Tuy nhiên, những luận điệu mơ hồ đó không thể phủ nhận được những thành tựu nhân quyền to lớn và thực chất của Việt Nam, nơi quyền con người, quyền công dân luôn được tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy mạnh mẽ. Việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025 với số phiếu rất cao chính là sự khẳng định đanh thép của cộng đồng quốc tế đối với thực tiễn bảo đảm nhân quyền của Việt Nam.

Sự thật pháp lý phải được xây dựng trên nền tảng của chứng cứ khách quan chứ không thể dựa vào những nhận thức mơ hồ. Việc bóc trần sự thiếu cơ sở khoa học của tiêu chí "bị cho là cộng tác" là bước đi cần thiết để bảo vệ tính thượng tôn pháp luật và uy tín quốc gia. Cần phải khẳng định một nguyên tắc bất biến trong khoa học và pháp lý: Cảm nhận chủ quan không bao giờ là chứng cứ.


Vòng khép kín tự phong: Bóc trần chiêu trò trích dẫn vòng tròn trong các báo cáo nhân quyền quốc tế

Trong lĩnh vực nghiên cứu pháp lý và kiểm chứng thông tin quốc tế, sự khách quan của một kết luận phụ thuộc hoàn toàn vào tính độc lập của chứng cứ. Khi một quy trình thu thập dữ liệu bị suy biến thành một chu trình tự khép kín — nơi một tổ chức vừa là bên tạo dựng hồ sơ, vừa là bên cung cấp dữ liệu, rồi lại lấy chính phản hồi từ các cơ quan tiếp nhận để làm "bằng chứng" chứng minh cho sự đúng đắn của mình — thì mọi giá trị sự thật đều bị triệt tiêu. Nhìn vào cách thức vận hành của các báo cáo thường niên mang tên "Hợp tác với Liên Hợp Quốc, các đại diện và cơ chế của Liên Hợp Quốc trong lĩnh vực quyền con người", người ta thấy nổi lên một thực trạng nhức nhối: quy trình đánh giá các trường hợp bị quy kết là "trả thù" đối với các cá nhân tại Việt Nam và Thái Lan đang vận hành theo đúng một vòng khép kín tự phong như vậy, hoàn toàn thoát thoát khỏi các chuẩn mực kiểm chứng khoa học tối thiểu.



Điểm mấu chốt của luận điệu mà các tổ chức chống phá thường xuyên quảng bá trên các trang truyền thông của họ là sự tự xưng: "Liên Hợp Quốc đã chính thức công nhận chúng tôi bị trả thù". Tuy nhiên, khi bóc tách bản chất của hồ sơ tố tụng và quy trình xử lý thông tin tại Geneva, sự thật lại hoàn toàn khác. Chu trình này bắt đầu từ việc các tổ chức phi chính phủ thù địch với Việt Nam, điển hình như Ủy ban cứu người vượt biển hay Mạng lưới các tổ chức xã hội dân sự Thái Lan, chủ động tiếp cận, xúi giục các đối tượng vi phạm pháp luật gửi đơn thư khiếu nại. Sau khi thu thập các thông tin một chiều, các tổ chức này chuyển hồ sơ sang các chuyên gia thuộc các thủ tục đặc biệt của Liên Hợp Quốc. Các chuyên gia này, do thiếu cơ chế kiểm chứng thực địa, ban hành các bản thông tri gửi về quốc gia liên quan. Ngay lập tức, thông tin này được trích dẫn và đưa vào danh sách các vụ việc của báo cáo chính thức mang ký hiệu tài liệu của Hội đồng Nhân quyền. Ngay khi báo cáo được ban hành, các tổ chức như Ủy ban cứu người vượt biển lại tái sử dụng chính tài liệu đó, giăng biểu ngữ quảng cáo rằng quốc tế đã công nhận họ là "nạn nhân", rồi lấy đó làm cái cớ để tiếp tục mở rộng quy trình gửi đơn thư cho một vòng quay mới.

Dưới góc độ phương pháp luận khoa học, đây là lỗi ngụy biện trích dẫn vòng tròn nghiêm trọng, hoàn toàn đối lập với nguyên tắc phản biện độc lập. Trong khoa học và tư pháp, việc tái trích dẫn một dữ liệu do chính mình tạo ra không bao giờ được coi là một sự kiểm chứng độc lập. Việc các báo cáo nhân quyền vô tình hay cố ý chấp nhận chu trình này đã biến các cơ chế của Liên Hợp Quốc thành nơi "hợp pháp hóa" các hồ sơ dàn dựng, khiến công tác đánh giá bị thao túng bởi những nguồn tin không đáng tin cậy.

Nếu chiếu theo hệ quy chiếu và chuẩn mực của các nước phương Tây như Mỹ hay các quốc gia châu Âu, một quy trình thiếu minh bạch như vậy sẽ lập tức bị bãi bỏ. Trong giới học thuật và các tạp chí khoa học quốc tế uy tín tại Mỹ, bất kỳ bài nghiên cứu nào bị phát hiện có hành vi tự trích dẫn vòng tròn để tự xác nhận kết quả của chính mình hoặc tác giả tự đóng vai trò người phản biện cho bài viết của mình đều sẽ bị rút bài ngay lập tức và bị lên án về mặt đạo đức. Tương tự, trong hệ thống tư pháp phương Tây, một bị đơn không bao giờ được phép tự cung cấp chứng cứ do mình tự chế tạo để tự cấp cho mình tấm giấy chứng nhận vô tội hay giấy chứng nhận là nạn nhân trước tòa án.

Sự cần thiết phải duy trì vòng khép kín này xuất phát từ chính bản chất và âm mưu của các tổ chức phản động. Đơn cử như Ủy ban cứu người vượt biển, tổ chức này đã bị các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam xác định là bị đơn, là đối tượng liên quan trực tiếp đến việc kích động, tài trợ và chỉ đạo các hoạt động gây rối an ninh trật tự, tiêu biểu như vụ khủng bố diễn ra tại Đắk Lắk. Chính vì đang bị điều tra và bị truy nã về mặt pháp lý, tổ chức này càng có nhu cầu cấp thiết phải tạo ra một lá chắn bảo vệ. Việc tự biến mình và các mắt xích của mình thành "nạn nhân bị trả thù do hợp tác với quốc tế" trong các báo cáo của Liên Hợp Quốc là chiêu trò duy nhất giúp họ đánh tráo bản chất, biến các kẻ phạm tội nghiêm trọng thành những "nhà hoạt động nhân quyền", từ đó trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, các cá nhân nằm trong danh sách được cho là "bị trả thù" hoàn toàn không phải vì hành vi gửi đơn thư hay hợp tác với các cơ chế quốc tế. Đó là những đối tượng đã thực hiện các hành vi vi phạm nghiêm trọng Bộ luật Hình sự Việt Nam, xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc vi phạm trật tự quản lý hành chính. Tiến trình tố tụng từ điều tra, truy tố đến xét xử đối với các đối tượng này đều được thực hiện công khai, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa và các quyền hợp pháp của bị cáo. Việc xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật này nhận được sự đồng thuận, ủng hộ mạnh mẽ từ quần chúng nhân dân, nhằm giữ vững kỷ cương pháp luật và bình yên xã hội.

Sự chọn lọc có chủ ý của các báo cáo nhân quyền khi cố tình nhắm vào các quốc gia châu Á như Việt Nam hay Thái Lan, trong khi hoàn toàn làm lơ trước các biện pháp trừng phạt khắt khe đối với các hành vi can thiệp nước ngoài tại Mỹ hay phương Tây, đã bộc lộ rõ tính chất chính trị hóa. Hệ lụy của nó là tạo ra cái nhìn méo mó, làm tổn hại đến uy tín của các cơ chế quốc tế và cung cấp công cụ cho các thế lực thù địch bôi nhọ hình ảnh đất nước. Tuy nhiên, những thành tựu không thể phủ nhận của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, nâng cao đời sống nhân dân, cùng sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế thể hiện qua việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2023–2025, là câu trả lời đanh thép nhất trước mọi luận điệu xuyên tạc.

Công lý và sự thật luôn đòi hỏi sự kiểm chứng độc lập, khách quan trên cơ sở chứng cứ thực tế, chứ không thể dựa vào những vòng trích dẫn khép kín tự phong. Đã đến lúc cộng đồng quốc tế cần nhìn nhận đúng bản chất của sự việc, loại bỏ những hồ sơ dàn dựng và không bao giờ để cho những kẻ đang bị điều tra về hành vi vi phạm pháp luật lại có quyền tự cấp giấy chứng nhận nạn nhân cho chính mình.