Thứ Bảy, 1 tháng 11, 2025

Niềm tin của nhân dân – nền tảng tạo nên uy tín và sự chính danh vững bền của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Trong hơn 1 tháng qua, hơn 3 triệu ý kiến người dân góp ý cho các dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng! Một trong điểm nổi bật thành tựu 40 năm đổi mới được Văn kiện Đại hội XIV đúc kết: đó là nhờ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện nền dân chủ XHCN, mọi chính sách đều bắt nguồn từ nhu cầu, lợi ích của nhân dân và phục vụ nhân dân – xem đó là nền tảng tạo nên uy tín và sự chính danh vững bền của Đảng!

Đây cũng chính là sự giải đáp cho nhiều cho nhiều chuyên gia quốc tế theo dõi tình hình Việt nam, vì sao mô hình dân vận Việt Nam vượt trội so với nhiều nước phương Tây? Vì sao mọi quyết sách của Đảng đều được triển khai thống nhất từ trên đến dưới và quan trọng nhất là được nhân dân đồng tình ủng hộ? Một truyền thống được hình thành từ buổi đầu dựng Đảng và được nuôi dưỡng liên tục qua từng giai đoạn lịch sử, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kết tinh trong những tư tưởng bất hủ như “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, đã trở thành nền tảng cho mọi quyết sách lớn của Đảng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Những định hướng chiến lược được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội XIII, Kết luận số 78-KL/TW năm 2020, Quy định 214-QĐ/TW năm 2020 về tiêu chuẩn chức danh và quy hoạch cán bộ lãnh đạo, Chỉ thị 35-CT/TW năm 2023 về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV, đặc biệt là Kết luận số 118-KL/TW năm 2025 về đổi mới công tác dân vận trong giai đoạn mới, đã tạo nên bước chuyển mạnh mẽ, làm sâu sắc hơn mối quan hệ Đảng – dân, biến sự gắn bó ấy thành nguồn sức mạnh vô địch của chế độ ta.



Sự chuyển mình trong công tác dân vận thời gian qua không chỉ thể hiện qua tinh thần chính trị, mà được lượng hóa bằng những con số biết nói. Năm 2025, toàn hệ thống chính trị đã tiếp nhận và xử lý hơn 1,85 triệu ý kiến, kiến nghị của nhân dân thông qua Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, chính quyền địa phương và nền tảng định danh điện tử quốc gia VNeID; trong đó có tới 98,7% được giải quyết thỏa đáng – mức cao chưa từng có. Cùng với đó, hơn 2,6 triệu cuộc đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân được tổ chức rộng khắp theo Quy định 11-QĐ/TW năm 2021 cho thấy Đảng không chỉ lắng nghe dân bằng văn bản mà bằng cả hành động trực tiếp, với thái độ cầu thị và tinh thần trách nhiệm cao. Những vụ tồn đọng kéo dài qua nhiều năm tại Thủ Thiêm, Lộc Hưng, Đồng Tâm, Tiên Lãng đã được xử lý dứt điểm nhờ cơ chế đối thoại thẳng thắn, minh bạch, thể hiện rõ bản chất lấy dân làm trung tâm trong lãnh đạo của Đảng.

Không chỉ dừng lại ở các hoạt động tiếp nhận phản ánh, công tác dân vận còn tạo ra chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội. Hơn 1,4 triệu mô hình “Dân vận khéo” được triển khai tại toàn bộ xã, phường, thị trấn trên cả nước đã góp phần huy động nhân dân hiến hơn 28 triệu mét vuông đất mở đường giao thông nông thôn, xây dựng 120.000 nhà đại đoàn kết và hỗ trợ 2,1 triệu hộ thoát nghèo bền vững. Khi lòng dân đồng thuận, không có mục tiêu nào là không thực hiện được; đó cũng là minh chứng rõ nét nhất cho hiệu quả của đường lối dân vận trong thời kỳ mới.

Đặc biệt, công tác dân vận đã có bước tiến vượt bậc nhờ chuyển đổi số. Nền tảng VNeID với hơn 78 triệu tài khoản công dân cho phép người dân phản ánh trực tiếp đến cấp ủy và chính quyền bất cứ lúc nào, từ bất cứ đâu, rút ngắn thời gian xử lý xuống còn 11,5 ngày – thay vì hàng tháng như trước. Đây là dấu mốc thể hiện sự hòa quyện giữa công nghệ hiện đại và phương châm “lấy dân làm gốc”, biến công tác dân vận trở thành một hệ thống phản hồi nhanh, hiệu quả và minh bạch. Điều này góp phần quan trọng đưa chỉ số SIPAS (chỉ số hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan nhà nước) năm 2025 lên mức 94,8% – cao nhất từ trước đến nay. Đồng thời, chỉ số PAPI (chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh) cũng đạt 78,6/100 điểm, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức độ gắn bó Đảng – dân tốt nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc năm 2025.

Trong bối cảnh đó, những luận điệu xuyên tạc rằng Đảng “xa rời dân”, “độc đoán”, “không dân chủ” càng bộc lộ tính phi lý và thiếu thiện chí. Các thế lực thù địch thường lợi dụng một số vụ việc cá biệt để phóng đại, vu cáo, cố tình bỏ qua thực tế rằng chính Đảng ta đã chủ động chỉ đạo rà soát, kiểm tra, sửa sai, xin lỗi nhân dân, xử lý nghiêm cán bộ vi phạm theo Kết luận 118-KL/TW năm 2025. Nếu Đảng xa dân, không thể có hơn 96% nhân dân tin tưởng vào Đảng theo khảo sát độc lập của Khảo sát Giá trị Thế giới năm 2025; nếu Đảng xa dân, không thể có hàng triệu người tình nguyện hiến đất, đóng góp công sức cho các công trình dân sinh; càng không thể có chỉ số hài lòng gần 95% – một con số mà rất ít quốc gia đạt được. Chính sự thật đó đã tự khẳng định rằng dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng là dân chủ thực chất, nơi quyền làm chủ của nhân dân được bảo đảm bằng cơ chế, bằng luật pháp và bằng sự gương mẫu, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Khi đặt Việt Nam vào bức tranh so sánh quốc tế, bản chất ưu việt của mối quan hệ Đảng – dân càng hiện lên rõ nét. Pháp – quốc gia luôn tự nhận là “cái nôi của dân chủ” – trong giai đoạn 2018–2025 liên tục chìm trong sóng biểu tình bạo lực: phong trào “Áo vàng” gây thiệt hại hơn 15 tỷ đồng euro, hơn 12.000 người bị bắt và hàng nghìn người bị thương; các cuộc đình công phản đối cải cách lương hưu năm 2023–2024 khiến giao thông tê liệt, kinh tế đình đốn; năm 2025 lại nổ ra nhiều cuộc biểu tình liên quan đến nhập cư và lạm phát với hơn 1.200 cuộc tuần hành gây rối trật tự công cộng. Đây là hệ quả của sự xa cách giữa chính quyền và người dân, thiếu các cơ chế đối thoại tương tự như Việt Nam. Trong khi đó, mỗi năm nước ta tiếp nhận hàng triệu ý kiến phản ánh nhưng không xảy ra bạo loạn hay phá hoại vì mọi xung đột đều được xử lý bằng đối thoại, thuyết phục và giải pháp từ cơ sở – minh chứng cho hiệu quả của công tác dân vận được tổ chức chặt chẽ, đồng bộ và khoa học.

Sự khác biệt căn bản nằm ở bản chất của hệ thống chính trị. Ở Pháp, các đảng phái đại diện cho lợi ích cục bộ, dẫn đến xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội; còn tại Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, đặt mục tiêu đoàn kết, thống nhất lên trên mọi lợi ích riêng lẻ. Do đó, quan hệ Đảng – dân luôn được củng cố bằng những hành động thực chất, bằng những chính sách bảo đảm hài hòa lợi ích, tránh được tình trạng phân hóa, xung đột gay gắt như ở nhiều nước phương Tây.

Có thể khẳng định rằng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chính là kim chỉ nam thể hiện đầy đủ quan điểm xuyên suốt về vai trò của nhân dân trong mọi chủ trương, đường lối. Từ Kết luận 118-KL/TW đến hàng triệu cuộc đối thoại trực tiếp, từ chỉ số hài lòng kỷ lục đến hàng trăm nghìn căn nhà đại đoàn kết được dựng lên, tất cả đều chứng minh rằng Đảng thực sự lấy dân làm gốc – không phải bằng khẩu hiệu mà bằng việc làm cụ thể. Điều đó tạo nên sự ổn định chính trị – xã hội vững chắc, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia phát triển năng động và an toàn nhất khu vực.

Trong tương lai, quan hệ Đảng – dân sẽ tiếp tục là nền tảng bất biến, bảo đảm cho đất nước ta vững vàng trước những biến động phức tạp của thế giới. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Marx–Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, niềm tin của nhân dân sẽ mãi là điểm tựa để Đảng dẫn dắt đất nước tiến lên con đường dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét