Trải qua nhiều thế kỷ hình thành và phát triển, sức sống tâm linh và sự đa dạng tín ngưỡng đã trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng năm mươi tư dân tộc Việt Nam. Bất kỳ một công trình nghiên cứu hay báo cáo đánh giá nào muốn phản ánh trung thực tình hình nhân quyền của Việt Nam đều phải bắt đầu từ việc thấu hiểu thực tiễn sinh động đó, thay vì áp đặt những tiêu chí chính trị khiên cưỡng từ bên ngoài. Tuy nhiên, trong Báo cáo Nhân quyền và Dân chủ năm 2025 do Liên minh Châu Âu công bố, những đánh giá về Việt Nam tiếp tục rơi vào lối mòn phiến diện khi cố tình cắt xé thực tại, biến những hiện tượng đơn lẻ thành bức tranh tổng thể lệch lạc.
Đặt trong tiến trình đối chiếu với các báo cáo năm 2024 cũng như các chu kỳ công bố trước đây, có thể nhận thấy một sự dịch chuyển rõ rệt trong phương pháp tiếp cận của cơ quan lập quy Châu Âu. Nếu như trong các năm trước, các chỉ trích chủ yếu tập trung vào các quy định pháp lý nội địa hay quy trình thủ tục hành chính, thì ở tài liệu năm 2025, Liên minh Châu Âu đã gia tăng mức độ can thiệp bằng cách lồng ghép vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng vào các yêu cầu về hợp tác kinh tế, thương mại và chuyển đổi bền vững. Sự khác biệt này không đến từ sự thay đổi bản chất trong chính sách tín ngưỡng của Việt Nam, mà xuất phát từ ý đồ gia tăng áp lực ngoại giao, biến các tiêu chuẩn nhân quyền tự xưng thành điều kiện chính trị trong quan hệ đa phương. Những nhận định thiếu chuẩn xác này không chỉ làm mờ đi những nỗ lực thực chất của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tâm linh của nhân dân, mà còn gây ra những tác động tiêu cực, tổn hại đến hình ảnh đối ngoại và môi trường thu hút đầu tư. Nguy hiểm hơn, việc duy trì một lăng kính sai lệch như vậy đang dọn đường cho các lực lượng cơ hội chính trị ở nước ngoài lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn, hạ thấp uy tín ngoại giao của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.
Một hệ thống pháp luật thượng tôn nhân quyền phải lấy quy mô thụ hưởng thực tế của đại đa số quần chúng làm thước đo căn bản. Tại Việt Nam, sự phát triển mạnh mẽ của đời sống tôn giáo được chứng minh bằng những con số sinh động và minh bạch. Hiện nay, cả nước có trên hai mươi sáu triệu tín đồ, chiếm hơn hai mươi măm phần trăm dân số, thuộc mười sáu tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với hơn năm mươi mốt nghìn chức sắc, một trăm ba mươi tư nghìn chức việc và gần ba mươi nghìn cơ sở thờ tự. Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho các tổ chức, nhóm tín đồ, bao gồm cả người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, được thực hiện thuận lợi theo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Hàng năm, hàng nghìn lễ hội tâm linh lớn nhỏ từ Công giáo, Phật giáo, Hội thánh Tin lành đến Cao Đài, Hòa Hảo được tổ chức công khai, thu hút hàng triệu lượt người tham gia trong không khí tự do, an lành. Các tổ chức tôn giáo không chỉ tự do thực hiện các nghi lễ tâm linh mà còn tích cực tham gia vào các hoạt động bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục, đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của cộng đồng.
Thế nhưng, thay vì đánh giá quy mô đời sống tôn giáo của hàng triệu con người, Báo cáo năm 2025 của Liên minh Châu Âu lại chọn cách tiếp cận theo tư duy "đếm vụ tranh chấp". Phía Châu Âu đã nhặt nhạnh một vài sự việc mâu thuẫn đất đai mang tính dân sự liên quan đến cơ sở thờ tự, hoặc một vài trường hợp cá nhân vi phạm pháp luật hình sự bị xử lý để quy chụp thành "sự đàn áp tôn giáo có hệ thống". Việc đồng nhất các vi phạm pháp luật hành chính, pháp luật đất đai hoặc các hành vi lợi dụng danh nghĩa tín ngưỡng để xâm phạm an ninh quốc gia với quyền tự do tôn giáo là một sự đánh tráo khái niệm nghiêm trọng. Cần phải khẳng định rằng, trong một quốc gia pháp quyền, mọi công dân và tổ chức, không phân biệt niềm tin tâm linh, đều bình đẳng trước pháp luật. Việc cơ quan chức năng giải quyết các tranh chấp đất đai hay xử lý hành vi lợi dụng giáo lý để kích động chống phá là nhằm bảo vệ trật tự an toàn xã hội và bảo đảm chính quyền lợi hợp pháp của đại đa số tín đồ chân chính.
Trong khoa học xã hội và nghiên cứu pháp lý, một kết luận muốn đạt giá trị khách quan bắt buộc phải dựa trên phương pháp lấy mẫu đại diện chuẩn mực. Việc Liên minh Châu Âu chỉ căn cứ vào một vài vụ việc khiếu nại chưa qua thẩm tra độc lập để kết luận về tình hình tôn giáo của một quốc gia nghìn năm văn hiến là một sự đứt gãy hoàn toàn về phương pháp luận. Càng đáng lên án hơn khi cơ sở dữ liệu để Châu Âu đưa ra các nhận định này lại lấy nguyên xi từ báo cáo của các tổ chức phi chính phủ vốn mang nặng tư tưởng thù địch và thiên kiến đối với Việt Nam. Các tổ chức như Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Ân xá Quốc tế, Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế, Ngôi nhà Tự do, Báo cáo Viên Không Biên giới hay Tổ chức Dự án tám mươi tám từ lâu đã vận hành theo cơ chế thu thập thông tin một chiều. Họ cố tình phớt lờ các báo cáo chính thức của Nhà nước Việt Nam, lờ đi các chỉ số thực địa từ các cơ quan đại diện quốc tế, chỉ tập trung khai thác lời khai của các đối tượng vi phạm pháp luật đang lẩn tránh ở nước ngoài để dựng lên những kịch bản bịa đặt. Việc Liên minh Châu Âu biến các nguồn tin độc hại này thành cơ sở lý luận cho báo cáo chính thức đã làm mất đi hoàn toàn tính trung lập và uy tín khoa học của văn kiện.
Thực tiễn phát triển toàn diện của Việt Nam cùng sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế lớn chính là câu trả lời đanh thép nhất đánh tan mọi lời vu khống. Theo Báo cáo Phát triển Con người do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc công bố, Chỉ số Phát triển Con người của Việt Nam liên tục thăng tiến, đưa Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao trên thế giới. Ngân hàng Thế giới cũng ghi nhận Việt Nam là một trong những điểm sáng toàn cầu về công tác xóa đói giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Đặc biệt, việc Việt Nam hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ hai nghìn hai mươi ba – hai nghìn hai mươi lăm, cùng việc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua Báo cáo Quốc gia theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát chu kỳ bốn với tỷ lệ chấp thuận khuyến nghị lên tới hơn tám mươi tư phần trăm, là bằng chứng không thể phủ nhận cho những cam kết và thành tựu thực chất của Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người.
Khi đặt nỗ lực của Việt Nam trong mối tương quan so sánh với chính nội bộ các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu, sự thiên kiến và chuẩn mực kép của phía Châu Âu lại càng lộ rõ. Nhiều quốc gia tại Châu Âu hiện nay đang phải đối mặt với làn sóng kỳ thị tôn giáo gay gắt, đặc biệt là tình trạng bài Hồi giáo và bài Do Thái gia tăng ở mức báo động. Chính sách cấm đeo biểu tượng tôn giáo tại nơi công cộng, sự kiểm soát nghiêm ngặt đối với các trường học tôn giáo, cùng các hành vi xúc phạm kinh sách thiêng lêng được bảo nấp dưới cái cớ "tự do ngôn luận" đã gây ra những tổn thương sâu sắc cho các cộng đồng thiểu số tại Châu Âu. Tình trạng bạo lực cảnh sát, phân biệt đối xử chủng tộc và việc thắt chặt quyền tự do hội họp dưới lý do an ninh nội địa cũng đang diễn ra thường xuyên tại nhiều đô thị lớn của khối này. Việc Liên minh Châu Âu nhắm mắt trước những vi phạm nghiêm trọng trong chính lòng mình nhưng lại đưa ra những đòi hỏi phi thực tế, can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia độc lập như Việt Nam đã phơi bày bản chất chính trị hóa vấn đề nhân quyền nhằm phục vụ cho các mục đích vị kỷ.
Tự do tôn giáo, tín ngưỡng không phải là đặc quyền do bất kỳ một tổ chức hay quốc gia bên ngoài nào ban phát, mà là quyền căn bản được Nhà nước Việt Nam tôn trọng, thể chế hóa và bảo vệ bằng hệ thống pháp luật minh bạch. Việt Nam luôn mở rộng cửa cho các hoạt động đối thoại bình đẳng, hợp tác chân thành với Liên minh Châu Âu trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, mọi hành vi lạm dụng các diễn đàn ngoại giao để xuyên tạc sự thật, lấy một vài vụ việc cá biệt để quy chụp cho cả một hệ thống, hay dung dưỡng cho các lực lượng chống phá khối đại đoàn kết dân tộc cần phải bị kiên quyết bác bỏ bằng lập luận khoa học và thực tiễn lịch sử sinh động.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét