Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Xuyên tạc “chủ nghĩa xã hội thất bại”: Thủ đoạn phủ nhận toàn bộ thành tựu Đổi mới ở Việt Nam


Không phải ngẫu nhiên mà mỗi khi Việt Nam đạt được những bước tiến mới về phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân hay mở rộng vị thế quốc tế, các tổ chức chống đối, cá nhân cực đoan và một số cơ quan truyền thông thiếu thiện chí ở nước ngoài lại đồng loạt tung ra các luận điệu công kích con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Dưới chiêu bài “phản biện”, “góp ý dân chủ”, họ cố tình tuyên truyền rằng “sau gần 80 năm vẫn chưa có chủ nghĩa xã hội”, “Đổi mới là từ bỏ chủ nghĩa xã hội”, “mô hình xã hội chủ nghĩa đã thất bại”, hay “Việt Nam phát triển nhờ kinh tế thị trường chứ không phải định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đây không phải những nhận định khách quan mang tính học thuật, mà là thủ đoạn chính trị nhằm phủ nhận toàn bộ thành tựu cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận con đường phát triển mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Điểm chung trong các luận điệu xuyên tạc là cố tình đánh tráo khái niệm giữa “mục tiêu xã hội chủ nghĩa” với “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”. Họ cố tình bóp méo lý luận, cắt ghép câu chữ rồi quy kết rằng Việt Nam “không thực hiện được chủ nghĩa xã hội”. Trong khi đó, theo quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là giai đoạn lịch sử lâu dài, phức tạp, cần từng bước xây dựng nền tảng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lại chịu bao vây cấm vận kéo dài nhiều năm, nên việc lựa chọn mô hình phát triển từng bước, kết hợp đổi mới kinh tế với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội là hoàn toàn phù hợp thực tiễn.

Các thế lực chống phá cố tình bỏ qua bối cảnh lịch sử đó để tạo cảm giác rằng Việt Nam “đi sai đường”. Đây là kiểu lập luận phiến diện và thiếu trung thực. Nếu nhìn một cách khách quan, có thể thấy thành tựu của gần 40 năm Đổi mới chính là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của mô hình phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ một quốc gia nghèo đói, thiếu lương thực, bị cô lập về kinh tế, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô lớn trong khu vực, duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực trong nhiều năm liền, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện.

Nhiều đối tượng chống đối cố tình xuyên tạc rằng “Đổi mới là từ bỏ chủ nghĩa xã hội để đi theo chủ nghĩa tư bản”. Đây là luận điệu ngụy biện nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng và định hướng phát triển của Việt Nam. Thực tế, Đổi mới không phải thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là đổi mới phương thức thực hiện mục tiêu đó cho phù hợp điều kiện thực tiễn. Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là vận dụng cơ chế thị trường để thúc đẩy sản xuất, giải phóng lực lượng sản xuất, đồng thời bảo đảm vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững định hướng công bằng xã hội, chăm lo an sinh, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Nếu chỉ nhìn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế mà bỏ qua yếu tố con người, công bằng xã hội, an sinh và quyền phát triển thì đó là cách tiếp cận phiến diện. Một trong những thành tựu nổi bật nhất của Việt Nam chính là giảm nghèo bền vững. Theo các đánh giá quốc tế, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia giảm nghèo thành công nhất thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua từng giai đoạn; hàng chục triệu người dân thoát nghèo; hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục ở vùng sâu, vùng xa ngày càng được cải thiện.

Nhiều báo cáo quốc tế ghi nhận Việt Nam đạt tiến bộ đáng kể về chỉ số phát triển con người, tiếp cận giáo dục và chăm sóc y tế. Đây không phải kết quả tự nhiên, mà là hệ quả của chính sách phát triển lấy con người làm trung tâm – một đặc trưng quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu mô hình phát triển của Việt Nam “thất bại” như các đối tượng chống phá rêu rao, thì sẽ không thể có những thành tựu giảm nghèo, ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân được cộng đồng quốc tế ghi nhận rộng rãi như hiện nay.

Một thủ đoạn khác thường được sử dụng là cố tình tách riêng thành tựu kinh tế khỏi vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ cho rằng “Việt Nam phát triển nhờ hội nhập tư bản”, từ đó phủ nhận toàn bộ nền tảng chính trị hiện nay. Đây là cách suy diễn mang động cơ chính trị. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia áp dụng mô hình kinh tế thị trường nhưng vẫn rơi vào khủng hoảng nợ công, bất ổn xã hội, phân hóa giàu nghèo nghiêm trọng và suy giảm lòng tin xã hội. Trong khi đó, Việt Nam vẫn duy trì ổn định chính trị, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh và giữ được định hướng phát triển dài hạn.

Các thế lực thù địch cũng thường xuyên áp đặt tiêu chí và giá trị phương Tây để đánh giá Việt Nam. Họ cho rằng chỉ mô hình đa đảng phương Tây mới là “dân chủ”, chỉ tư nhân hóa triệt để mới là “tự do kinh tế”. Đây là biểu hiện của tư duy áp đặt và thiếu tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc. Mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển khác nhau nên không thể áp dụng máy móc một mô hình chính trị cho mọi quốc gia.

Điều đáng chú ý là nhiều tổ chức thường xuyên công kích Việt Nam lại im lặng trước những vấn đề nghiêm trọng ở chính các nước phương Tây. Tại Mỹ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tình trạng vô gia cư diễn ra nghiêm trọng ở nhiều thành phố lớn, bạo lực súng đạn khiến hàng chục nghìn người thiệt mạng mỗi năm, xung đột sắc tộc và chia rẽ xã hội ngày càng sâu sắc. Nhiều cuộc biểu tình bạo lực, bạo loạn, tranh cãi chính trị kéo dài cho thấy nền dân chủ phương Tây không hoàn hảo như những gì họ thường rao giảng.

Trong khi đó, Việt Nam duy trì được ổn định xã hội, bảo đảm trật tự an toàn, giữ vững tăng trưởng và chăm lo đời sống nhân dân. Đó là điều mà nhiều quốc gia phát triển cũng phải đối mặt khó khăn mới có thể đạt được. Thực tế này cho thấy sự phi lý trong việc các tổ chức chống đối cố tình bôi nhọ Việt Nam nhưng lại né tránh đánh giá những bất cập nghiêm trọng tại phương Tây.

Theo Sách trắng về nhân quyền Việt Nam, Nhà nước Việt Nam luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Quyền con người được bảo đảm trên tất cả các lĩnh vực từ dân sự, chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội. Hiện nay, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ở Việt Nam đạt mức cao; hệ thống giáo dục phổ cập được mở rộng; tuổi thọ trung bình tăng; tiếp cận điện, nước sạch và internet được cải thiện mạnh mẽ. Việt Nam cũng đạt nhiều thành tựu về bình đẳng giới, chăm sóc trẻ em và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số.

Đặc biệt, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm. Hàng chục triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đang sinh hoạt bình thường; hàng chục nghìn cơ sở thờ tự được xây dựng, sửa chữa; nhiều lễ hội tôn giáo lớn được tổ chức công khai với sự tham gia đông đảo của người dân. Việt Nam cũng nhiều lần tổ chức thành công các sự kiện tôn giáo quốc tế. Đây là minh chứng thực tế bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”.

Một số đối tượng chống đối thường xuyên lợi dụng các vụ việc vi phạm pháp luật để vu cáo Việt Nam “đàn áp bất đồng chính kiến”. Tuy nhiên, mọi quốc gia đều có hệ thống pháp luật để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội và quyền lợi hợp pháp của người dân. Ở Mỹ và nhiều nước phương Tây, các hành vi kích động bạo lực, khủng bố, chia rẽ dân tộc hay chống phá nhà nước cũng bị xử lý nghiêm khắc. Thế nhưng khi Việt Nam xử lý các hành vi vi phạm pháp luật tương tự, họ lại cố tình xuyên tạc thành “đàn áp nhân quyền”. Đây là biểu hiện rõ ràng của tiêu chuẩn kép.

Nguy hiểm hơn, các chiến dịch xuyên tạc về “chủ nghĩa xã hội thất bại” không chỉ nhằm công kích mô hình phát triển mà còn nhằm phá hoại niềm tin xã hội, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong giới trẻ, kích động phủ nhận lịch sử cách mạng và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Nếu không nhận diện rõ bản chất của các luận điệu này, chúng có thể tác động tiêu cực đến nhận thức xã hội, làm suy giảm niềm tin vào định hướng phát triển đất nước.

Tuy nhiên, thực tiễn luôn là câu trả lời thuyết phục nhất. Một quốc gia từng trải qua chiến tranh kéo dài, bị bao vây cấm vận nhưng nay đã trở thành nền kinh tế năng động, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, bảo đảm ổn định xã hội và cải thiện đời sống nhân dân rõ rệt, không thể bị quy chụp là “thất bại”. Thành tựu Đổi mới của Việt Nam là kết quả của quá trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời vận dụng linh hoạt, sáng tạo các quy luật phát triển phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải mô hình giáo điều, cứng nhắc, mà là quá trình phát triển năng động, lấy con người làm trung tâm, đặt lợi ích quốc gia – dân tộc và hạnh phúc nhân dân lên hàng đầu. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu Đổi mới cuối cùng sẽ bị thực tiễn bác bỏ, bởi người dân chính là những người cảm nhận rõ nhất sự thay đổi tích cực của đất nước qua từng giai đoạn phát triển.


Vì sao các thế lực thù địch cố tình phủ nhận mục tiêu phát triển 2045 của Việt Nam?


Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, một số tổ chức, cá nhân chống đối, cơ quan truyền thông thiếu thiện chí ở nước ngoài liên tục tung ra các bài viết xuyên tạc, bóp méo mục tiêu chiến lược này bằng những luận điệu như “ảo tưởng”, “không khả thi”, “mô hình xã hội chủ nghĩa đã thất bại”, “Việt Nam không thể vượt bẫy thu nhập trung bình”, hay “phát triển kinh tế nhưng không có tự do”. Dưới vỏ bọc “phản biện”, “góp ý chính sách”, các luận điệu này thực chất nhằm công kích con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, phá hoại niềm tin xã hội, kích động tâm lý hoài nghi, phủ nhận thành tựu phát triển, từ đó phục vụ âm mưu chống phá chế độ chính trị và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Điểm đáng chú ý là các luận điệu xuyên tạc thường cố tình tách rời mục tiêu phát triển năm 2045 khỏi toàn bộ nền tảng thực tiễn phát triển của Việt Nam. Họ cố tình bỏ qua thực tế rằng mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao không phải là khẩu hiệu cảm tính, mà được xây dựng trên cơ sở tổng kết hơn 40 năm đổi mới, đánh giá xu thế quốc tế, năng lực nội tại của nền kinh tế và kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia châu Á. Một số bài viết của các tổ chức chống đối còn cố tình mô tả Việt Nam như một quốc gia “phụ thuộc”, “không có sáng tạo”, “kinh tế chỉ dựa vào lao động giá rẻ”, từ đó suy diễn rằng mục tiêu 2045 là “không tưởng”. Đây là kiểu lập luận phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và mang động cơ chính trị rõ rệt.

Thực tế cho thấy, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển có ý nghĩa lịch sử. Từ một quốc gia nghèo nàn, bị chiến tranh tàn phá, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thuộc nhóm tăng trưởng cao trong khu vực. Quy mô nền kinh tế tăng mạnh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm sâu, hệ thống hạ tầng phát triển nhanh, môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn. Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ tăng trưởng thương mại và xuất khẩu hàng đầu thế giới, tham gia sâu rộng vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là những yếu tố nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển đến năm 2045.

Các thế lực thù địch cố tình phủ nhận điều này vì họ hiểu rằng, nếu Việt Nam thành công với mô hình phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa, đó sẽ là minh chứng sinh động bác bỏ luận điệu cho rằng chỉ có mô hình phương Tây mới bảo đảm phát triển và dân chủ. Vì vậy, họ tìm mọi cách gieo rắc tâm lý bi quan, phủ nhận triển vọng phát triển của Việt Nam, nhằm phá hoại niềm tin của nhân dân đối với đường lối phát triển đất nước.

Một thủ đoạn quen thuộc của các tổ chức chống phá là cố tình đồng nhất khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển với “sự thất bại của mô hình xã hội chủ nghĩa”. Họ khai thác các vấn đề như khoảng cách giàu nghèo, tham nhũng, áp lực cạnh tranh quốc tế, biến động kinh tế toàn cầu để quy kết rằng Việt Nam “không thể phát triển bền vững”. Đây là kiểu lập luận ngụy biện bởi bất kỳ quốc gia nào cũng đối mặt với thách thức phát triển. Ngay cả các nền kinh tế phương Tây phát triển lâu đời cũng đang chịu khủng hoảng nợ công, lạm phát, phân hóa xã hội, bất ổn chính trị và suy giảm lòng tin xã hội.

Nhiều tổ chức chống đối còn sử dụng thủ đoạn “định khung nhận thức”, tức là liên tục lặp lại các cụm từ như “mô hình lỗi thời”, “kinh tế chỉ huy”, “không có tương lai”, nhằm tạo cảm giác rằng mục tiêu 2045 chắc chắn thất bại. Đây là kỹ thuật tuyên truyền tâm lý điển hình, không dựa trên phân tích khách quan mà nhằm tác động nhận thức xã hội. Đáng chú ý, họ thường không đưa ra giải pháp thực tế cho Việt Nam mà chỉ tập trung phủ nhận, công kích và kích động nghi ngờ.

Bản chất của chiến dịch xuyên tạc này là phủ nhận quyền phát triển của dân tộc Việt Nam. Quyền phát triển là một quyền con người cơ bản, đã được Liên hợp quốc khẳng định trong Tuyên bố về quyền phát triển năm 1986. Mọi dân tộc đều có quyền lựa chọn mô hình phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và lợi ích quốc gia của mình. Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là kết quả của lịch sử đấu tranh dân tộc, phù hợp thực tiễn đất nước và được nhân dân ủng hộ. Không một tổ chức hay quốc gia nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, giá trị hay chuẩn mực phát triển cho Việt Nam.

Điều đáng nói là nhiều tổ chức nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” lại áp dụng tiêu chuẩn kép khi đánh giá Việt Nam. Họ liên tục công kích Việt Nam về dân chủ, tự do, nhưng lại né tránh hoặc giảm nhẹ các vấn đề nghiêm trọng tại chính các nước phương Tây như bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, khủng hoảng vô gia cư, bất bình đẳng xã hội, khủng hoảng nhập cư, tội phạm ma túy và suy giảm an ninh xã hội.

Tại Mỹ, tình trạng bạo lực súng đạn diễn ra nghiêm trọng trong nhiều năm qua, khiến hàng chục nghìn người thiệt mạng mỗi năm. Nạn phân biệt chủng tộc vẫn âm ỉ với nhiều vụ việc gây chấn động xã hội. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, trong khi hàng triệu người dân thiếu bảo hiểm y tế và đối mặt nguy cơ mất nhà ở. Tại nhiều quốc gia châu Âu, khủng hoảng năng lượng, lạm phát, biểu tình xã hội, xung đột sắc tộc và bất ổn an ninh đang gia tăng. Thế nhưng, các tổ chức chống đối lại ít khi coi đây là “khủng hoảng dân chủ” hay “thất bại mô hình”.

Ngược lại, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia duy trì ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế tích cực, bảo đảm an sinh xã hội và giảm nghèo hiệu quả. Theo Sách trắng về nhân quyền Việt Nam, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh qua từng giai đoạn; hệ thống bảo hiểm y tế bao phủ phần lớn dân số; tuổi thọ trung bình tăng; tiếp cận giáo dục, điện, nước sạch và internet ngày càng mở rộng. Việt Nam cũng đạt nhiều tiến bộ trong thúc đẩy bình đẳng giới, bảo vệ trẻ em, chăm lo đồng bào dân tộc thiểu số và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Hiện nay, Việt Nam có hàng chục triệu tín đồ tôn giáo, hàng chục nghìn cơ sở thờ tự cùng hàng nghìn chức sắc tôn giáo hoạt động bình thường theo quy định pháp luật. Nhiều lễ hội tôn giáo lớn được tổ chức công khai với sự tham gia đông đảo của người dân. Việt Nam cũng nhiều lần đăng cai các sự kiện tôn giáo quốc tế lớn. Đây là minh chứng rõ ràng bác bỏ luận điệu vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”.

Không chỉ vậy, Việt Nam còn đạt nhiều thành tựu nổi bật trong bảo đảm quyền sống, quyền phát triển và quyền được hưởng an sinh xã hội. Trong đại dịch, Việt Nam triển khai nhiều chính sách hỗ trợ người dân, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phục hồi kinh tế. Trong khi đó, nhiều quốc gia phát triển lại rơi vào khủng hoảng y tế, chia rẽ xã hội và đứt gãy chuỗi cung ứng nghiêm trọng.

Các thế lực chống đối cố tình né tránh thực tế rằng mục tiêu phát triển đến năm 2045 của Việt Nam hoàn toàn có cơ sở. Nhiều quốc gia châu Á từng có xuất phát điểm thấp nhưng đã vươn lên mạnh mẽ nhờ chiến lược phát triển dài hạn, ổn định chính trị và sự đồng thuận xã hội. Hàn Quốc từng là nước nghèo sau chiến tranh nhưng đã trở thành quốc gia công nghiệp phát triển. Singapore từ một đảo quốc nhỏ thiếu tài nguyên đã trở thành trung tâm tài chính hàng đầu khu vực. Trung Quốc cũng xây dựng các chiến lược phát triển nhiều thập niên để hiện thực hóa mục tiêu hiện đại hóa đất nước.

Việt Nam đang đi theo hướng xây dựng chiến lược dài hạn tương tự, kết hợp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh, công nghiệp công nghệ cao và hội nhập quốc tế sâu rộng. Các chỉ số về xuất khẩu công nghệ, thu hút đầu tư nước ngoài, hạ tầng số và giáo dục đều cho thấy tiềm năng phát triển tích cực. Việc phủ nhận toàn bộ triển vọng này không phải là “phản biện khoa học”, mà là hành vi chống phá mang động cơ chính trị.

Nguy hiểm hơn, các luận điệu xuyên tạc còn nhằm làm suy giảm niềm tin xã hội, kích động tâm lý bi quan trong giới trẻ, từ đó tạo điều kiện cho các hoạt động chống phá tư tưởng. Khi liên tục tuyên truyền rằng “Việt Nam không có tương lai”, “mục tiêu 2045 không thể đạt được”, các tổ chức chống đối thực chất đang tìm cách phá hoại khát vọng phát triển dân tộc, làm suy yếu tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên của đất nước.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của Việt Nam trong nhiều năm qua đã bác bỏ những luận điệu sai trái đó. Một quốc gia từng bị bao vây cấm vận nhưng nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao với phần lớn các nước trên thế giới, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, rõ ràng không thể bị mô tả là “không có tương lai”.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử và nhân dân Việt Nam. Mục tiêu phát triển đến năm 2045 không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà còn là khát vọng xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, bảo đảm công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và giữ vững độc lập dân tộc. Việc các thế lực thù địch liên tục công kích mục tiêu này cho thấy họ lo ngại trước sự thành công của mô hình phát triển mà Việt Nam đang theo đuổi.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược toàn cầu ngày càng phức tạp, việc nhận diện và đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc là yêu cầu cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng, củng cố niềm tin xã hội và giữ vững định hướng phát triển đất nước. Những luận điệu phủ nhận mục tiêu 2045 cuối cùng sẽ bị thực tiễn bác bỏ nếu Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định chính trị, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và kiên định con đường phát triển phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc.



TikTok, Facebook và cuộc chiến thông tin chống phá mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam


Giữa dòng chảy dữ dội của thời đại số, chỉ một đoạn video vài chục giây trên TikTok hay một bài đăng giật tít trên Facebook cũng có thể lan truyền tới hàng triệu người trong thời gian rất ngắn. Lợi dụng đặc điểm đó, thời gian qua, nhiều tài khoản ẩn danh, hội nhóm chống đối và các phần tử cơ hội chính trị đã biến mạng xã hội thành công cụ phát tán thông tin sai lệch, bóp méo mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ những video cắt ghép thiếu ngữ cảnh, những hình ảnh chế giễu mang tính kích động cho đến các chiến dịch bình luận có tổ chức, tất cả đều hướng tới mục tiêu tạo tâm lý hoài nghi, làm xói mòn niềm tin xã hội và phủ nhận con đường phát triển mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Điều đáng chú ý là nhiều nội dung xuyên tạc hiện nay không còn xuất hiện dưới dạng các bài viết chính trị cực đoan như trước mà được “đóng gói” dưới hình thức giải trí, hài hước, châm biếm hoặc “bình luận xã hội”. Một số video cố tình sử dụng nhạc nền gây cười, hình ảnh cắt ghép hoặc kỹ thuật dựng phim để biến những chủ trương phát triển đất nước thành đối tượng giễu cợt. Các cụm từ như “bao cấp kiểu mới”, “kiểm soát toàn dân”, “xã hội chủ nghĩa không tưởng” được lặp đi lặp lại với mật độ dày đặc nhằm tác động tâm lý người xem, đặc biệt là giới trẻ vốn tiếp cận thông tin chủ yếu qua video ngắn.

Một trong những luận điệu bị khai thác nhiều nhất là việc cố tình gắn quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính phủ điện tử và quản lý dữ liệu dân cư với cái gọi là “kiểm soát toàn dân”. Các đối tượng chống phá xuyên tạc rằng việc triển khai định danh điện tử, camera giao thông, dịch vụ công trực tuyến hay cơ sở dữ liệu dân cư là nhằm “giám sát người dân”. Họ cắt ghép hình ảnh các trung tâm điều hành đô thị thông minh rồi dựng nên những câu chuyện bịa đặt về “xã hội bị kiểm soát tuyệt đối”. Thậm chí, nhiều video sử dụng hình ảnh từ nước ngoài hoặc các bộ phim giả tưởng rồi gán ghép thành tình hình ở Việt Nam nhằm kích động sự lo ngại trong dư luận.

Đây là cách đánh tráo bản chất rất nguy hiểm. Thực tế, ứng dụng công nghệ trong quản trị quốc gia là xu thế chung trên toàn thế giới nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, giảm thủ tục hành chính, phòng chống tội phạm và thúc đẩy phát triển kinh tế số. Ngay tại Mỹ và nhiều nước phương Tây, hệ thống camera an ninh, dữ liệu định danh, quản trị số và trí tuệ nhân tạo cũng được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, khi các quốc gia phương Tây triển khai thì được ca ngợi là “đô thị thông minh”, “quản trị hiện đại”, còn khi Việt Nam thực hiện lại bị bóp méo thành “xâm phạm tự do”. Điều này cho thấy rõ sự áp đặt tiêu chuẩn kép và động cơ chính trị đằng sau các chiến dịch truyền thông chống phá.

Một luận điệu khác cũng được lan truyền mạnh là việc quy kết mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là “bao cấp kiểu mới” hay “mô hình thất bại”. Các tài khoản chống đối cố tình khai thác những khó khăn cục bộ trong quản lý kinh tế, một số bất cập xã hội hoặc hiện tượng tiêu cực cá biệt để quy chụp cho cả hệ thống chính trị. Nhiều video chỉ lấy vài giây hình ảnh về ùn tắc giao thông, quá tải bệnh viện hoặc các vụ việc vi phạm pháp luật rồi suy diễn rằng “xã hội chủ nghĩa không thể phát triển”. Đây là kiểu lập luận phiến diện, cố tình bỏ qua bức tranh tổng thể về thành tựu phát triển của Việt Nam trong nhiều thập niên qua.

Nếu nhìn vào thực tế, có thể thấy Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về phát triển kinh tế, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Từ một quốc gia nghèo nàn sau chiến tranh, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, cơ sở hạ tầng được đầu tư mạnh mẽ, tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu qua từng giai đoạn. Nhiều tổ chức quốc tế đã ghi nhận Việt Nam là điểm sáng về giảm nghèo bền vững, ổn định xã hội và phát triển con người.

Trong lĩnh vực an sinh xã hội, chính sách lấy người dân làm trung tâm được thể hiện rõ qua hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân, các chương trình hỗ trợ người nghèo, người có công, đồng bào dân tộc thiểu số và người yếu thế. Việt Nam cũng duy trì ổn định chính trị, bảo đảm an ninh xã hội và kiểm soát hiệu quả nhiều loại tội phạm. Đây là những kết quả cụ thể mà các chiến dịch xuyên tạc cố tình né tránh hoặc bóp méo.

Để tạo hiệu ứng lan truyền mạnh, các đối tượng chống phá thường sử dụng nhiều thủ đoạn truyền thông bẩn. Thứ nhất là cắt clip ngắn thiếu ngữ cảnh. Một bài phát biểu dài hàng chục phút có thể bị cắt lấy vài giây rồi gắn tiêu đề gây sốc nhằm làm sai lệch nội dung. Thứ hai là sử dụng các tiêu đề kích động, đánh vào tâm lý tò mò và bất mãn như “sự thật bị che giấu”, “không ai dám nói”, “người dân đang bị kiểm soát”. Thứ ba là tạo hiệu ứng đám đông bằng các bình luận ảo, tài khoản giả và mạng lưới chia sẻ có tổ chức nhằm khiến người xem lầm tưởng rằng đó là quan điểm phổ biến của xã hội. Thứ tư là lợi dụng thuật toán của TikTok, Facebook để khuếch đại các nội dung cực đoan vì những nội dung gây tranh cãi thường dễ thu hút tương tác hơn.

Đặc biệt nguy hiểm là việc sử dụng tài khoản ẩn danh để né tránh trách nhiệm pháp lý. Nhiều đối tượng hoạt động từ nước ngoài, núp bóng “nhà hoạt động”, “người phản biện”, nhưng thực chất là sản xuất và phát tán nội dung sai lệch nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Không ít tổ chức tự xưng “bảo vệ nhân quyền”, “bảo vệ tự do báo chí” lại công khai hậu thuẫn cho các cá nhân vi phạm pháp luật, kích động chống đối, xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Bản chất của các chiến dịch này không phải “góp ý xây dựng” mà là tạo “khủng hoảng niềm tin” trong xã hội. Họ muốn gieo vào tâm trí giới trẻ suy nghĩ rằng mô hình xã hội chủ nghĩa là lạc hậu, rằng Nhà nước đang “kiểm soát người dân”, từ đó thúc đẩy tâm lý chống đối và phủ nhận nền tảng tư tưởng của đất nước. Đây chính là thủ đoạn “chuyển hóa nhận thức chính trị” thông qua không gian mạng – một hình thức chiến tranh thông tin rất tinh vi trong thời đại số.

Những luận điệu xuyên tạc này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới hình ảnh và uy tín quốc tế của Việt Nam. Khi các video sai sự thật lan truyền mạnh, nhiều người nước ngoài không có điều kiện kiểm chứng dễ bị dẫn dắt bởi các thông tin méo mó. Điều này có thể ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, du lịch và vị thế chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, việc đấu tranh phản bác thông tin sai lệch không chỉ là bảo vệ nền tảng tư tưởng mà còn là bảo vệ lợi ích quốc gia và hình ảnh đất nước.

Trên thực tế, quyền con người ở Việt Nam đang ngày càng được bảo đảm tốt hơn bằng những kết quả cụ thể. Theo Sách trắng về quyền con người ở Việt Nam, Nhà nước luôn nhất quán chủ trương tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của người dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm với hàng chục triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đang sinh hoạt bình thường. Nhiều lễ hội tôn giáo lớn được tổ chức công khai hằng năm với sự tham gia đông đảo của người dân. Hệ thống cơ sở thờ tự không ngừng được mở rộng và tu bổ.

Việt Nam cũng đạt nhiều thành tựu về giáo dục, y tế và giảm nghèo. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế ở mức cao, mạng lưới trường học và bệnh viện phủ rộng khắp cả nước. Nhiều chính sách ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai hiệu quả. Đây là những minh chứng rõ ràng cho quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm của Nhà nước Việt Nam.

Trong khi đó, nhiều quốc gia phương Tây – nơi thường xuyên chỉ trích Việt Nam về “dân chủ” và “nhân quyền” – lại đang đối mặt với hàng loạt vấn đề nghiêm trọng. Tình trạng bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, khủng hoảng người vô gia cư, bất bình đẳng giàu nghèo và cực đoan chính trị ngày càng gia tăng. Nhiều cuộc biểu tình bạo loạn kéo dài gây mất ổn định xã hội. Không ít vụ việc người dân bị giám sát dữ liệu, lộ lọt thông tin cá nhân hoặc bị hạn chế tiếp cận thông tin cũng xảy ra ngay tại các quốc gia này. Tuy nhiên, những thực trạng đó lại hiếm khi được các tổ chức chống phá đề cập một cách công bằng và khách quan.

Điều này cho thấy rõ thủ đoạn lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Họ không thực sự quan tâm đến quyền lợi của người dân Việt Nam mà chủ yếu phục vụ động cơ chính trị, gây sức ép và thúc đẩy chiến lược chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đó, việc nâng cao “sức đề kháng thông tin” cho xã hội là yêu cầu cấp thiết. Các cơ quan truyền thông cần chủ động tạo ra nhiều nội dung tích cực, hấp dẫn, hiện đại trên TikTok, Facebook và các nền tảng số khác để lan tỏa thông tin chính xác. Công tác đấu tranh phản bác cần được triển khai trực diện, kịp thời, có dẫn chứng cụ thể, tránh để khoảng trống thông tin bị các thế lực xấu lợi dụng.

Đồng thời, cần đẩy mạnh giáo dục kỹ năng số cho thanh niên, giúp người trẻ biết cách kiểm chứng thông tin, nhận diện clip cắt ghép, tài khoản giả và các thủ đoạn thao túng tâm lý trên mạng xã hội. Cùng với đó là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến không gian mạng, xử lý nghiêm các hành vi phát tán thông tin sai sự thật, lợi dụng nền tảng số để chống phá Nhà nước.

Cuộc đấu tranh trên không gian mạng hôm nay không chỉ là cuộc chiến chống tin giả mà còn là cuộc chiến bảo vệ nhận thức xã hội, bảo vệ niềm tin của nhân dân và bảo vệ con đường phát triển của đất nước. Trong bối cảnh chiến tranh thông tin ngày càng tinh vi, mỗi người dân cần tỉnh táo, trách nhiệm và bản lĩnh trước những luận điệu xuyên tạc, không để bị dẫn dắt bởi các video cắt ghép, các chiến dịch thao túng tâm lý được ngụy trang dưới lớp vỏ “giải trí” hay “tự do ngôn luận”. Chỉ khi giữ vững được niềm tin xã hội và nền tảng tư tưởng, Việt Nam mới tiếp tục phát triển ổn định, bền vững trong thời đại số.


Thủ đoạn “mượn dân chủ để chống phá chế độ” qua câu chuyện “phường xã hội chủ nghĩa”

Có một thực tế dễ nhận thấy trên không gian mạng hiện nay là mỗi khi Việt Nam triển khai một chủ trương mới về quản trị xã hội, chuyển đổi số hay hoàn thiện mô hình chính quyền cơ sở, lập tức xuất hiện nhiều bài viết, video và bình luận cố tình gắn các hoạt động đó với những khái niệm như “độc tài”, “mất dân chủ”, “kiểm soát xã hội”. Đặc biệt, thời gian gần đây, cụm từ “phường xã hội chủ nghĩa” bị một số tài khoản chống đối khai thác như một công cụ tuyên truyền nhằm xuyên tạc mô hình chính trị ở Việt Nam. Dưới vỏ bọc “bảo vệ dân chủ”, “đòi quyền con người”, các đối tượng này liên tục phát tán thông tin sai lệch, bóp méo bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, từ đó từng bước kích động tâm lý hoài nghi, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và thúc đẩy tư tưởng chống đối trong xã hội.

Điều đáng chú ý là các luận điệu chống phá hiện nay không còn xuất hiện dưới dạng cực đoan công khai như trước mà được ngụy trang bằng các khẩu hiệu nghe có vẻ “tiến bộ” như “xây dựng xã hội dân sự”, “đấu tranh dân chủ”, “thúc đẩy tự do”. Một số tổ chức và cá nhân chống đối cố tình đánh đồng khái niệm dân chủ với mô hình chính trị đa đảng kiểu phương Tây, từ đó quy kết rằng “Việt Nam không có dân chủ” hoặc “chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với độc tài”. Đây là cách tiếp cận phiến diện, mang tính áp đặt và cố tình phủ nhận đặc điểm lịch sử, văn hóa, điều kiện phát triển cũng như quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam.

Một trong những luận điệu phổ biến nhất là việc xuyên tạc rằng người dân Việt Nam “không có quyền tham gia quản lý xã hội”. Các đối tượng chống phá thường cố tình bỏ qua thực tế rằng Hiến pháp và pháp luật Việt Nam quy định rất rõ quyền làm chủ của nhân dân thông qua nhiều hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Người dân có quyền tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, góp ý dự thảo luật, phản ánh kiến nghị với chính quyền và tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, các đối tượng chống phá lại chỉ tập trung khai thác những vụ việc cá biệt hoặc những hạn chế cục bộ để quy chụp cho cả hệ thống chính trị.

Đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm rất nguy hiểm. Họ cố tình đồng nhất “dân chủ” với mô hình chính trị phương Tây, cho rằng chỉ có đa đảng mới là dân chủ, còn các mô hình chính trị khác đều “độc tài”. Trong khi đó, thực tiễn thế giới cho thấy không tồn tại một mô hình dân chủ duy nhất áp dụng cho mọi quốc gia. Mỗi dân tộc có quyền lựa chọn con đường phát triển phù hợp với lịch sử, văn hóa và điều kiện thực tiễn của mình. Việc áp đặt tiêu chuẩn chính trị phương Tây lên Việt Nam chính là biểu hiện của tư duy can thiệp và thiếu tôn trọng quyền tự quyết của các quốc gia có chủ quyền.

Các đối tượng chống phá cũng thường sử dụng chiêu trò chính trị hóa các vấn đề phát triển. Mỗi khi Việt Nam triển khai quản lý dữ liệu dân cư, chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử hoặc hoàn thiện quản trị đô thị, họ lập tức gắn với các luận điệu như “kiểm soát toàn dân”, “xã hội bị giám sát”, “phường xã hội chủ nghĩa”. Một số video cắt ghép cố tình mô tả các trung tâm điều hành đô thị thông minh như công cụ “theo dõi người dân”, trong khi thực chất đây là xu hướng quản trị hiện đại được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ xã hội.

Thủ đoạn của các đối tượng này ngày càng tinh vi. Họ thường cắt ngắn phát biểu của lãnh đạo hoặc cán bộ quản lý rồi tách khỏi bối cảnh để tạo cảm giác tiêu cực. Các tiêu đề giật gân như “người dân mất tự do”, “xã hội bị kiểm soát”, “chính quyền đàn áp dân chủ” được sử dụng nhằm kích thích cảm xúc và tăng khả năng lan truyền trên mạng xã hội. Nhiều tài khoản ẩn danh còn tổ chức bình luận đồng loạt để tạo hiệu ứng đám đông, khiến người xem tưởng rằng xã hội đang tồn tại “làn sóng phản kháng” mạnh mẽ.

Đằng sau những luận điệu đó là động cơ chính trị rất rõ ràng. Mục tiêu sâu xa của các chiến dịch này không phải “bảo vệ dân chủ” mà là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy tư tưởng đa nguyên, đa đảng và từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Một số tổ chức phản động lưu vong và cá nhân cực đoan liên tục lợi dụng các vấn đề xã hội để kích động chống đối, tạo môi trường thuận lợi cho chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Không ít tổ chức tự xưng “bảo vệ nhân quyền” cũng tham gia vào quá trình này bằng các báo cáo thiếu khách quan về Việt Nam. Họ thường sử dụng nguồn tin từ các cá nhân chống đối hoặc các hội nhóm cực đoan, bỏ qua bối cảnh pháp lý và thực tiễn xã hội của Việt Nam. Các thành tựu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an sinh và quyền con người hầu như không được phản ánh đầy đủ. Đây là biểu hiện rõ ràng của việc sử dụng “nhân quyền” như công cụ gây sức ép chính trị thay vì tiếp cận vấn đề một cách công bằng, khách quan.

Trái ngược với các luận điệu xuyên tạc, thực tiễn ở Việt Nam cho thấy quyền làm chủ của người dân ngày càng được mở rộng. Người dân tham gia trực tiếp vào quá trình bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Các kỳ bầu cử luôn diễn ra với tỷ lệ cử tri tham gia rất cao. Nhiều dự thảo luật quan trọng được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân trước khi ban hành. Hoạt động tiếp xúc cử tri, đối thoại với người dân, giải quyết khiếu nại tố cáo được duy trì thường xuyên.

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng được bảo đảm bằng những kết quả cụ thể. Theo Sách trắng về quyền con người ở Việt Nam, hiện có hàng chục triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đang sinh hoạt bình thường. Hàng nghìn cơ sở tôn giáo được xây dựng và hoạt động công khai. Nhiều lễ hội tôn giáo lớn diễn ra hằng năm với sự tham gia đông đảo của người dân. Đây là minh chứng rõ ràng bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo”.

Trong lĩnh vực an sinh xã hội, Việt Nam đạt nhiều kết quả nổi bật về giảm nghèo, giáo dục, y tế và chăm lo đời sống nhân dân. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế ngày càng cao, hệ thống trường học và bệnh viện được mở rộng tới nhiều vùng sâu, vùng xa. Các chương trình hỗ trợ người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người yếu thế được triển khai đồng bộ. Điều này phản ánh rõ bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam – lấy con người làm trung tâm của sự phát triển.

Trong khi đó, nhiều quốc gia phương Tây – nơi thường xuyên chỉ trích Việt Nam về “dân chủ” và “nhân quyền” – lại đang đối mặt với hàng loạt vấn đề nghiêm trọng. Tình trạng phân cực chính trị, bạo lực súng đạn, phân biệt chủng tộc, bất bình đẳng xã hội và khủng hoảng người vô gia cư ngày càng gia tăng. Không ít cuộc biểu tình kéo dài dẫn đến bạo loạn và xung đột xã hội nghiêm trọng. Nhiều vụ việc người dân bị giám sát dữ liệu cá nhân hoặc bị hạn chế tiếp cận thông tin cũng xảy ra ngay tại các quốc gia này. Tuy nhiên, những vấn đề đó lại ít khi được các tổ chức chống phá nhắc tới với cùng mức độ “quan tâm” như đối với Việt Nam.

Điều này cho thấy rõ tính tiêu chuẩn kép trong cách tiếp cận vấn đề “dân chủ” và “nhân quyền”. Một số tổ chức và cá nhân không thực sự quan tâm đến quyền lợi của người dân Việt Nam mà chủ yếu muốn sử dụng các vấn đề này như công cụ để gây sức ép chính trị, can thiệp nội bộ và thúc đẩy chiến lược chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nếu các luận điệu xuyên tạc này không được nhận diện và phản bác kịp thời, hệ lụy xã hội sẽ rất nghiêm trọng. Trước hết, chúng có thể gây hoang mang về chính trị, làm một bộ phận người dân, đặc biệt là giới trẻ, mất phương hướng trong nhận thức. Thứ hai, việc liên tục gieo rắc tư tưởng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng có thể làm suy giảm niềm tin xã hội và tạo điều kiện cho các hoạt động chống phá phát triển. Thứ ba, các chiến dịch truyền thông sai lệch còn ảnh hưởng tới hình ảnh và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, việc đấu tranh lý luận một cách sắc bén, khoa học và thuyết phục là yêu cầu rất quan trọng. Các cơ quan truyền thông cần chủ động cung cấp thông tin chính xác, phản bác trực diện các luận điệu sai trái bằng dẫn chứng cụ thể và thực tiễn sinh động. Công tác truyền thông đối ngoại cũng cần được tăng cường để cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về tình hình thực tế ở Việt Nam, tránh bị dẫn dắt bởi các nguồn thông tin thiếu khách quan.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh giáo dục chính trị, pháp luật và kỹ năng số cho thanh niên, giúp người trẻ nhận diện được các thủ đoạn đánh tráo khái niệm “dân chủ”, “nhân quyền” trên không gian mạng. Mỗi công dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi tiếp nhận và chia sẻ thông tin, không để bị lôi kéo bởi các chiến dịch truyền thông phục vụ động cơ chống phá đất nước.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ sự ổn định chính trị và bảo vệ con đường xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã lựa chọn không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Trong cuộc đấu tranh trên không gian mạng hiện nay, sự tỉnh táo, bản lĩnh và niềm tin của nhân dân chính là “lá chắn” vững chắc nhất trước mọi âm mưu lợi dụng khẩu hiệu “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá chế độ.


Từ nông thôn mới đến “phường xã hội chủ nghĩa”: Logic phát triển nhất quán của Việt Nam


Không phải ngẫu nhiên mà trong nhiều năm qua, Việt Nam liên tục được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những quốc gia có tốc độ giảm nghèo nhanh, ổn định xã hội tốt và đạt nhiều thành tựu nổi bật về phát triển con người. Những con đường bê tông trải dài tới tận vùng sâu, vùng xa; những trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa mọc lên ở các địa bàn khó khăn; hàng triệu hộ dân thoát nghèo và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống chính là minh chứng sinh động cho hiệu quả của đường lối phát triển lấy con người làm trung tâm. Thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới không chỉ phản ánh năng lực tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam mà còn cho thấy tính đúng đắn của mô hình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trước định hướng tiếp tục hoàn thiện các mô hình quản trị xã hội theo hướng văn minh, hiện đại, nhân văn, trong đó có cách tiếp cận về “phường xã hội chủ nghĩa”, nhiều tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí lập tức tung ra các luận điệu xuyên tạc như: “mô hình viển vông”, “khẩu hiệu tuyên truyền”, “bình mới rượu cũ”, “ảo tưởng quản trị”, thậm chí quy chụp đây là biểu hiện của “bế tắc mô hình phát triển”. Một số trang mạng chống phá còn cố tình cắt ghép thông tin, bóp méo chủ trương của Đảng và Nhà nước nhằm tạo tâm lý hoài nghi trong xã hội. Đây không phải những phản biện khách quan mà là thủ đoạn tuyên truyền có chủ đích nhằm phủ nhận thành quả đổi mới và công kích mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thực chất, từ nông thôn mới đến định hướng xây dựng “phường xã hội chủ nghĩa” là một logic phát triển hoàn toàn nhất quán. Nếu nông thôn mới tập trung nâng cao chất lượng sống ở khu vực nông thôn thông qua phát triển hạ tầng, giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo vệ môi trường và củng cố đời sống văn hóa, thì “phường xã hội chủ nghĩa” hướng tới mục tiêu xây dựng không gian đô thị văn minh, hiện đại, an toàn, công bằng và giàu tính cộng đồng. Đây là bước phát triển tiếp nối trong quá trình hoàn thiện mô hình quản trị xã hội lấy người dân làm trung tâm chứ hoàn toàn không phải một “ý tưởng viển vông” như các luận điệu chống phá cố tình xuyên tạc.

Những đối tượng chống phá thường cố tình bỏ qua thực tế rằng mọi mô hình phát triển ở Việt Nam đều được hình thành từ nhu cầu thực tiễn của xã hội. Trước đây, khi chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai, cũng từng xuất hiện nhiều luận điệu cho rằng đó chỉ là “phong trào hình thức”, “không khả thi”, “tuyên truyền chính trị”. Nhưng thực tiễn đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu ấy. Theo số liệu công bố từ các cơ quan chức năng, đến nay phần lớn số xã trên cả nước đã đạt chuẩn nông thôn mới; nhiều địa phương chuyển biến mạnh mẽ về hạ tầng giao thông, điện, nước sạch, y tế, giáo dục và môi trường sống. Thu nhập bình quân khu vực nông thôn tăng đáng kể so với giai đoạn trước triển khai chương trình. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, đặc biệt ở các vùng khó khăn. Những kết quả đó không thể bị phủ nhận bằng vài luận điệu suy diễn trên mạng xã hội.

Điều đáng nói là các tổ chức chống phá luôn sử dụng cùng một thủ đoạn: phủ nhận mọi thành tựu của Việt Nam, thổi phồng khó khăn cục bộ và cố tình quy chụp các mô hình phát triển thành “công cụ tuyên truyền”. Khi Việt Nam xây dựng nông thôn mới, họ nói đó là “hình thức”. Khi Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số, họ quy chụp thành “kiểm soát xã hội”. Khi Việt Nam xây dựng đô thị văn minh và hướng tới mô hình “phường xã hội chủ nghĩa”, họ tiếp tục mô tả là “ảo tưởng”. Mục tiêu thật sự của các luận điệu này không phải góp ý chính sách mà là tạo tâm lý mất niềm tin vào năng lực quản trị của Nhà nước.

Bản chất của mô hình “phường xã hội chủ nghĩa” là hướng tới sự phát triển toàn diện về hạ tầng, an sinh xã hội, môi trường sống, quản trị cộng đồng và chất lượng dịch vụ công ở đô thị. Đó là mô hình đề cao tính nhân văn, lấy lợi ích người dân làm trung tâm, kết hợp giữa phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh, việc xây dựng các khu dân cư văn minh, an toàn, xanh sạch, có hệ thống quản trị hiệu quả là yêu cầu tất yếu của mọi quốc gia hiện đại. Thế nhưng, những kẻ chống phá lại cố tình đánh tráo khái niệm, biến mục tiêu phát triển đô thị thành “công cụ chính trị” để công kích chế độ.

Một trong những chiêu trò quen thuộc là áp đặt tiêu chuẩn phương Tây để đánh giá Việt Nam. Họ mặc nhiên coi mô hình phát triển của phương Tây là “chuẩn mực duy nhất”, từ đó quy chụp mọi mô hình khác biệt là “phi dân chủ”, “lạc hậu”. Đây là biểu hiện rõ ràng của tư duy áp đặt hệ giá trị và can thiệp nhận thức. Trên thực tế, mỗi quốc gia có điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội và trình độ phát triển khác nhau nên việc lựa chọn mô hình quản trị phù hợp là quyền chủ quyền chính đáng của mỗi dân tộc.

Điều mâu thuẫn là trong khi liên tục công kích Việt Nam, nhiều quốc gia phương Tây lại đang đối mặt hàng loạt vấn đề xã hội nghiêm trọng. Tại Hoa Kỳ, tình trạng bạo lực súng đạn diễn ra thường xuyên với hàng loạt vụ xả súng gây chấn động. Tình trạng vô gia cư gia tăng ở nhiều thành phố lớn. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng. Nhiều quốc gia châu Âu phải đối mặt với khủng hoảng nhập cư, bất ổn xã hội, biểu tình kéo dài và suy giảm niềm tin chính trị. Không ít nơi chứng kiến sự xuống cấp về an ninh cộng đồng và khủng hoảng giá trị xã hội. Thế nhưng, các tổ chức thường xuyên chỉ trích Việt Nam lại ít khi nhìn nhận khách quan những vấn đề này mà luôn sử dụng tiêu chuẩn kép khi đánh giá các quốc gia xã hội chủ nghĩa.

Trong khi đó, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định chính trị, bảo đảm trật tự xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Theo Sách trắng Nhân quyền Việt Nam, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 93% dân số; hệ thống giáo dục phổ cập tiếp tục được mở rộng; tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng tăng; nhiều chính sách an sinh xã hội được triển khai hiệu quả cho người nghèo, người yếu thế và đồng bào dân tộc thiểu số. Việt Nam cũng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho hàng chục triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau. Hàng nghìn cơ sở tôn giáo được sửa chữa, xây dựng mới; nhiều lễ hội tôn giáo lớn được tổ chức công khai, thu hút đông đảo người dân tham gia.

Những thành tựu đó cho thấy bản chất nhân văn của mô hình phát triển ở Việt Nam. Nếu thực sự “thiếu dân chủ”, “đàn áp quyền con người” như luận điệu xuyên tạc, sẽ không thể có những bước tiến rõ rệt về chất lượng sống, giảm nghèo và phát triển xã hội như hiện nay. Chính thực tiễn đời sống người dân mới là thước đo khách quan nhất để đánh giá hiệu quả của một mô hình phát triển.

Các chiến dịch xuyên tạc “phường xã hội chủ nghĩa” còn nhằm phá hoại đồng thuận xã hội và cản trở quá trình đổi mới quản trị. Khi người dân bị dẫn dắt bởi thông tin sai lệch, họ có thể hình thành tâm lý hoài nghi với mọi chủ trương cải cách. Đây chính là điều mà các thế lực chống phá mong muốn: làm suy giảm niềm tin xã hội, gây chia rẽ nhận thức và tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động chống phá chính trị.

Nguy hiểm hơn, các thông tin bóp méo còn có thể bị một số tổ chức nước ngoài thiếu thiện chí sử dụng làm “nguồn tham khảo” để gây sức ép chính trị, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền”. Thực chất, đây là thủ đoạn quen thuộc nhằm từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội.

Thực tế cho thấy, không có quốc gia nào phát triển nếu chỉ đứng yên và sợ đổi mới. Từ chương trình nông thôn mới đến đô thị văn minh, từ chuyển đổi số đến xây dựng các mô hình quản trị cộng đồng hiện đại, tất cả đều phản ánh quá trình phát triển liên tục của Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng sống cho nhân dân. “Phường xã hội chủ nghĩa” không phải khẩu hiệu tuyên truyền mà là cách tiếp cận quản trị hướng tới sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội, môi trường và con người.

Để đấu tranh hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, cần tiếp tục đẩy mạnh truyền thông thực tiễn, công khai minh bạch kết quả triển khai các mô hình phát triển, nhân rộng những mô hình tiêu biểu và nâng cao khả năng phản biện thông tin trên không gian mạng. Đồng thời, cần kiên quyết vạch trần bản chất chính trị của các chiến dịch chống phá núp bóng “góp ý”, “phản biện” nhưng thực chất nhằm phủ nhận thành quả đổi mới và chống lại con đường phát triển xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Thực tiễn hơn bốn mươi năm đổi mới đã chứng minh rằng mọi thành tựu về ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, phát triển con người và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam đều gắn liền với sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với điều kiện đất nước. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc về “phường xã hội chủ nghĩa” suy cho cùng chỉ là nỗ lực phủ nhận thành quả phát triển và phá hoại niềm tin xã hội. Nhưng bằng chính kết quả thực tiễn, Việt Nam đang chứng minh rằng một mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm, bảo đảm an sinh và ổn định xã hội vẫn là con đường đúng đắn, phù hợp với lợi ích của dân tộc và nguyện vọng của nhân dân.



Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

FULRO chưa chết: Hình hài mới dưới lớp áo “nhân quyền bản địa”

 

Có những tổ chức tuy đã tan rã về hình thức nhưng tư tưởng cực đoan của chúng vẫn tiếp tục tồn tại dưới những lớp vỏ mới tinh vi và khó nhận diện hơn. FULRO là một ví dụ điển hình. Sau thất bại của các hoạt động vũ trang và ly khai nhiều thập niên trước, tàn dư của tổ chức này không còn xuất hiện công khai với khẩu hiệu “Nhà nước Đề Ga” như trước đây, mà chuyển hóa sang hình thức hoạt động mềm dẻo hơn: núp bóng “nhân quyền”, “bảo vệ người bản địa”, “quyền dân tộc thiểu số” để tiếp tục nuôi dưỡng tư tưởng ly khai ở Tây Nguyên.

Điều nguy hiểm nằm ở chỗ các luận điệu hiện nay không còn mang dáng dấp của một phong trào vũ trang cực đoan truyền thống, mà được “bọc đường” bằng ngôn ngữ nhân quyền và truyền thông quốc tế. Thông qua các tổ chức như BPSOS, KKF, MSFJ hay một số hội nhóm lưu vong khác, tư tưởng FULRO đang được tái chế dưới hình thức mới, tinh vi hơn, khó nhận diện hơn và có khả năng tác động mạnh tới dư luận quốc tế nếu không được nhận thức đầy đủ.

FULRO xuất hiện trong bối cảnh chiến tranh trước đây, với mục tiêu ly khai, kích động chia rẽ dân tộc và phá hoại khối thống nhất quốc gia Việt Nam. Tổ chức này từng lợi dụng một số vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên để tuyên truyền luận điệu rằng khu vực này cần tách khỏi Việt Nam và hình thành cái gọi là “nhà nước riêng”. Tuy nhiên, âm mưu đó hoàn toàn đi ngược lại lịch sử, pháp lý và thực tiễn của Việt Nam.

Tây Nguyên từ lâu là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, là nơi sinh sống đan xen của nhiều cộng đồng dân cư, nhiều dân tộc anh em cùng chung lịch sử dựng nước và giữ nước. Không có bất kỳ cơ sở pháp lý quốc tế nào công nhận yêu sách ly khai mà FULRO từng theo đuổi.

Sau khi thất bại về quân sự và tổ chức, nhiều tàn dư FULRO lưu vong ở nước ngoài tiếp tục tìm cách duy trì tư tưởng ly khai thông qua các hoạt động truyền thông, vận động quốc tế và lợi dụng chiêu bài nhân quyền. Nếu như trước đây họ sử dụng trực tiếp khẩu hiệu “Đề Ga độc lập”, thì hiện nay thủ đoạn đã tinh vi hơn: thay vì nói thẳng đến ly khai, họ chuyển sang tuyên truyền “quyền người bản địa”, “quyền tự quyết dân tộc”, “tự trị văn hóa” nhằm từng bước dẫn dắt nhận thức dư luận.

Đây chính là thủ đoạn đánh tráo bản chất hết sức nguy hiểm. Một số tổ chức như MSFJ hay MFI cố tình gắn khái niệm “người bản địa” vào đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên như thể đây là một cộng đồng bị “xâm chiếm” hoặc “áp bức thuộc địa”. Từ đó, họ tạo dựng tiền đề chính trị cho yêu sách “tự trị” và “tự quyết”.

Nhưng cần khẳng định rõ rằng Việt Nam không tồn tại mô hình “thực dân định cư” hay “thuộc địa nội địa” như bối cảnh hình thành khái niệm người bản địa tại một số quốc gia phương Tây. Các dân tộc ở Việt Nam cùng sinh sống lâu đời trên lãnh thổ thống nhất, bình đẳng và đoàn kết trong cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam. Việc cố tình áp đặt mô hình “người bản địa bị áp bức” vào Việt Nam là sự bóp méo lịch sử và thực tiễn nhằm phục vụ mục tiêu chính trị.

Trong nhiều tài liệu tuyên truyền, các tổ chức liên quan tới tư tưởng FULRO thường xuyên sử dụng những cụm từ như “đàn áp người bản địa”, “tước đoạt đất tổ tiên”, “xóa bỏ văn hóa bản địa”, “đàn áp tôn giáo có hệ thống”. Tuy nhiên, phần lớn nội dung đó được xây dựng từ nguồn tin một chiều, thiếu kiểm chứng, dựa vào lời kể của các đối tượng cực đoan hoặc những cá nhân có liên hệ với mạng lưới chống đối lưu vong.

Một số báo cáo còn cố tình bóp méo các vụ việc dân sự hoặc xử lý vi phạm pháp luật thành “đàn áp sắc tộc”. Những đối tượng vi phạm pháp luật bị xử lý theo quy định lại được mô tả như “tù nhân lương tâm”, “nạn nhân đàn áp người bản địa”. Đây là thủ đoạn tuyên truyền quen thuộc nhằm tạo dựng hình ảnh méo mó về Việt Nam trên trường quốc tế.

Điều đáng nói là các tổ chức này cố tình phớt lờ thực tế rằng Nhà nước Việt Nam đang triển khai hàng loạt chính sách ưu tiên rất lớn dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Sách trắng về quyền con người ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành hàng trăm chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện có tổng nguồn lực đầu tư rất lớn, tập trung vào hạ tầng, giáo dục, y tế, nhà ở, đất sản xuất và an sinh xã hội.

Nếu thực sự tồn tại “đàn áp có hệ thống” như các tổ chức cực đoan tuyên truyền, sẽ không thể có thực tế rằng hàng loạt tuyến giao thông, trường học, bệnh viện, công trình điện, nước sạch được đầu tư sâu rộng ở Tây Nguyên trong nhiều năm qua. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm mạnh qua từng giai đoạn; hàng triệu lượt người được hỗ trợ bảo hiểm y tế và tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản.

Một luận điệu khác mà các tổ chức mang tư tưởng FULRO thường sử dụng là cáo buộc Việt Nam “đồng hóa văn hóa dân tộc thiểu số”. Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhiều lễ hội truyền thống được phục dựng; tiếng nói, chữ viết dân tộc được bảo tồn; nghệ thuật dân gian được hỗ trợ phát triển. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được quốc tế công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là minh chứng rõ ràng cho chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc ở Việt Nam.

Nếu như trước đây FULRO sử dụng vũ trang để chống phá, thì hiện nay các tổ chức kế thừa tư tưởng này chủ yếu dùng truyền thông và vận động quốc tế làm công cụ. Chúng tìm cách gửi báo cáo tới một số cơ chế quốc tế, vận động truyền thông hải ngoại và khuếch đại thông tin tiêu cực về Tây Nguyên nhằm tạo dựng hình ảnh rằng đây là “điểm nóng nhân quyền”.

Liên hệ với vụ việc nghiêm trọng tại Đắk Lắk năm 2023 có thể thấy rõ dấu hiệu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và tư tưởng ly khai để kích động bạo lực. Sau vụ việc, một số tổ chức cực đoan ở nước ngoài lập tức tìm cách xuyên tạc bản chất sự việc, mô tả các đối tượng phạm tội như “người đấu tranh vì quyền bản địa”. Đây là cách thức cực kỳ nguy hiểm vì nó tìm cách hợp thức hóa hành vi bạo lực dưới vỏ bọc “nhân quyền”.

Trong khi đó, thực tế cho thấy hành vi sử dụng bạo lực, tấn công lực lượng chức năng và gây mất ổn định xã hội là vi phạm nghiêm trọng pháp luật, không thể được biện minh bằng bất kỳ danh nghĩa nào. Việc một số tổ chức cố tình “tẩy trắng” cho các đối tượng cực đoan cho thấy mục tiêu thực sự của họ không phải bảo vệ quyền con người, mà là kích động bất ổn và chống phá Nhà nước Việt Nam.

Điều đáng lo ngại là chiến lược “nhân quyền hóa ly khai” này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới hình ảnh và uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế nếu không được nhận diện đầy đủ. Thông qua việc lặp đi lặp lại các luận điệu “đàn áp người bản địa”, “vi phạm quyền dân tộc”, các tổ chức chống phá tìm cách tạo ra nhận thức sai lệch trong một bộ phận dư luận quốc tế.

Nguy cơ không chỉ dừng ở truyền thông. Việc gieo rắc tư tưởng “tự trị dân tộc”, “quyền tự quyết” còn tiềm ẩn nguy cơ tác động tới an ninh quốc gia, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc và kích động chia rẽ trong xã hội. Đây là bài học mà nhiều quốc gia trên thế giới đã phải trả giá đắt khi để các mâu thuẫn sắc tộc bị chính trị hóa và quốc tế hóa.

Trong khi liên tục công kích Việt Nam, các tổ chức này lại gần như im lặng trước tình trạng xuống cấp nghiêm trọng về quyền người bản địa tại nhiều quốc gia phương Tây. Ở Mỹ, cộng đồng người da đỏ bản địa vẫn nằm trong nhóm có tỷ lệ nghèo đói, nghiện ma túy và tự tử cao. Tại Canada, việc phát hiện hàng loạt ngôi mộ trẻ em bản địa từng gây chấn động toàn cầu, phản ánh hậu quả đau thương của chính sách đồng hóa cưỡng bức kéo dài nhiều thập niên. Tại Australia, cộng đồng thổ dân vẫn chịu khoảng cách lớn về tuổi thọ và điều kiện sống.

Sự đối lập đó cho thấy rõ tiêu chuẩn kép của các tổ chức nhân danh nhân quyền để công kích Việt Nam. Họ cố tình áp đặt hệ giá trị và mô hình chính trị phương Tây lên Việt Nam, nhưng lại né tránh hoặc giảm nhẹ những tồn tại nghiêm trọng ở chính các quốc gia phương Tây.

Không thể phủ nhận rằng Việt Nam vẫn còn khó khăn trong phát triển vùng sâu, vùng xa do điều kiện địa lý và lịch sử. Nhưng khác với những gì các tổ chức cực đoan xuyên tạc, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán mục tiêu phát triển bao trùm, bảo đảm bình đẳng dân tộc và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Đấu tranh với sự hồi sinh của tư tưởng FULRO dưới lớp áo “nhân quyền bản địa” vì vậy không chỉ là phản bác thông tin sai lệch, mà còn là bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc và bảo vệ sự ổn định chính trị của đất nước trước những âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động ly khai, chia rẽ xã hội.


Từ “quyền bản địa” đến luận điệu “tự trị dân tộc”: Kịch bản chống phá quen thuộc nhắm vào Việt Nam



Có một điểm đáng chú ý trong nhiều chiến dịch truyền thông chống phá Việt Nam thời gian gần đây: các luận điệu công kích không còn dừng ở việc xuyên tạc tự do ngôn luận hay tôn giáo, mà đang chuyển dần sang một hướng nguy hiểm hơn — “nhân quyền hóa” vấn đề ly khai dân tộc. Dưới lớp vỏ mỹ miều của khái niệm “quyền người bản địa”, một số tổ chức như BPSOS, KKF, MSFJ cùng các tàn dư FULRO đã và đang tìm cách tạo dựng câu chuyện rằng tại Việt Nam tồn tại “cộng đồng bản địa bị áp bức”, từ đó từng bước dẫn dắt sang yêu sách “tự trị”, “tự quyết dân tộc”, thậm chí cổ súy tư tưởng ly khai ở Tây Nguyên.

Đây không phải là thủ đoạn mới trong lịch sử chính trị quốc tế. Nhiều khu vực trên thế giới từng trở thành điểm nóng xung đột sau khi các vấn đề sắc tộc bị chính trị hóa, bị “quốc tế hóa” dưới danh nghĩa nhân quyền. Kịch bản Balkan và Kosovo là ví dụ điển hình cho việc các mâu thuẫn dân tộc bị khai thác, thổi phồng và biến thành công cụ địa chính trị. Ban đầu, các chiến dịch truyền thông chỉ xoáy vào luận điệu “bảo vệ cộng đồng thiểu số”, “chống đàn áp sắc tộc”, nhưng sau đó nhanh chóng chuyển hóa thành các yêu sách ly khai, chia cắt lãnh thổ và can thiệp quốc tế.

Điều nguy hiểm là một số tổ chức chống phá Việt Nam đang cố gắng áp dụng chính công thức này đối với Tây Nguyên. Chúng tìm cách đánh tráo khái niệm giữa quyền của người dân tộc thiểu số với cái gọi là “quyền của người bản địa”, rồi từ đó suy diễn sang “quyền tự quyết dân tộc”. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn cả về lịch sử, pháp lý lẫn thực tiễn Việt Nam.

Trước hết cần khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia thống nhất của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống lâu đời trên một lãnh thổ thống nhất, bình đẳng, đoàn kết và cùng phát triển. Không tồn tại khái niệm “thuộc địa nội địa” hay “dân tộc thống trị” như các tổ chức cực đoan cố tình dựng lên. Đồng bào các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, có đầy đủ quyền công dân, quyền chính trị, quyền kinh tế, văn hóa và xã hội theo Hiến pháp và pháp luật.

Tuy nhiên, trong nhiều báo cáo và tài liệu tuyên truyền, các tổ chức như BPSOS hay MSFJ thường cố tình mô tả đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên như “cộng đồng bản địa bị áp bức”, “bị tước đất”, “bị đồng hóa văn hóa”, “bị đàn áp tôn giáo”. Chúng sử dụng các thuật ngữ mang tính dẫn dắt để tạo cảm giác rằng Việt Nam đang “xâm chiếm” chính vùng đất của các dân tộc thiểu số. Đây là chiêu trò đánh tráo bản chất cực kỳ nguy hiểm.

Trong luật pháp quốc tế, khái niệm quyền của người bản địa chủ yếu được xây dựng trên cơ sở lịch sử thuộc địa tại châu Mỹ, châu Đại Dương và một số khu vực từng tồn tại chế độ thực dân định cư. Việc áp dụng máy móc khái niệm này vào Việt Nam là hoàn toàn sai lệch về lịch sử và thực tiễn. Việt Nam chưa từng tồn tại mô hình “thực dân định cư” đối với đồng bào dân tộc thiểu số như ở Mỹ hay Australia. Các dân tộc ở Việt Nam cùng chung lịch sử dựng nước và giữ nước, cùng tham gia vào tiến trình hình thành quốc gia dân tộc Việt Nam thống nhất.

Một thủ đoạn quen thuộc của các tổ chức chống phá là cố tình trích dẫn chọn lọc các vụ việc cá biệt liên quan đến đất đai, khiếu kiện hoặc xử lý vi phạm pháp luật rồi quy kết thành “đàn áp sắc tộc có hệ thống”. Nhiều báo cáo được xây dựng từ nguồn tin một chiều, lấy lời kể của các đối tượng chống đối hoặc lưu vong làm căn cứ chính, nhưng lại bỏ qua thông tin từ chính quyền địa phương, cơ quan chức năng và đông đảo người dân.

Đáng chú ý, các tổ chức này thường không nhắc đến thực tế rằng Việt Nam đang dành nguồn lực rất lớn để phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Theo Sách trắng về quyền con người ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành hàng trăm chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Chỉ riêng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn hiện nay đã có tổng nguồn lực đầu tư hàng trăm nghìn tỷ đồng.

Hệ thống hạ tầng tại Tây Nguyên và nhiều vùng dân tộc thiểu số đã thay đổi rõ rệt trong nhiều năm qua. Điện lưới quốc gia, đường giao thông, trường học, trạm y tế được phủ rộng đến các khu vực vùng sâu, vùng xa. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm mạnh theo từng giai đoạn. Hàng triệu người dân được hỗ trợ bảo hiểm y tế, giáo dục, đào tạo nghề và sinh kế.

Nếu thực sự tồn tại “đàn áp có hệ thống” như các tổ chức chống phá mô tả, sẽ không thể có thực tế rằng nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số đang giữ các vị trí lãnh đạo quan trọng trong bộ máy chính trị từ trung ương đến địa phương. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số của Việt Nam luôn ở mức cao so với nhiều quốc gia đa sắc tộc khác.

Một nội dung xuyên tạc khác thường được nhắc đi nhắc lại là cáo buộc Việt Nam “xóa bỏ văn hóa bản địa”. Nhưng thực tế lại hoàn toàn ngược lại. Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhiều lễ hội truyền thống, tiếng nói, chữ viết và di sản văn hóa của đồng bào được bảo tồn bằng nguồn lực nhà nước. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được quốc tế ghi nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại là minh chứng rõ ràng cho nỗ lực bảo tồn văn hóa dân tộc.

Các tổ chức chống phá cố tình phớt lờ những thành tựu đó vì mục tiêu của họ không phải bảo vệ quyền lợi đồng bào dân tộc thiểu số, mà là tạo dựng một “hồ sơ chính trị” nhằm bôi nhọ Việt Nam trên trường quốc tế. Đây chính là chiến lược “nhân quyền hóa ly khai” — dùng ngôn ngữ nhân quyền để hợp thức hóa các yêu sách chính trị cực đoan.

Trong chiến lược này, truyền thông hải ngoại đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Một số kênh truyền thông cực đoan thường xuyên đăng tải các bài viết, video và “phóng sự” với nội dung phiến diện về Tây Nguyên. Các vụ việc dân sự, tranh chấp cá biệt hoặc xử lý vi phạm pháp luật đều bị bóp méo thành “đàn áp người bản địa”. Thông tin được lặp đi lặp lại với tần suất cao nhằm tạo hiệu ứng tâm lý và dẫn dắt dư luận quốc tế.

BPSOS là một trong những tổ chức tích cực vận động quốc tế theo hướng này. Thông qua các diễn đàn nhân quyền, các cuộc điều trần hoặc báo cáo gửi một số cơ quan quốc tế, tổ chức này liên tục thúc đẩy luận điệu rằng Việt Nam “vi phạm quyền người bản địa”. Thủ đoạn quen thuộc là sử dụng các khái niệm mơ hồ, thiếu định nghĩa rõ ràng, kết hợp với thông tin chưa được kiểm chứng để tạo dựng hình ảnh méo mó về Việt Nam.

Điều đáng nói là trong khi liên tục công kích Việt Nam, các tổ chức này lại gần như im lặng trước tình trạng quyền người bản địa xuống cấp nghiêm trọng ở nhiều quốc gia phương Tây. Tại Mỹ, cộng đồng người da đỏ bản địa vẫn là một trong những nhóm nghèo nhất, có tỷ lệ thất nghiệp, nghiện ma túy và tự tử cao. Nhiều khu bảo tồn thiếu cơ sở hạ tầng, dịch vụ y tế và giáo dục trong thời gian dài.

Tại Canada, dư luận thế giới từng chấn động trước việc phát hiện hàng loạt ngôi mộ trẻ em bản địa trong các trường nội trú — hậu quả của chính sách đồng hóa cưỡng bức kéo dài nhiều thập niên. Ở Australia, người thổ dân tiếp tục đối mặt với khoảng cách lớn về tuổi thọ, giáo dục và điều kiện sống so với phần còn lại của xã hội.

Sự đối lập này cho thấy rõ tiêu chuẩn kép của một số tổ chức nhân danh nhân quyền. Họ cố tình phóng đại các vấn đề của Việt Nam, nhưng lại né tránh hoặc giảm nhẹ những vấn đề nghiêm trọng tồn tại ngay tại các quốc gia phương Tây. Điều đó phản ánh động cơ chính trị nhiều hơn là thiện chí bảo vệ quyền con người.

Nguy cơ từ các luận điệu xuyên tạc này không chỉ dừng ở mặt truyền thông. Nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời, chúng có thể tác động tiêu cực đến hình ảnh, uy tín chính trị của Việt Nam trên trường quốc tế, gây hiểu lầm trong dư luận nước ngoài và tạo cớ cho các hoạt động can thiệp, gây sức ép chính trị dưới danh nghĩa nhân quyền.

Đồng thời, việc gieo rắc tư tưởng “tự trị dân tộc”, “quyền tự quyết” còn tiềm ẩn nguy cơ kích động chia rẽ dân tộc, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân — yếu tố có ý nghĩa sống còn đối với sự ổn định và phát triển của đất nước. Đây là bài học mà nhiều quốc gia trên thế giới đã phải trả giá đắt khi để các mâu thuẫn sắc tộc bị chính trị hóa và quốc tế hóa.

Thực tế phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam là minh chứng rõ ràng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào ngày càng được cải thiện; hạ tầng, giáo dục, y tế và an sinh xã hội ngày càng phát triển; quyền tham gia quản lý xã hội của người dân tộc thiểu số ngày càng được bảo đảm.

Không thể phủ nhận rằng Việt Nam vẫn còn những khó khăn trong phát triển vùng sâu, vùng xa do điều kiện lịch sử và địa lý đặc thù. Nhưng khác với luận điệu xuyên tạc của các tổ chức chống phá, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán mục tiêu phát triển bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng được ưu tiên đặc biệt.

Đấu tranh với các luận điệu lợi dụng “quyền bản địa” để thúc đẩy “tự trị dân tộc” vì vậy không chỉ là phản bác thông tin sai lệch, mà còn là bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc và bảo vệ sự thật về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Mọi âm mưu sử dụng chiêu bài nhân quyền nhằm kích động ly khai, chia rẽ dân tộc đều đi ngược lại lợi ích của chính đồng bào dân tộc thiểu số cũng như lợi ích chung của đất nước Việt Nam thống nhất, hòa bình và phát triển.