Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

Những cải cách và cam kết của Việt Nam trong ngành dệt may là không thể phủ nhận

 


Ngành dệt may Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc gia, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Tuy nhiên, ngày 5/9/2024, Bộ Lao động Hoa Kỳ đã đưa ra cáo buộc rằng Việt Nam đang sử dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức trong chuỗi cung ứng của ngành này. Điều này không chỉ gây ảnh hưởng đến danh tiếng của ngành dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế mà còn tạo ra sự hiểu lầm về các nỗ lực cải cách mạnh mẽ của Việt Nam trong những năm qua. Trong bài viết này, chúng ta sẽ phân tích chi tiết những biện pháp và cam kết của Việt Nam trong ngành dệt may, nhằm phản bác lại các cáo buộc thiếu cơ sở này.

Việt Nam đã trải qua nhiều cải cách quan trọng trong ngành dệt may, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập các hiệp định thương mại quốc tế như Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Những hiệp định này không chỉ yêu cầu các điều kiện về thuế và hải quan mà còn đòi hỏi Việt Nam tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về lao động, bao gồm bảo vệ quyền lao động, ngăn chặn lao động cưỡng bức và trẻ em.

Chính phủ Việt Nam đã phối hợp với các tổ chức quốc tế như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các đối tác thương mại để đưa ra những quy định mới, đảm bảo rằng các doanh nghiệp trong ngành dệt may phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động. Điều này bao gồm việc nâng cao tiêu chuẩn điều kiện làm việc, cải thiện mức lương tối thiểu và đảm bảo các quyền lợi an sinh xã hội cho người lao động.

Những cải cách này đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của hàng triệu lao động trong ngành dệt may và đảm bảo rằng ngành công nghiệp này tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quyền lợi lao động, đặc biệt là quyền lợi của trẻ em và người lao động dễ bị tổn thương.

Ngành dệt may tại Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp để giám sát chặt chẽ chuỗi cung ứng của mình nhằm đảm bảo không có hiện tượng lao động cưỡng bức hay lao động trẻ em. Các doanh nghiệp lớn trong ngành dệt may đã áp dụng các hệ thống quản lý hiện đại để theo dõi nguồn gốc nguyên liệu, đảm bảo rằng các sản phẩm của họ không vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế về lao động.

Các cơ chế kiểm tra định kỳ được áp dụng bởi các tổ chức kiểm toán độc lập, như Bureau Veritas hay SGS, nhằm đảm bảo rằng các nhà máy dệt may tại Việt Nam đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về lao động. Các tổ chức này thường xuyên thực hiện các cuộc thanh tra không báo trước tại các nhà máy và các cơ sở sản xuất để đảm bảo rằng không có bất kỳ trường hợp nào sử dụng lao động trẻ em hoặc lao động cưỡng bức.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đã hợp tác với các đối tác quốc tế trong việc tăng cường giám sát chuỗi cung ứng bông và các nguyên liệu dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong bối cảnh các cáo buộc về việc sử dụng lao động cưỡng bức trong ngành bông ở Trung Quốc, Việt Nam đã có những biện pháp kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo rằng các sản phẩm nhập khẩu vào Việt Nam không vi phạm các quy định về lao động.

Việt Nam không chỉ tự nỗ lực trong việc cải cách và nâng cao điều kiện lao động mà còn tích cực hợp tác với các tổ chức quốc tế để bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt là trẻ em. Việt Nam đã tham gia vào các chương trình do ILO và UNICEF tài trợ, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế.

Một trong những chương trình quan trọng nhất là chương trình "Better Work Vietnam", một sáng kiến hợp tác giữa ILO và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC). Chương trình này nhằm mục tiêu cải thiện điều kiện làm việc và bảo vệ quyền lợi của người lao động trong ngành dệt may. Thông qua các cuộc thanh tra và hỗ trợ kỹ thuật, chương trình đã giúp nhiều doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam nâng cao nhận thức về quyền lao động và triển khai các biện pháp bảo vệ người lao động khỏi lao động cưỡng bức.

Trước các cáo buộc từ Bộ Lao động Hoa Kỳ, Chính phủ Việt Nam đã lên tiếng bác bỏ những cáo buộc này, cho rằng chúng không phản ánh đúng thực trạng tại Việt Nam. Đại diện Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam khẳng định rằng Việt Nam luôn tuân thủ các quy định quốc tế về lao động và đã có nhiều biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn lao động trẻ em và cưỡng bức.

Chính phủ Việt Nam cũng nhấn mạnh rằng các cáo buộc từ phía Hoa Kỳ cần phải dựa trên cơ sở khoa học và các bằng chứng rõ ràng, thay vì chỉ dựa vào các suy đoán hoặc thông tin chưa được kiểm chứng. Việt Nam đã mời các tổ chức quốc tế đến giám sát và đánh giá tình hình lao động tại các doanh nghiệp trong nước, nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc đánh giá.

Ngành dệt may Việt Nam đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trên thị trường toàn cầu, đặc biệt là trong bối cảnh các nền kinh tế đang chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong việc cải thiện điều kiện lao động và bảo vệ quyền lợi của người lao động, ngành dệt may Việt Nam đang xây dựng một hình ảnh minh bạch và bền vững trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, các cáo buộc từ Bộ Lao động Hoa Kỳ có thể gây ra những tác động tiêu cực đến uy tín của ngành công nghiệp này, làm giảm lòng tin của các đối tác thương mại quốc tế. Để khắc phục tình trạng này, Việt Nam cần tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, nâng cao tính minh bạch trong các quy trình sản xuất và đảm bảo rằng các biện pháp bảo vệ quyền lợi lao động được thực thi một cách hiệu quả.

Ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong việc cải thiện điều kiện lao động và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế về lao động. Các cáo buộc từ Bộ Lao động Hoa Kỳ không phản ánh đầy đủ các nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi lao động, đặc biệt là trong việc phòng chống lao động trẻ em và cưỡng bức. Việt Nam cần tiếp tục thực hiện các biện pháp cải cách và hợp tác quốc tế để bảo vệ uy tín của ngành dệt may trên thị trường quốc tế.

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2024

Việt Nam và hệ thống pháp luật nghiêm ngặt trong bảo vệ quyền trẻ em và lao động

 


Việt Nam, với lịch sử phát triển kinh tế nhanh chóng trong những thập kỷ qua, đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất hàng đầu trong lĩnh vực dệt may và các ngành công nghiệp liên quan. Tuy nhiên, ngày 5/9/2024, Bộ Lao động Hoa Kỳ đã đưa ra cáo buộc rằng Việt Nam sử dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức trong 17 ngành hàng, bao gồm bông và chuỗi cung ứng dệt may. Điều này đã gây nên nhiều tranh cãi và lo ngại về tính chính xác của cáo buộc. Với những gì đã được Việt Nam thực hiện trong việc xây dựng một hệ thống pháp lý chặt chẽ để bảo vệ quyền trẻ em và lao động, những cáo buộc này cần được xem xét kỹ lưỡng và phản bác lại dựa trên thực tế.

Trước hết, cần phải nhìn nhận rằng Việt Nam không hề bỏ ngỏ vấn đề lao động trẻ em. Quốc gia này đã tham gia và phê chuẩn nhiều công ước quốc tế quan trọng liên quan đến lao động trẻ em, bao gồm Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về độ tuổi lao động tối thiểu (Công ước số 138) và Công ước về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (ILO số 182). Điều này cho thấy Việt Nam luôn coi trọng việc bảo vệ trẻ em trước các nguy cơ lao động, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp lớn như dệt may.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đã tích hợp các tiêu chuẩn quốc tế này vào hệ thống pháp luật của mình. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định rõ rằng độ tuổi tối thiểu để tham gia lao động là 15 tuổi, và nghiêm cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 18 tuổi trong các công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc độc hại. Hơn nữa, luật này cũng yêu cầu các doanh nghiệp phải tuân thủ quy định về giờ làm việc, điều kiện lao động và bảo vệ sức khỏe cho người lao động, bao gồm cả những lao động trẻ tuổi.

Việc áp dụng các quy định này không chỉ thể hiện cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức lao động nguy hiểm, mà còn cho thấy một hệ thống giám sát và xử lý vi phạm đang hoạt động mạnh mẽ. Các cơ quan chức năng như Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thường xuyên tiến hành kiểm tra các doanh nghiệp để đảm bảo rằng các quy định này được tuân thủ chặt chẽ. Nếu phát hiện vi phạm, các doanh nghiệp sẽ bị phạt nặng, và trong nhiều trường hợp, phải ngừng hoạt động.

Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng một hệ thống pháp lý nghiêm ngặt, Việt Nam còn chủ động hợp tác với các tổ chức quốc tế để thực hiện các chương trình nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em và người lao động. Một ví dụ tiêu biểu là sự hợp tác của Việt Nam với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trong việc triển khai các dự án liên quan đến phòng chống lao động trẻ em. Thông qua các dự án này, ILO và Chính phủ Việt Nam đã tiến hành các hoạt động nâng cao nhận thức cho người lao động, các nhà quản lý doanh nghiệp và các cơ quan thực thi pháp luật về tầm quan trọng của việc bảo vệ trẻ em khỏi lao động cưỡng bức.

Các chương trình này cũng nhằm mục tiêu hỗ trợ các gia đình nghèo và trẻ em dễ bị tổn thương, giúp họ có cơ hội tiếp cận giáo dục và các dịch vụ xã hội cần thiết để không phải rời bỏ trường học để đi làm việc sớm. Trong những năm qua, các tổ chức như UNICEF cũng đã ghi nhận rằng Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng trong việc giảm tỷ lệ lao động trẻ em và cải thiện điều kiện sống cho các nhóm trẻ em dễ bị tổn thương.

Các nỗ lực này đã được công nhận rộng rãi trên trường quốc tế. Theo báo cáo của ILO và UNICEF, Việt Nam đã thể hiện một cam kết mạnh mẽ trong việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em và cưỡng bức. Các báo cáo này đều cho thấy rằng, mặc dù còn nhiều thách thức, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ quan trọng và đang trên con đường hoàn thiện hơn nữa các biện pháp bảo vệ lao động.

Việt Nam cũng không ngừng nỗ lực để đảm bảo rằng chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp lớn, bao gồm dệt may, luôn tuân thủ các quy định về lao động. Các doanh nghiệp lớn tại Việt Nam đã thiết lập các cơ chế kiểm toán nội bộ và độc lập để giám sát điều kiện làm việc và đảm bảo rằng không có lao động cưỡng bức hay trẻ em được sử dụng trong quá trình sản xuất.

Các hệ thống kiểm soát này không chỉ giúp nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ danh tiếng của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Việc sử dụng các công nghệ hiện đại, như truy xuất nguồn gốc, đã giúp các doanh nghiệp có thể kiểm soát toàn bộ quy trình sản xuất từ nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm cuối cùng, đảm bảo rằng tất cả các khâu đều tuân thủ các tiêu chuẩn về lao động.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may lớn tại Việt Nam thường xuyên phải đối mặt với các cuộc kiểm tra không báo trước từ các tổ chức quốc tế và các đối tác thương mại. Những cuộc kiểm tra này nhằm đảm bảo rằng các quy định về quyền lợi lao động được thực thi nghiêm ngặt. Các doanh nghiệp không tuân thủ các tiêu chuẩn này có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng quốc tế, điều này tạo ra một động lực mạnh mẽ cho việc tuân thủ các quy định.

Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định cam kết mạnh mẽ của mình trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, đặc biệt là lao động trẻ em. Các chính sách và chương trình của Chính phủ không chỉ tập trung vào việc xây dựng một môi trường pháp lý chặt chẽ mà còn hướng tới việc nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền trẻ em.

Việt Nam nhập khẩu bông 70% sản lượng từ Tân Cương, Bộ Lao động Mỹ lấy căn cứ ở đâu?


Ngày 5/9/2024, Bộ Lao động Hoa Kỳ đã đưa ra cáo buộc rằng Việt Nam sử dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức trong 17 ngành hàng, trong đó có ngành bông và chuỗi cung ứng dệt may liên quan đến nguồn cung từ Trung Quốc. Tuy nhiên, các cáo buộc này, nhất là nguồn cung bông từ Trung Quốc có vẻ như dựa trên số liệu cũ kỹ, thiếu cơ sở.

Ngay lập tức thông tin trên được các trang thiếu thiện chí, hoặc hay chống phá Nhà nước Việt Nam như Việt tân khai thác, giật tít rất "phấn chấn" như thể Bộ Lao động Mỹ đã "bắt thóp" và chuẩn bị đưa Việt Nam vào danh sách trừng phạt kinh tế là một thành công của họ vậy.



Trên thực tế, việc Bộ Lao động Hoa Kỳ trong cáo buộc đã đề cập đến việc Việt Nam nhập khẩu nguyên liệu từ Trung Quốc, khẳng định 70% sản lượng hàng dệt có chứa bông từ Tân Cương, Trung Quốc không biết dựa trên cơ sở nào. Có lẽ là dựa trên con số 70% lượng nguyên liệu ngành may mặc Việt Nam nhập từ Trung Quốc từ nhiều năm trước chăng? 

Theo thống kê mới nhất, lượng bông Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc rất thấp so với các thị trường khác, lượng chủ yếu nhập khẩu từ Brazil, Mỹ, Úc, Ấn Độ.

Cụ thể, theo số liệu mới nhất từ Tổng cục Thống kê (GSO), tháng 6/2024 Việt Nam nhập khẩu 110.000 tấn bông từ thế giới với kim ngạch 225 triệu USD. Brazil là thị trường có lượng bông nhập khẩu lớn nhất với 216.767 tấn, tăng tới 158% so với cùng kỳ năm trước. Đứng sau là Mỹ với 190.765 tấn, giảm 12% YoY; Australia với 94.017 tấn, giảm 12% YoY; Ấn Độ với 50.988 tấn, tăng 123% YoY... Lượng nhập khẩu bông từ Hàn Quốc giảm sâu 72% YoY, từ 1.168 tấn xuống còn 324 tấn; Đài Loan giảm 64%, còn 15 tấn... Lượng bông nhập khẩu từ Trung Quốc cũng giảm 29% YoY, còn 76 tấn.

Tham khảo https://mekongasean.vn/luong-giam-nhung-gia-nhap-khau-bong-tu-trung-quoc-van-cao-nhat-30921.html

 Đó là số liệu phản ánh về mặt nguồn nguyên liệu nhập từ thị trường Trung Quốc, chưa nói đến bông nhập khẩu từ Trung Quốc có phải từ Tân Cương hay không lại là chuyện khác.

Đó là chưa kể, báo cáo v à quy kết của Bộ Lao động Mỹ không cung cấp đủ bằng chứng cụ thể về việc Việt Nam trực tiếp vi phạm các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Cần phải hiểu rằng chuỗi cung ứng dệt may là một hệ thống phức tạp, liên quan đến nhiều quốc gia và doanh nghiệp trên toàn cầu. Các sản phẩm nguyên liệu như bông có thể qua nhiều khâu sản xuất và trung gian trước khi đến Việt Nam, điều này làm cho việc xác định nguồn gốc lao động cưỡng bức trở nên khó khăn hơn.

Dệt may Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp quan trọng nhất của đất nước, không chỉ đóng góp lớn vào nền kinh tế mà còn là ngành thu hút nhiều lao động. Tuy nhiên, để đảm bảo rằng chuỗi cung ứng của ngành này không liên quan đến lao động trẻ em hoặc cưỡng bức, Việt Nam đã triển khai nhiều sáng kiến và chính sách nhằm tăng cường giám sát và kiểm soát.

Theo báo cáo của ILO, Việt Nam đã thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và công nhân về quyền lao động và điều kiện làm việc an toàn. Các doanh nghiệp dệt may lớn tại Việt Nam thường xuyên phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm việc kiểm tra về điều kiện lao động thông qua các cơ chế như kiểm toán xã hội và kiểm tra không báo trước.

Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam đã hợp tác với các tổ chức quốc tế và quốc gia để cải thiện điều kiện làm việc trong các nhà máy. Điều này bao gồm việc xây dựng các chương trình đào tạo cho người lao động về quyền lao động, quyền được bảo vệ khỏi lao động cưỡng bức và lao động trẻ em.

Việt Nam đã cam kết thực hiện các quy trình kiểm soát nguồn cung để ngăn chặn việc sử dụng lao động cưỡng bức trong chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng sử dụng các công nghệ hiện đại để theo dõi và quản lý chuỗi cung ứng, đảm bảo rằng các sản phẩm của họ tuân thủ các quy định quốc tế về lao động.

Khó biết nói gì hơn về đánh giá này của Bộ Lao động Mỹ. Có vẻ như mọi phán quyết của họ đều dựa trên cảm tính, bất chấp nó có thể gây nhiều thiệt hại đến người lao động, doanh nghiệp Việt Nam.

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2024

Dẫn độ tên khủng bố Y Quynh Bdap về Việt Nam có gì mà “kinh hoàng và vô lý”?

 


Tổ chức Cơ đốc giáo Quốc tế (ICC) và các nhóm “nhân quyền” bày tỏ quan ngại về việc Tòa án Hình sự Bangkok ra phán quyết cho phép dẫn độ “nhà hoạt động nhân quyền” Y Quynh Bdap về Việt Nam. Tổ chức này cho rằng quyết định của Tòa án Hình sự Bangkok là “kinh hoàng và vô lý”, đồng thời yêu sách chính phủ Thái Lan không dẫn độ Y Quynh Bdap vì ông ta có nguy cơ bị đàn áp ở quê nhà. Bàn về cái gọi là  “sự quan ngại” này  và yêu cầu “không dẫn độ Y Quynh Bdap về Việt Nam” là đòi hỏi phi lý, phi pháp, phi nhân đạo.

Thứ nhất, hành động mạt sát, xúc phạm, cũng như can thiệp vào phán quyết cơ quan tư pháp cho thấy, những tổ chức mang danh đấu tranh hay bảo vệ nhân quyền này tự cho mình đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật. Việc đòi chính phủ Thái Lan phải xem xét lại quyết định của Tòa án cho thấy họ xem thường và chà đạp lên chính quan điểm “tam quyền phân lập” và tư pháp độc lập mà họ vôn giương cao lâu nay, xem đó như ưu điểm của chế độ tư bản, xem đó mới là tiêu chuẩn đảm bảo công lý chiến thắng cường quyền, bla, bla…

Thứ hai, hành vi của họ cho thấy họ nhân danh nhân quyền, bảo vệ cho Y Quynh Bdap nhưng trà đạp nên những nạn nhân vụ khủng bố kinh hoàng và man rợ tại Đăk Lắk, cản trở những nạn nhân đó đi đòi công lý?

Cần phải thấy tội trạng của Y Quynh Bdap là rất rõ ràng. Cách đây hơn một năm trước, vụ tấn công khủng bố đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại 2 xã Ea Tiêu và Ea Ktur, thuộc huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk đã khiến 9 người thiệt mạng, 2 người bị thương và phá hủy tài sản trị giá hơn 2.5 tỷ đồng của Nhà nước và Nhân dân. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tố tụng đã có đủ căn cứ kết luận, vụ tấn công này có sự chỉ đạo, tiếp tay của Y Quynh Bdap, một trong những người đứng đầu tổ chức khủng bố Người Thượng vì Công lý (MSFJ). Đây là đối tượng có lịch sử vi phạm pháp luật hình sự tại Việt Nam, đã vượt biên sang nước ngoài sinh sống.

Vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 6 năm 2023 tại Đắk Lắk, được xác định là một hành động khủng bố có tổ chức, gây ra bởi các đối tượng có hành vi manh động và man rợ. Các cơ quan tố tụng tỉnh Đắk Lắk đã kết luận rằng vụ tấn công này được chỉ đạo từ bên ngoài, với kẻ cầm đầu là Y Quynh Bdap, người đã thành lập tổ chức khủng bố Người Thượng vì Công lý. Thông tin từ cơ quan An ninh điều tra cho biết: Y Quynh Bdap đã lên kế hoạch từ năm 2017, qua việc móc nối, lôi kéo, và tuyển mộ lực lượng. Trong quá trình điều tra, nhiều đối tượng tham gia vụ tấn công đã khai nhận vai trò của Y Quynh Bdap, trong việc chỉ đạo và xúi giục họ thực hiện các hành vi tàn bạo này. Y Quynh Bdap, còn yêu cầu các đối tượng quay video và chụp ảnh các hoạt động tấn công để tuyên truyền ra quốc tế.

Đáng chú ý, Y Quynh Bdap đã từng bị bắt giữ vào năm 2012 vì vi phạm pháp luật nhưng được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự do chính sách khoan hồng của Việt Nam. Tuy nhiên, sau khi được tha thứ, Y Quynh Bdap tiếp tục thực hiện các hành vi phạm pháp, vượt biên trái phép sang Thái Lan, và tiếp tục lãnh đạo tổ chức khủng bố MSFJ, dẫn đến vụ tấn công đẫm máu vào ngày 11 tháng 6 năm 2023. Vào tháng 1-2024, Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên án Y Quynh Bdap 10 năm tù với tội danh “Khủng bố”, và quyết định truy nã đặc biệt đã được ban hành đối với Y Quynh Bdap.

Thứ ba, phán quyết của Tòa án hình sự Thái Lan tuân thủ theo hiệp định đã ký kết giữa các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của Vương quốc Thái Lan phải phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm: tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác…  Y Quynh Bdap kẻ đã lĩnh án 10 năm tù với tội danh “khủng bố” và đang có lệnh truy nã đặc biệt. Đối chiếu các quy định có thể thấy quyết định của Tòa án Hình sự Bangkok cho phép dẫn độ “nhà hoạt động nhân quyền” Y Quynh Bdap về Việt Nam là hoàn toàn đúng luật pháp quốc tế và những thỏa thuận mà hai nước đã ký kết, đặc biệt là Hiệp định giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan về chuyển giao người bị kết án phạt tù và hợp tác thi hành án hình sự.

Qua vụ việc này phươi bày bản chất của những cá nhân, tổ chức chuyên đội lốt dân chủ, nhân quyền để can thiệp và công việc nội bộ của nước khác, tiếp tay cho các đối tượng phản động gia tăng hoạt động chống phá Việt Nam. Nhưng Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn đề cao cảnh giác kịp thời đấu tranh không để chúng tự tung tự tác can thiệp vào công việc nội bộ nước mình, dung túng, bao che cho đối tượng vi phạm pháp luật./.

Cáo buộc của Bộ Lao động Hoa Kỳ: phản ánh thiếu khách quan về nỗ lực của Việt Nam!

 

Ngày 5/9/2024, Bộ Lao động Hoa Kỳ đã đưa ra cáo buộc rằng Việt Nam sử dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức trong 17 ngành hàng, trong đó có ngành bông và chuỗi cung ứng dệt may liên quan đến nguồn cung từ Trung Quốc. Tuy nhiên, các cáo buộc này dựa trên số liệu cũ, nhiều vấn đề còn gây tranh cãi, chưa thống nhất trong nhìn nhận giữa quyền lao động trẻ em và cưỡng bức lao động trẻ em; đồng thời, quy kết còn thiếu cơ sở vững chắc khi không xem xét đầy đủ các nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động, cũng như  đánh giá khách quan về Việt Nam nhập khẩu bông từ Tân Cương, Trung Quốc.



Thứ nhất, Việt Nam đã và đang tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan bảo vệ quyền lợi người lao động nói chung, trẻ em nói riêng

Việt Nam đã ký kết và phê chuẩn nhiều công ước quốc tế quan trọng liên quan đến quyền trẻ em và lao động cưỡng bức, bao gồm Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về độ tuổi lao động tối thiểu (Công ước số 138) và Công ước về cấm lao động cưỡng bức (Công ước số 29). Việt Nam cũng đã có những quy định pháp lý nghiêm ngặt về độ tuổi lao động, trong đó cấm tuyệt đối việc sử dụng lao động trẻ em dưới 15 tuổi trong các công việc nặng nhọc, nguy hiểm. Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam còn triển khai nhiều biện pháp mạnh mẽ để xử lý các trường hợp vi phạm về lao động cưỡng bức.

Luật Lao động sửa đổi của Việt Nam cũng quy định rõ các biện pháp bảo vệ trẻ em khỏi bị lạm dụng lao động. Các doanh nghiệp vi phạm các quy định về độ tuổi lao động sẽ bị phạt nặng, và các cơ quan chức năng thường xuyên tiến hành các cuộc thanh tra để đảm bảo tuân thủ pháp luật.

Thứ hai, Việt Nam đã triển khai nhiều sáng kiến và chính sách nhằm tăng cường giám sát và kiểm soát lao động trẻ em hoặc cưỡng bức, nhất là liên quan ngành dệt may.

Dệt may Việt Nam là một trong những ngành công nghiệp quan trọng nhất của đất nước, không chỉ đóng góp lớn vào nền kinh tế mà còn là ngành thu hút nhiều lao động. Tuy nhiên, để đảm bảo rằng chuỗi cung ứng của ngành này không liên quan đến lao động trẻ em hoặc cưỡng bức, Việt Nam đã triển khai nhiều sáng kiến và chính sách nhằm tăng cường giám sát và kiểm soát.

Theo báo cáo của ILO, Việt Nam đã thực hiện các chương trình nâng cao nhận thức cho các doanh nghiệp và công nhân về quyền lao động và điều kiện làm việc an toàn. Các doanh nghiệp dệt may lớn tại Việt Nam thường xuyên phải tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm việc kiểm tra về điều kiện lao động thông qua các cơ chế như kiểm toán xã hội và kiểm tra không báo trước.

Ngoài ra, Chính phủ Việt Nam đã hợp tác với các tổ chức quốc tế và quốc gia để cải thiện điều kiện làm việc trong các nhà máy. Điều này bao gồm việc xây dựng các chương trình đào tạo cho người lao động về quyền lao động, quyền được bảo vệ khỏi lao động cưỡng bức và lao động trẻ em.

Hơn nữa, Việt Nam đã cam kết thực hiện các quy trình kiểm soát nguồn cung để ngăn chặn việc sử dụng lao động cưỡng bức trong chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng sử dụng các công nghệ hiện đại để theo dõi và quản lý chuỗi cung ứng, đảm bảo rằng các sản phẩm của họ tuân thủ các quy định quốc tế về lao động.

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực đáng kể trong việc ngăn chặn và loại bỏ lao động trẻ em. Chính phủ đã xây dựng các chương trình quốc gia nhằm xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em, đặc biệt trong các khu vực nông thôn và các ngành công nghiệp có nguy cơ cao như nông nghiệp và dệt may. Các chương trình này bao gồm việc cung cấp giáo dục miễn phí cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em từ các gia đình khó khăn, nhằm giảm nguy cơ trẻ em bị ép buộc làm việc sớm.

Các biện pháp phòng ngừa và can thiệp của Việt Nam đã được các tổ chức quốc tế công nhận, bao gồm cả Tổ chức Lao động Quốc tế và UNICEF. Báo cáo của các tổ chức này đều ghi nhận rằng Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc giảm tỷ lệ lao động trẻ em và bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong những năm gần đây.

Chính phủ Việt Nam luôn khẳng định cam kết của mình trong việc bảo vệ quyền lợi lao động, đặc biệt là trẻ em và người lao động trong chuỗi cung ứng. Việt Nam đã và đang tiếp tục hợp tác với các tổ chức quốc tế để cải thiện điều kiện lao động và đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang tăng cường giám sát và kiểm soát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu, nhằm ngăn chặn mọi hình thức vi phạm quyền lao động.

Các cáo buộc của Bộ Lao động Hoa Kỳ về việc Việt Nam sử dụng lao động trẻ em và lao động cưỡng bức trong ngành dệt may là thiếu cơ sở, nếu không muốn nói là tù mù, võ đoán và không phản ánh đúng thực tế tại Việt Nam. Thay vì dựa trên các cáo buộc không có cơ sở cụ thể, các bên nên tăng cường đối thoại và hợp tác để tìm ra giải pháp hiệu quả hơn trong việc giải quyết vấn đề lao động toàn cầu.


 

Thứ Sáu, 4 tháng 10, 2024

Khôi hài trào lưu phản đối phán quyết dẫn độ tên khủng bố về Việt Nam

 


 

Ngày sau khi Tòa án hình sự Thái Lan ra phán quyết  dẫn độ về Việt Nam đối với ông Y Quynh Bdap”, các đài RFA, VOA, Việt tân… lập tức giật tít, công kích quyết định này, huy động “đội quân” tổ chức nhân quyền la ó phản đối. Việt tân rên la “Quốc tế lo ngại về phán quyết dẫn độ nhà hoạt động người Thượng Y Quynh BDap theo yêu cầu từ Việt Nam. Thailand cần biết rằng ông Y Quynh thà ở tù bên Thái nhưng thề không chịu về ở Việt Nam”. VOA vội vàng dẫn lời 3 tổ chức nước ngoài với tiêu đề Tòa án Thái Lan ra lệnh dẫn độ Y Quynh Bdap bất chấp phản đối của các nhóm nhân quyền” và “Các nhóm nhân quyền phản đối việc tòa Thái Lan quyết định dẫn độ Y Quynh Bdap” nhai lại phản đối của các tổ chức nhân quyền trước và sau phiên tòa để công kích quyết định này là “bất chấp dư luận quốc tế phản đối”. RFA nhai lại lời đe dọa của đại diện tổ chức HRW “Y Quynh Bdap sẽ gặp nguy hiểm thực sự nếu bị trả về Việt Nam”, “Chính quyền Thái Lan nên ngay lập tức thả người tị nạn và ủng hộ tự do tôn giáo nổi tiếng này. Việc trả anh ta về Việt Nam sẽ vi phạm nghĩa vụ của Thái Lan theo luật pháp Thái Lan và luật pháp quốc tế”….







Có thể thấy, bất chấp hậu quả vụ án khủng bố đã rõ ràng, dư luận người dân Việt Nám nói chung, Đắk Lắk nói riêng phẫn nộ ra sao. Bất chấp phiên tòa với bản án công khai, các lời khai của bị cáo chứng minh rõ ràng bản chất hành vi tổ chức, kích động, xúi giục vụ khủng bố của Y Quynh Bdap, dẫn đến đối tượng bị kết án 10 năm tù và truy nã đặc biệt. Bất chấp việc Tòa án hình sự Thái Lan đã diễn ra nhiều phiên xem xét rõ chứng cứ, vi phạm của Y Quynh Bdap và nghe luật sư và các bên liên quan bào chữa cho Y Quynh Bdap, đã ra phán quyết dẫn độ đối tượng về Việt Nam trả giá của hành vi tổ chức khủng bố - loại tội phạm nghiêm trọng, cả thế giới lên án, không thỏa hiệp, thì lại vẫn có cơ quan báo chí quốc tế, tổ chức mang danh bảo vệ nhân quyền hống hách đòi “công lý”, đòi “tự do” cho kẻ tổ chức khủng bố.

Bức xúc, phẫn nộ, khiến nhiều facebooker Việt Nam bình luận ngay dưới trang fanpage của VOA, RFA như: “Chỉ có những kẻ sống trên xương máu của đồng loại thì mới phản đối về việc này thôi” (facebooker Nguyễn Hữu Nam), “ Đấy, người đồng bào đã thấy bộ mặt tráo trở của thằng Y Quynh Bdap chưa. Lúc nó xúi dục thì hứa này hẹn nọ. Đến lúc nó bị dờ đến thì phủi sạch. Nó ở nước ngoài nó xúi dục thì người bị thiệt là người hành động chứ nó ở nước ngoài ai làm gì được. Lật mặt hơn cả Lý Hải cơ mà. Hèn lắm,làm được mà đâu có dám nhận” (facebooker Chiến Trần). “mong rằng tương lai sẽ còn nhiều nước cho phép dẫn độ như này” (facebooker Nguyễn Tùng)…

Trong 30 ngày kháng án, chắc chắn Y Quynh Bdap và những thành phần hậu thuẫn cho y sẽ tìm cách vận động quốc tế, chính phủ các nước can thiệp Chính phủ Thái Lan gây sức ép với Tòa án xem xét lại phán quyết này. Chắc chắn giờ đây những kẻ từng hậu thuẫn, tổ chức các vụ khủng bố nhắm vào Việt Nam đang sống lưu vong ở các nước khác đang run sợ, lo ngại trước uy tín và ảnh hưởng, vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế, Việt Nam sẽ tích cwucj ký kết thỏa thuận tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, lúc đó ngày mà chúng phải trả giá không còn xa

 

 

 

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2024

Bàn về phán quyết dẫn độ Y Quynh Bdăp của Tòa án hình sự Thái Lan: quyết định đúng đắn!

 Sự việc Tòa án Hình sự Bangkok hôm 30/9 đã ra phán quyết dẫn độ Y Quynh Bdap về Việt Nam, ngay lập tức, VOA Tiếng Việt lên tiếng loan tin “…Tổ chức Người Thượng vì Công lý (MSFJ) cực lực phản đối quyết định của về việc dẫn độ ông Y Quynh Bdap theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam…MSFJ khẳng định ông Y Quynh Bdap không hề liên quan đến vụ nổ súng ở tỉnh Đắk Lắk hồi tháng 6/2023…”. Vậy vì sao Toà án hình sự đưa ra phán quyết nói trên và bản chất của tổ chức MSFJ là như thế nào?

Tổ chức Người Thượng vì công lý (MSFJ) là tổ chức phản động do chính đối tượng Y Quynh Bdap lập ra, tập hợp nhóm người dân tộc thiểu số tại Thái Lan có tư tưởng chống phá Nhà nước Việt Nam. Với vỏ bọc đấu tranh đòi công lý cho người Thượng ở Tây Nguyên, chúng đã xuyên tạc, bóp méo, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi ly khai, tự trị. Ngoài ra, chúng còn liên kết và nhận sự hậu thuẫn của một số tổ chức phản động khác, thường xuyên tuyên truyền, kích động chống phá, lôi kéo, móc nối các đường dây tổ chức đưa người dân tộc thiểu số trốn đi nước ngoài. Do vậy, việc tổ chức nói trên lên tiếng phản đối phán quyết của Tòa án Thái Lan khác nào hành động Chí phèo, la làng, ăn vạ khi không ai còn bảo kê nổi cho chúng nữa.

Còn bản thân Y Quynh Bdăp, trú tại buôn Cuê, xã Băng Adrênh, huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, trong gia đình có “truyền thống” chống phá Đảng và Nhà nước. Bản thân Y khi còn đang ngồi trên nghế nhà trường đã có tư tưởng chống phá chính quyền, thường xuyên liên lạc với FULRO lưu vong, lôi kéo mọi người tham gia, tuyên truyền chống phá Nhà nước. Mặc dù, được cơ quan chức năng giáo dục và cho hưởng sự khoan hồng. Nhưng Y vẫn “ngựa quen đường cũ” tiếp tục hoạt động chống phá. Trước sự xa lánh của của bà con buôn làng, hắn không còn con đường nào khác đã cùng vợ, con vượt biên sang Thái Lan.

Liên quan đến vụ khủng bố ngày 11/6/2023 tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Trước những tài liệu, chứng cứ thu thập được, đã chứng minh Y Quynh Bdăp có vai trò chính và chủ mưu. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan tố tụng đã có đủ căn cứ kết luận, vụ tấn công này có sự chỉ đạo, tiếp tay của Y Quynh Bdăp, người đứng đầu tổ chức khủng bố Người Thượng vì Công lý (MSFJ). Điều này đã được chính những đối tượng trực tiếp tham gia vụ khủng bố khai nhận, xin trích dẫn một số lời khai:

(1) Hwuen Êban, một trong những kẻ cầm đầu vụ khủng bố đã khai nhận: “ Từ năm 2018, Y Quynh đã liên lạc với Hwuen, chỉ đạo tuyên truyền, lôi kéo, tuyển mộ lực lượng, chuẩn bị cho việc tiến hành khủng bố”.

(2) Y Krong Phok, đối tượng tham gia vụ tấn công khủng bố ngày 11/06/2023, khai nhận: “Năm 2017 Y Quynh giao cho tôi đi tuyên truyền khắp nơi để tổ chức lại lính. Tôi chuẩn bị 2 khẩu súng hơi với 1,2 kg thuốc nổ”.

(3) Y Tim Niê, đối tượng cầm đầu nhóm tấn công UBND xã Ea Tiêu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk ngày 11/6/2023, khai nhận: “Tôi lấy con dao tôi đâm ông đó từ trên xuống dưới rất nhiều nhát, tôi không nhớ được”.

(4) Y Ba Bya, đối tượng tham gia vụ tấn công khủng bố ngày 11/6/2023, khai nhận: “Y Quynh đã chỉ đạo, xúi giục, chọn những trụ sở cơ quan nhà nước có ít người để dễ thực hiện, đồng thời chỉ đạo phải quay video diễn biến cuộc tấn công khủng bố, phá hoại, giết cán bộ gửi cho Y Quynh để tuyên truyền cho cộng đồng quốc tế biết can thiệp”. Y Ba Bya đã gửi hình ảnh về lực lượng khủng bố tập trung trong chòi rẫy cho Y Quynh trước ngày tấn công 11/6: “Y Quynh nói quay video hoặc là chụp ảnh gửi cho Y Quynh. Quay anh em trong chòi rẫy tập hợp. Quynh nói quay để gửi cho quốc tế biết”.

Từ những lời khai của các đối tượng phạm tội, họ đã bị Y Quynh Bdăp lôi kéo, dụ dỗ và hứa hẹn sẽ được cho tiền và tài sản sau khi thực hiện hành vi. Hầu hết các bị cáo đều có thái độ thái độ ăn năn, hối hận, đồng tình với cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk công bố là đúng người, đúng tội. Do đó, ngày 11/8/2023 cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố, ngày 14/8/2023 ra quyết định truy nã đặc biệt đối với Y Quynh Bdăp. Vậy nên khẳng định rõ ràng rằng Y Quynh Bdap phải chịu hình phạt một cách xác đáng, đúng người, đúng tội.

Nói về vụ việc đau xót này nhân dân các dân tộc Tây Nguyên bày tỏ: “Quá tàn ác! Không thể chấp nhận được” (Già Ka Să Ha Tang sinh năm 1949, thôn 1, xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng); “Mong muốn Nhà nước sớm trừng trị các đối tượng này nghiêm khắc theo quy định của pháp luật” (Già làng Y Pri Niê, sinh năm 1940, trú tại buôn Sút Mđưng, xã Cư Suê, huyện Cư Mgar, tỉnh Đắk Lắk);  “Giết bao nhiêu người cả cán bộ, cả người dân thường, rất man rợ, đau thương toàn dân. Cơ quan pháp luật xử như thế tôi thấy hợp lý, đồng bào rất là ủng hộ” (Bà Ami Bâng, buôn Kram, xã Ea Tiêu, Cư Kuin, Đắk Lắk)…

Dư luận quốc tế, nhiều quốc gia trên thế giới đã lên tiếng ủng hộ Việt Nam trong trong điều tra làm rõ vụ việc, xử lý triệt để các tổ chức, cá nhân đứng đằng sau vụ khủng bố ngày 11/6: Thủ tướng Campuchia Hun Sen đã lệnh cho lực lượng Cảnh sát và quân đội các tỉnh dọc biên giới với Việt Nam và một số địa phương tăng cường công tác an ninh, phối hợp với chính quyền Việt Nam tổ chức rà soát, truy tìm những nghi phạm có thể lẩn trốn từ Việt Nam sang để truy bắt, bàn giao cho phía Việt Nam xử lý, đồng thời cảnh báo các tổ chức, cá nhân tại Campuchia không được chứa chấp, dung túng cho những kẻ khủng bố.

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper khẳng định: “Tôi xin khẳng định rằng Mỹ không chấp nhận những gì xảy ra tại Đắk Lắk, cũng như phản đối bạo lực dưới mọi hình thức”, đồng thời ngài Đại sứ cũng nhấn mạnh “Mỹ cũng sẵn sàng hợp tác với Chính phủ Việt Nam bằng mọi cách cần thiết nhằm làm rõ sự việc và những kẻ đứng sau. Đây là thông điệp chúng tôi phát đi rất rõ ràng, đặc biệt là khi có thông tin về tổ chức đặt trụ sở tại Mỹ”.

Như vậy, Y Quynh Bdap đã lấy danh nghĩa hoạt động vì dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo để tuyên truyền, kích động bạo lực, phản động, khủng bố, là hành động phản bội Nhân dân, phản bội Tổ quốc cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế. Việc Y bị dẫn độ về Việt Nam để nhận hình phạt thích đáng được dư luận người Việt đánh giá cao. Công lý phải được thực thi.