Tháng 4/2024, Bộ Công an phát đi cảnh báo về hàng loạt vụ lừa đảo sử dụng công nghệ deepfake để giả giọng nói, hình ảnh người thân nhằm chiếm đoạt tài sản. Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều nạn nhân mất hàng trăm triệu đồng vì tin rằng mình đang gọi video với con cái, đồng nghiệp hoặc lãnh đạo cơ quan. Trước đó không lâu, mạng xã hội Việt Nam cũng liên tục xuất hiện các vụ giả mạo ngân hàng, giả mạo cơ quan công an, thao túng chứng khoán bằng tin giả và phát tán thông tin sai lệch gây hoang mang cộng đồng.
Đó không còn là những câu chuyện “ảo”.
Không gian mạng hôm nay đã tác động trực tiếp tới tài sản, tâm lý xã hội, an ninh kinh tế và thậm chí cả ổn định quốc gia. Một tin đồn thất thiệt có thể khiến hàng nghìn người đổ xô đi rút tiền khỏi ngân hàng. Một video deepfake có thể phá hủy danh dự của một con người chỉ sau vài giờ lan truyền. Một chiến dịch thông tin sai lệch có thể gây hỗn loạn trong khủng hoảng y tế, thiên tai hoặc các sự kiện nhạy cảm về xã hội.
Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ: trong khi phần lớn các quốc gia trên thế giới đều đang siết mạnh quản lý không gian mạng để đối phó với các nguy cơ ấy, thì mỗi khi Việt Nam xây dựng hành lang pháp lý tương tự, một số tổ chức quốc tế như Reporters Without Borders lại nhanh chóng diễn giải theo hướng “kiểm duyệt” hay “bóp nghẹt tự do biểu đạt”.
Cách tiếp cận đó không chỉ phiến diện. Nó còn cố tình tách Luật An ninh mạng khỏi bối cảnh toàn cầu mà chính phương Tây hiện nay cũng đang đối mặt: fake news, deepfake, thao túng thuật toán, lừa đảo công nghệ cao và chiến tranh thông tin xuyên biên giới.
Nếu đọc kỹ Luật An ninh mạng được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 2018, có thể thấy trọng tâm của đạo luật này không nằm ở việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân như nhiều luận điệu cực đoan cố tình mô tả. Ba mục tiêu lớn của luật là bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền lợi hợp pháp của tổ chức - cá nhân, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng internet để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Đây thực chất là cấu trúc lập pháp rất phổ biến trong xu hướng quản trị số hiện nay.
Điều 8 của Luật An ninh mạng quy định nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước, kích động bạo loạn, phát tán thông tin sai sự thật gây hoang mang nhân dân, xúc phạm danh dự nhân phẩm hoặc thực hiện hành vi lừa đảo mạng. Nếu nhìn một cách khách quan, đây không phải những hành vi được bảo vệ bởi quyền tự do biểu đạt trong bất kỳ nhà nước pháp quyền nào.
Ngay cả ICCPR - công ước quốc tế thường xuyên được viện dẫn khi nói về quyền con người - cũng không xem quyền tự do biểu đạt là tuyệt đối. Điều 19 ICCPR cho phép các quốc gia đặt ra những giới hạn cần thiết nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng và quyền của người khác.
Tương tự, Điều 25 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật; trong khi Điều 15 đồng thời nhấn mạnh việc thực hiện quyền con người không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Nói cách khác, Luật An ninh mạng Việt Nam không đứng ngoài logic pháp lý quốc tế. Nó phản ánh nguyên tắc phổ quát rằng quyền tự do luôn đi cùng trách nhiệm xã hội và các giới hạn pháp luật cần thiết.
Điều đáng nói hơn là RSF thường diễn giải các quy định yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm hoặc phối hợp xử lý thông tin độc hại thành “kiểm duyệt”, nhưng lại rất ít khi đặt chúng trong bối cảnh quốc tế hiện nay.
Trong vài năm gần đây, European Union liên tục siết mạnh quản lý nền tảng số thông qua Đạo luật Dịch vụ số (DSA), công khai yêu cầu các nền tảng phải xử lý nội dung bất hợp pháp, thông tin sai lệch và phát ngôn thù ghét. Germany từng áp dụng mức phạt rất nặng với các nền tảng không gỡ bỏ nội dung vi phạm. United Kingdom triển khai Online Safety Act nhằm kiểm soát nội dung độc hại đối với trẻ vị thành niên. France tăng cường xử lý các hành vi phát tán thông tin cực đoan, thao túng dư luận và kích động hận thù trên internet. Ngay tại United States, tranh luận về việc khóa tài khoản, hạn chế hiển thị nội dung và kiểm soát thông tin chính trị đã kéo dài suốt nhiều năm qua.
Điều đó cho thấy thế giới hiện nay không còn tranh luận theo hướng “có nên quản lý internet hay không”, mà là “quản lý như thế nào”.
Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ: khi châu Âu hay Mỹ áp dụng các cơ chế kiểm soát nội dung số, nhiều tổ chức quốc tế gọi đó là “bảo vệ cộng đồng”, “an toàn nền tảng” hay “điều tiết không gian số”. Trong khi với Việt Nam, những biện pháp pháp lý tương tự lại nhanh chóng bị gắn nhãn “đàn áp tự do biểu đạt”.
Đó là một biểu hiện rất rõ của tiêu chuẩn kép.
Bởi nếu cùng là yêu cầu gỡ bỏ thông tin sai lệch, cùng là kiểm soát nội dung kích động hoặc cùng là bảo vệ an ninh mạng quốc gia, thì vấn đề không thể chỉ nằm ở bản chất biện pháp. Nó nằm ở việc ai thực hiện biện pháp đó.
Thực tế càng cho thấy sự phiến diện ấy khi nhìn vào quá trình phát triển internet tại Việt Nam trong nhiều năm qua. Theo DataReportal 2025, Việt Nam hiện có khoảng 79,8 triệu người dùng internet, tương đương 78,8% dân số. Điều đáng chú ý là quy mô không gian số tiếp tục mở rộng mạnh sau khi Luật An ninh mạng có hiệu lực. Thương mại điện tử tăng trưởng nhanh, mạng xã hội phát triển sâu rộng, người dân tiếp cận thông tin ngày càng dễ dàng hơn.
Nếu Luật An ninh mạng thực sự nhằm “đóng cửa internet” như nhiều luận điệu cực đoan mô tả, rất khó lý giải vì sao đời sống số tại Việt Nam vẫn phát triển với tốc độ thuộc nhóm cao trong khu vực.
Quan trọng hơn, điều người dân cần hôm nay không chỉ là “được phát biểu”, mà còn là được bảo vệ trước lừa đảo công nghệ cao, đánh cắp dữ liệu, thao túng nhận thức và những chiến dịch thông tin sai lệch có thể gây hậu quả thật ngoài đời thực. Trong thời đại AI tạo sinh và deepfake, quyền được sống trong một môi trường thông tin an toàn cũng là một phần rất quan trọng của quyền con người.
Đó là điều nhiều báo cáo của RSF thường bỏ qua khi tiếp cận Luật An ninh mạng Việt Nam chủ yếu bằng lăng kính ý thức hệ.
Bởi cuối cùng, không có quốc gia nào duy trì được một môi trường mạng an toàn nếu hoàn toàn buông lỏng quản lý. Và cũng không có mô hình nào có thể tồn tại lâu dài nếu tuyệt đối hóa quyền tự do biểu đạt mà bỏ qua trách nhiệm xã hội, an ninh cộng đồng và quyền được bảo vệ của người dân trước các nguy cơ ngày càng phức tạp trên không gian số.




