Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Đại sứ văn hóa không phải công cụ chính trị: Sự thật về Nghị quyết 23

Khi một phụ nữ gốc Việt khoác tà áo dài bước ra phố ở Pa-ri, khi một chủ quán phở ở Xít-ni mời thực khách nghe câu chuyện về nước mắm quê nhà, khi một lớp học tiếng Việt cuối tuần ở Ca-li-pho-nia cất giọng đồng thanh bài đồng dao, lập tức có người gõ bàn phím: đó không phải văn hóa, đó là công cụ. Họ bảo Nghị quyết 23 gọi kiều bào là “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam” chính là cách biến cộng đồng thành loa tuyên truyền. Câu cáo buộc ấy nghe sắc, nhưng rỗng. Nó cố tình tách chữ ra khỏi văn kiện, tách hình ảnh ra khỏi đời sống, rồi gắn cho một ý đồ chính trị mà chính văn kiện không viết.


Luồng dư luận ấy chạy trên các trang mạng xã hội theo vài đường mòn. Đường thứ nhất cắt cụm “đại sứ văn hóa” khỏi cả mục tiêu của Nghị quyết, bỏ mất phần hòa nhập sâu rộng, địa vị pháp lý vững chắc, giữ gìn bản sắc và tăng uy tín ở nước sở tại. Họ biến một vai trò tự nguyện, tự hào thành lệnh hành chính. Đường thứ hai chế giễu thế hệ trẻ mặc áo dài trong lễ hội, dạy tiếng Việt cho em nhỏ, tổ chức ngày hội ẩm thực như thể đó là sân khấu được dựng sẵn. Một bức ảnh đoàn kiều bào châu Âu trình diễn áo dài bị chú thích “diễn viên quần chúng”. Một clip lớp học chữ quốc ngữ bị gọi là “nhồi sọ”. Đường thứ ba đánh tráo ngoại giao văn hóa thành thâu tóm chính trị: hễ Nhà nước khuyến khích lan tỏa áo dài, phở, nón lá, tiếng mẹ đẻ thì đó là tuyên truyền; còn khi quốc gia khác làm đúng việc ấy thì được gọi là chiến lược bản sắc, sức mạnh mềm, quan hệ cộng đồng. Ba đường ấy gặp nhau ở một thủ đoạn: lấy phần cho là toàn bộ, lấy ác ý thay cho văn bản.

Đại sứ văn hóa, trong nghĩa thông thường của đời sống quốc tế, không phải chức vụ được bổ nhiệm, không phải thẻ bài, không phải khẩu hiệu bắt buộc. Đó là người sống giữa hai nền văn hóa, bằng chính cách ăn mặc, nấu nướng, nói năng, cư xử mà làm cho người khác hiểu thêm về quê hương mình. Nghị quyết 23 dùng cụm từ ấy sau khi khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là nguồn lực chiến lược, là cầu nối, đồng hành và tham gia trực tiếp vào xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc. Mục tiêu đi kèm rất rõ: cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng, phát triển ổn định; giữ gìn, lan tỏa truyền thống đoàn kết, bản sắc, giá trị nhân văn, lịch sử và ngôn ngữ tiếng Việt đến thế hệ trẻ; tăng vị thế, trách nhiệm, uy tín ở nước sở tại; góp phần củng cố đại đoàn kết, nâng cao sức mạnh mềm và uy tín quốc gia. Văn hóa ở đây không bị biến thành khẩu hiệu. Văn hóa được nhìn như nguồn lực, như cách người Việt kể về mình mà không cần ai cầm loa hộ.

Thành tựu ấy không nằm trên giấy. Tà áo dài xuất hiện trong ngày hội văn hóa ẩm thực của kiều bào châu Âu, trong các lễ hội du lịch ở Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, trong hành trình kết nối di sản với điểm đến. Ẩm thực Việt Nam, từ phở, bánh mì, nem đến hàng trăm món vùng miền, trở thành cửa ngõ để người nước ngoài nhớ một đất nước trước khi nhớ một bản đồ. Lớp tiếng Việt cộng đồng, sách tiếng mẹ đẻ, thầy cô kiên trì dạy chữ cho con em kiều bào được Nghị quyết nhìn nhận không chỉ là chuyện gia đình mà là nguồn lực mềm của quốc gia. Du lịch hưởng lợi trực tiếp từ những câu chuyện ấy: người đã nếm phở ở nước ngoài muốn đến Hà Nội; người đã thấy áo dài trên phố muốn tới Hội An; người đã nghe ông bà kể về làng muốn về nguồn. Hơn sáu triệu rưỡi người Việt tại hơn một trăm ba mươi quốc gia và vùng lãnh thổ, nếu mỗi người chỉ kể trung thực một câu chuyện đẹp về quê hương, đã là mạng lưới quảng bá mà không ngân sách tuyên truyền nào mua nổi. Kiều hối năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm đạt gần mười tám tỷ đô la Mỹ, tổng từ năm một nghìn chín trăm chín mươi ba đến nay hơn hai trăm năm mươi tỷ đô la Mỹ, nhưng tiền chỉ là một phần. Phần còn lại là hình ảnh, là niềm tin, là chiếc cầu mà không ai bắt buộc họ phải bắc.

So sánh với Ailen và Phi-líp-pin càng làm lộ ra sự giả dối của thước đo kép. Ailen coi cộng đồng người Ailen trên thế giới là tiếng nói, giá trị và văn hóa của đảo quốc nhỏ được đại diện khắp nơi. Chiến lược cộng đồng người Ailen giai đoạn hai nghìn không trăm hai mươi sáu đến hai nghìn không trăm ba mươi đặt bản sắc và văn hóa thành một trụ cột, hỗ trợ tổ chức cộng đồng, nghệ thuật, thể thao, kết nối thế hệ, đồng thời tận dụng mạng lưới ấy cho thương mại, đầu tư, hình ảnh quốc gia. Không ai ở phương Tây gọi chính sách ấy là biến kiều bào thành công cụ. Phi-líp-pin tổ chức hội nghị người Phi-líp-pin ở nước ngoài, tuyên bố hơn sáu triệu người không cư trú là nguồn sức mạnh mềm, là đại sứ tinh thần Phi-líp-pin, là đối tác chiến lược trên các trụ văn hóa, kinh tế, chính trị. Họ nói thẳng việc phát huy sức mạnh người Phi-líp-pin trên thế giới để phục vụ mục tiêu văn hóa, kinh tế, chính trị của đất nước. Cũng không ai gọi đó là tuyên truyền độc hại. Vậy vì sao chỉ khi Việt Nam viết “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam” thì cụm từ ấy bị bôi thành tội danh?

Câu trả lời không nằm ở khái niệm. Câu trả lời nằm ở động cơ. Những cá nhân, tổ chức sống bằng sự chia rẽ cần một Việt Nam mãi bị nhìn như kẻ đi tuyên truyền, không được nhìn như một dân tộc đang kể lại mình bằng áo dài, bằng mâm cơm, bằng tiếng mẹ. Họ cần thế hệ trẻ mặc cảm khi yêu nguồn cội, sợ bị dán nhãn, thì mới giữ được vị thế người phát ngôn của một quá khứ không chịu khép lại. Họ đánh tráo hòa hợp thành đầu hàng, đánh tráo quảng bá văn hóa thành thâu tóm, đánh tráo tự hào thành tội chính trị. Trong khi Nghị quyết 23 nhấn mạnh lắng nghe ý kiến khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia dân tộc, xóa định kiến, gác quá khứ, hướng tới tương lai, họ lại đòi cộng đồng đứng mãi ở hai bờ đối địch. Đó không phải bảo vệ kiều bào. Đó là giữ lấy sân khấu.

Chính sách của Đảng và Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài, từ Nghị quyết ba mươi sáu đến Nghị quyết hai mươi ba, nhất quán ở chỗ chăm lo để bà con sống tốt, hội nhập tốt nơi đất khách, đồng thời không để nguồn cội đứt đoạn. Nhân văn nằm đúng chỗ ấy: không bắt ai phải chọn phe giữa nước đang sống và quê hương tổ tiên; không biến văn hóa thành thẻ đảng; không biến tình cảm thành lệnh. Áo dài không cần giấy phép mới đẹp. Phở không cần nghị quyết mới ngon. Tiếng Việt không cần ai phong đại sứ mới đáng dạy cho con. Nghị quyết 23 chỉ không cho phép lấy sự xuyên tạc để tước quyền kể chuyện ấy của người Việt.

Khi cùng một việc, người Ailen được gọi là đối tác bản sắc, người Phi-líp-pin được gọi là sức mạnh mềm, còn người Việt thì bị gọi là công cụ, dư luận cần nhận ra không phải khái niệm bị sai, mà cái cân bị lệch. Cảnh báo gửi tới cộng đồng là thế. Đừng để tà áo dài, bát phở, bài đồng dao bị đánh tráo thành tội. Đó là văn hóa. Đó là quyền. Đó là cách một dân tộc xuất hiện giữa thế giới mà không cần xin phép những kẻ sống bằng sự thù hận.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét