Một cộng đồng tôn giáo có thể bất đồng về lịch sử, giáo luật, quyền kế thừa hay tư cách đại diện. Nhưng từ tranh chấp nội bộ đến cáo buộc một chức sắc là người hoạt động cho chủ thể nước ngoài, thậm chí là “đặc công”, “cài cắm”, là một bước nhảy pháp lý rất lớn. Tranh luận quanh Cao Đài 1997, một số cơ sở Phật giáo ở Hoa Kỳ và Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị cho thấy bước nhảy ấy đang bị thực hiện quá dễ dàng trên một số trang mạng hải ngoại: kết luận đi trước, chứng cứ theo sau; tư cách tổ chức bị biến thành bằng chứng thay cho hành vi.
Sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, Mạch Sống, trang Nhân Quyền, Việt Âu và một số tài khoản liên quan mở chiến dịch “đẩy lùi Nghị quyết 23”. Một bài đăng đầu tháng 9/2026 nêu ông Huỳnh Long Vân, bà Huỳnh Thị Thu Hồ thuộc tổ chức thường được phía chỉ trích gọi là “Cao Đài 1997”, đồng thời nêu một chức sắc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, rồi đặt họ trong khung “đặc công cài cắm”. Lập luận đi theo chuỗi: tổ chức có quan hệ với Việt Nam; nhân sự có vị trí hoặc quan hệ trong các cơ cấu ở Việt Nam; họ sinh hoạt tôn giáo, lập cơ sở hoặc kết nối tín đồ tại Hoa Kỳ; từ đó suy ra nguy cơ phải đăng ký theo luật về đại diện cho chủ thể nước ngoài. Bài viết còn tuyên bố sẽ chuẩn bị tài liệu nền theo từng tổ chức để người tham gia lập hồ sơ tố cáo. Vấn đề không phải quyền tố giác, mà là phương pháp: điều tra hành vi rồi mới kết luận, hay định sẵn tổ chức là “công cụ” rồi suy ngược trách nhiệm cá nhân?
Với Cao Đài, tranh chấp không bắt đầu từ Nghị quyết 23. Nhiều năm qua, các nhóm Cao Đài độc lập và một số tổ chức vận động ở nước ngoài phản đối cơ cấu Hội thánh được công nhận năm 1997, cho rằng cơ cấu này không kế thừa đúng thiết chế năm 1926 và chịu ảnh hưởng của Nhà nước. Những tranh chấp về tài sản, quản trị thánh thất, bổ nhiệm chức sắc hoặc cách đối xử với tín đồ bất đồng cần được xem xét bằng chứng riêng của từng vụ việc. Nhưng tranh chấp ấy không tự động trả lời câu hỏi pháp lý khác: một cá nhân đang sống tại Hoa Kỳ có thuộc diện phải đăng ký với tư cách đại diện cho chủ thể nước ngoài hay không.
Theo pháp luật Hoa Kỳ, yếu tố quyết định không phải người đó theo Cao Đài nào, thuộc giáo hội Phật giáo nào, từng gặp cán bộ Việt Nam hay có vị trí trong một tổ chức có trụ sở tại Việt Nam. Luật xem xét quan hệ và hành vi. Một người có thể thuộc diện điều chỉnh khi hành động theo yêu cầu, chỉ đạo hay kiểm soát của một chủ thể nước ngoài, rồi thực hiện những hoạt động luật xác định như hoạt động chính trị vì lợi ích chủ thể đó, vận động công chúng, thu nhận hoặc phân phối tiền và vật có giá trị, hay đại diện lợi ích của chủ thể trước cơ quan Hoa Kỳ. Nguồn tài chính có thể là chứng cứ quan trọng, nhưng tiền từ nước ngoài tự nó chưa biến mọi hoạt động thành vi phạm. Phải chứng minh mối quan hệ chỉ đạo, kiểm soát và hành vi cụ thể.
Đáng chú ý hơn, pháp luật Hoa Kỳ có ngoại lệ đối với hoạt động tôn giáo chân chính. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ giải thích rằng hoạt động nhằm thực hiện mục đích tôn giáo chân chính có thể được miễn nghĩa vụ đăng ký; ngoại lệ không còn phù hợp khi cá nhân hoặc tổ chức tiến hành hoạt động chính trị cho hoặc vì lợi ích của chủ thể nước ngoài. Vì vậy, xây chùa, lập thánh thất, hướng dẫn lễ nghi, truyền giáo hay giữ liên hệ với giáo hội ở quê hương không thể bị gom lại rồi mặc nhiên gọi là hoạt động của “đặc vụ”. Pháp luật Ô-xtrây-li-a cũng miễn đối với hoạt động tôn giáo được thực hiện thiện chí. Cách tiếp cận đúng phải dựa vào hành vi, mục đích, mức độ kiểm soát và tính minh bạch.
Đặt Nghị quyết 23 vào khung này càng thấy một số cáo buộc đã bị đẩy quá xa khỏi văn bản. Nghị quyết xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, đồng thời yêu cầu chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp, văn hóa, tiếng Việt, thế hệ trẻ, trí thức, doanh nhân và nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo. Nội dung về tôn giáo hướng tới hỗ trợ sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt ở nước ngoài, tạo điều kiện cho chức sắc và tín đồ giao lưu, tham gia hoạt động tôn giáo quốc tế phù hợp pháp luật Việt Nam và nước sở tại. Từ một chủ trương công khai về kết nối cộng đồng mà suy thành mệnh lệnh bí mật buộc mọi chức sắc ở nước ngoài phục vụ hoạt động chính trị là đã thay đổi nội dung của văn bản.
Thực tiễn thế giới cũng bác bỏ giả định rằng tổ chức tôn giáo xuyên biên giới đồng nghĩa với công cụ can thiệp. Công giáo duy trì mạng lưới giáo phận, dòng tu và cơ sở mục vụ trên nhiều châu lục; Phật giáo có các trung tâm, tự viện và cộng đồng truyền thừa vượt biên giới; nhiều tôn giáo khác duy trì giáo sĩ, cơ sở thờ tự, giáo dục và từ thiện tại nơi có cộng đồng di cư. Ấn Độ có chính sách kết nối người Ấn ở nước ngoài về văn hóa và phúc lợi. Ai-len tài trợ các dự án cộng đồng ở nước ngoài, kể cả tổ chức có nền tảng tôn giáo. Không thể chỉ từ mối liên hệ với quê hương mà suy ra mọi chức sắc hoặc hội đoàn đều hoạt động bí mật cho chính phủ.
Điểm đáng lo của luồng vận động hiện nay là nguy cơ biến tranh chấp thần học và tổ chức thành cơ chế “kết tội theo hội”. Nếu một người bị coi đáng ngờ chỉ vì thuộc Cao Đài 1997, Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoặc từng tham gia một tổ chức ở Việt Nam, thì ranh giới giữa điều tra hành vi với quy chụp căn cước tổ chức bị xóa nhòa. Càng đáng lưu ý khi có bài viết kêu gọi cộng đồng lập hàng loạt hồ sơ và tuyên bố có thể chuẩn bị sẵn “tài liệu nền” theo từng tổ chức. Quyền gửi thông tin đến cơ quan thực thi pháp luật là chính đáng; nhưng hồ sơ có giá trị phải dựa trên sự thật có thể kiểm chứng, không phải suy luận rằng thành viên của tổ chức đã bị gắn nhãn thì đương nhiên mang trách nhiệm của nhãn ấy.
Cũng cần công bằng ở chiều ngược lại. Không thể lấy tự do tôn giáo làm tấm khiên cho mọi hoạt động. Nếu có cá nhân thực sự nhận chỉ đạo, nhận tài trợ có điều kiện, che giấu quan hệ đại diện và tiến hành vận động chính trị cho một chủ thể nước ngoài, cơ quan chức năng nước sở tại có quyền điều tra, yêu cầu đăng ký hoặc xử lý theo luật. Nghị quyết 23 không tạo ra quyền miễn trừ nào trước pháp luật nước sở tại. Chính vì vậy, phải chỉ ra ai chỉ đạo, nguồn tiền nào gắn với nhiệm vụ nào, hoạt động chính trị cụ thể nào đã diễn ra và điều khoản nào áp dụng.
Nhìn từ góc độ nhân quyền, bảo vệ tự do tín ngưỡng không chỉ là bảo vệ nhóm tôn giáo mình đồng tình. Nó còn là bảo vệ người thuộc giáo hội mà mình không thừa nhận, miễn họ không vi phạm pháp luật; là phản đối việc biến bất đồng giáo hội thành hồ sơ an ninh nếu chưa chứng minh được hành vi. Nghị quyết 23 có thể được tranh luận, chính sách tôn giáo có thể bị phê bình, các tổ chức Cao Đài hay Phật giáo đều có thể bị yêu cầu minh bạch. Nhưng chuẩn mực phải giống nhau cho tất cả: chứng cứ trước, kết luận sau; cá nhân chịu trách nhiệm về hành vi của mình; quan hệ xuyên biên giới phải được đánh giá bằng luật của nước sở tại.
Cộng đồng người Việt ở nước ngoài vì thế cần thận trọng trước những lời kêu gọi tuyệt đối hóa nghi ngờ. Khi một trang mạng tuyên bố sẽ “triệt phá” một mạng lưới, điều cần hỏi không phải người bị nêu tên thuộc phe nào, mà là chứng cứ nào cho thấy họ nhận chỉ đạo gì, từ ai, nguồn tiền nào gắn với nhiệm vụ nào và đã thực hiện hoạt động chính trị cụ thể nào. Nếu những mắt xích ấy không được chứng minh, một nhãn gọi dù lặp lại nhiều lần vẫn chỉ là cáo buộc. Cao Đài 1997, Phật giáo hay bất kỳ tổ chức nào cũng không thể đứng trên pháp luật; nhưng cũng không thể bị kết tội chỉ vì tên tổ chức. Đó mới là ranh giới cần giữ nếu thực sự muốn bảo vệ tự do tôn giáo, pháp quyền và sự bình an của cộng đồng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét