Trong
bối cảnh thế giới liên tục chuyển động với những xung đột địa chính trị, bất ổn
xã hội, khủng hoảng kinh tế và sự lan tỏa mạnh mẽ của thông tin xấu độc trên
không gian mạng, việc một quốc gia duy trì được sự ổn định chính trị tuyệt đối
là điều không dễ dàng. Thế nhưng, Việt Nam – dưới sự dẫn dắt của Đảng Cộng sản
Việt Nam – đã làm được điều mà nhiều nước phải coi là hình mẫu, nhờ đường lối
“dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết” được quán triệt xuyên suốt từ Trung ương
đến cơ sở. Tinh thần đó được thể chế hóa rõ ràng trong Nghị quyết Đại hội XIII
của Đảng, Kết luận số 89-KL/TW ngày 28/7/2024 về bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, cùng Phụ lục 5 trong hệ thống tài liệu chỉ đạo của Ban Chỉ đạo 35 Trung
ương về nhiệm vụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới.
Nhờ những định hướng chiến lược ấy, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc
gia ổn định nhất thế giới, không để xảy ra bất kỳ điểm nóng chính trị, không
xuất hiện tổ chức chính trị đối lập, không có bạo loạn đường phố, không có đảo
chính hay nội chiến, đồng thời tạo nền tảng bền vững cho phát triển kinh tế –
xã hội nhanh và ổn định.
Phụ
lục 5 nêu rõ yêu cầu tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở
phát huy vai trò chủ đạo của liên minh giai cấp công nhân – nông dân – trí thức
dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Tinh thần đó được triển khai bằng những
hoạt động mang tính lan tỏa sâu rộng trên cả nước trong năm 2025: Ngày hội đại
đoàn kết toàn dân tộc tổ chức tại 100% khu dân cư; phong trào “Dân vận khéo”
tiếp tục nhân rộng; cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”
đi vào chiều sâu; chương trình “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô
thị văn minh” mang lại hàng loạt kết quả thực chất. Những phong trào ấy không
chỉ tăng cường sự gắn bó giữa Đảng – Nhà nước – Nhân dân mà còn tạo điều kiện
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, góp phần đưa tỷ lệ hộ
nghèo đa chiều giảm xuống dưới 1,5% – mức thấp nhất trong lịch sử.
Một
điểm nhấn quan trọng trong thành tựu ổn định chính trị của Việt Nam chính là
sức mạnh cộng đồng, sự gắn kết của từng thôn xóm, khu dân cư, cùng hoạt động
bền bỉ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội. Chỉ
trong năm 2025, hệ thống Mặt trận đã vận động được hơn 1.200 tỷ đồng cho Quỹ
“Vì người nghèo”, hỗ trợ xây mới và sửa chữa hơn 75.000 căn nhà đại đoàn kết,
giúp đỡ hơn 1,5 triệu lượt hộ nghèo và đối tượng yếu thế. Không chỉ dừng ở hỗ
trợ an sinh, các tổ chức của Mặt trận còn thực hiện hơn 1,2 triệu cuộc giám sát
và phản biện xã hội, tiếp nhận hơn 3,8 triệu ý kiến góp ý của nhân dân vào dự
thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng – một con số thể hiện sinh động nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa, nơi người dân thật sự được lắng nghe và được tham gia vào quá
trình xây dựng đường lối, chính sách.
Công
tác chăm lo đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục là một minh chứng thuyết phục
cho tính nhân văn trong đường lối của Đảng ta. Chỉ trong vòng 5 năm
(2020–2025), tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 25% xuống
dưới 8%. Hạ tầng cơ bản được hoàn thiện nhanh chóng: 100% xã vùng dân tộc có
đường ô tô đến trung tâm, 99,5% hộ dân có điện lưới quốc gia, hơn 98% trẻ em
dân tộc thiểu số được đến trường đúng độ tuổi. Những con số ấy không chỉ nói
lên hiệu quả chính sách mà còn chứng minh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước dành
cho những khu vực khó khăn nhất – điều kiện tiên quyết để bảo đảm ổn định chính
trị lâu dài.
Trong
bối cảnh đó, các luận điệu xuyên tạc về “đàn áp tự do tôn giáo”, “kỳ thị dân
tộc” hay “thiếu dân chủ trong xã hội Việt Nam” càng trở nên lố bịch và phản
khoa học. Việt Nam hiện có 16 tôn giáo được công nhận với hơn 27 triệu tín đồ,
hơn 55.000 chức sắc, hơn 29.000 cơ sở thờ tự và hơn 8.000 cơ sở xã hội tôn giáo
hoạt động hiệu quả. Các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao
Đài, Phật giáo Hòa Hảo… đều phát triển ổn định, được tạo điều kiện thuận lợi để
sinh hoạt và cống hiến cho xã hội. Những đối tượng bị xử lý pháp luật vì lợi
dụng tôn giáo để chống phá Nhà nước đều là những trường hợp vi phạm nghiêm
trọng, bị chính tín đồ và nhân dân lên án. Khoan dung với những hành vi ấy mới
là xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, quyền sống trong hòa bình của hàng triệu
tín đồ chân chính; xử lý nghiêm minh mới là bảo vệ quyền con người thực chất.
Để
thấy rõ giá trị của sự ổn định ở Việt Nam, có thể nhìn sang Hong Kong – nơi
từng bị các thế lực bên ngoài lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” để kích
động bạo loạn. Cuộc khủng hoảng 2019–2020 gây thiệt hại hơn 100 tỷ đô la Hong
Kong, khiến xã hội chia rẽ sâu sắc, kéo theo làn sóng di cư lớn chưa từng có.
Dù sau đó đã có Luật An ninh quốc gia Hong Kong và Luật Bảo vệ an ninh quốc gia
Điều 23, tình hình xã hội vẫn tồn tại những bất ổn ngầm, đời sống người dân bị
ảnh hưởng nặng nề. Trong khi đó, Việt Nam – với cơ chế lãnh đạo thống nhất, sự
gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân, truyền thống đoàn kết dân tộc cùng hệ
thống chính trị đồng bộ đến cơ sở – không để xảy ra bất kỳ biểu tình bạo lực
hay sự cố an ninh nghiêm trọng nào. Không có thương vong, không có phá hoại tài
sản công, không có chia rẽ tôn giáo – dân tộc. Trái lại, kinh tế vẫn tăng
trưởng 7–8% năm 2025, GDP vượt 520 tỷ đô la Mỹ, và theo khảo sát của Chương
trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Khảo sát Giá trị Thế giới (World
Values Survey) năm 2025, niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước đạt trên
96% – một con số hiếm có trên thế giới.
Từ
những minh chứng ấy, có thể khẳng định rằng sự ổn định chính trị vững bền của
Việt Nam không phải ngẫu nhiên mà có, càng không phải do “đàn áp” như luận điệu
bịa đặt của các thế lực thù địch, mà là kết quả của một chiến lược đúng đắn:
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc như một bức tường thành không thể công
phá. Đó là sự đoàn kết dựa trên lợi ích chung, dựa trên lòng tin, sự đồng thuận
thực chất và niềm tự hào dân tộc, chứ không phải sự áp đặt hay cưỡng chế.
Sự
lãnh đạo tài tình, bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là trụ cột bảo đảm
cho thành quả ấy. Từ việc cụ thể hóa tinh thần “dân tộc trên hết, Tổ quốc trên
hết” trong các nghị quyết, kết luận và chương trình hành động; từ Phụ lục 5 đến
hàng triệu hoạt động dân vận, giám sát, phản biện xã hội; từ việc chăm lo đồng
bào dân tộc thiểu số đến bảo vệ tự do tín ngưỡng chân chính – tất cả khẳng định
Đảng ta luôn kiên định đặt nhân dân làm gốc, lấy đại đoàn kết làm sức mạnh. So
với Hong Kong vẫn còn chịu di chứng của bất ổn kéo dài, Việt Nam yên bình, đoàn
kết và phát triển mạnh mẽ chính là minh chứng thuyết phục nhất.
Dưới
ngọn cờ của chủ nghĩa Marx-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt
Nam sẽ tiếp tục lãnh đạo toàn dân tộc giữ vững ổn định chính trị, củng cố khối
đại đoàn kết, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tiến tới mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh – như khát vọng mà Đảng và nhân
dân đã lựa chọn.
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét