Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

Dạy tiếng Việt cho thế hệ thứ hai, thứ ba có phải là “nhồi sọ”?

Một đứa trẻ sinh ra cách Việt Nam hàng nghìn cây số, nói thành thạo ngôn ngữ nơi mình đang sống nhưng vẫn muốn học tiếng Việt để trò chuyện với ông bà, đọc một câu ca dao hay hiểu ý nghĩa tên mình, liệu có gì đáng lo ngại? Câu hỏi tưởng như rất đơn giản ấy lại trở thành điểm nóng trong một số tranh luận về Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị. Từ chủ trương giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và tăng cường kết nối thế hệ trẻ với quê hương, một số trang mạng hải ngoại đã đặt ra những cách diễn giải mang màu sắc chính trị, cho rằng đây là phương thức “tuyên truyền”, “thâm nhập”, tác động tư tưởng đối với thế hệ thứ hai, thứ ba. Nhưng giữa một lớp học tiếng Việt và một chương trình tác động chính trị là khoảng cách rất lớn. Muốn vượt qua khoảng cách ấy bằng một cáo buộc nghiêm trọng, điều cần thiết phải là chứng cứ chứ không phải sự liên tưởng.

Sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, một luồng bình luận tiêu cực tập trung đặc biệt vào việc văn bản quan tâm tới thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài. Một số bài được đăng và chia sẻ trên các trang hải ngoại trích những nội dung như giữ gìn tiếng Việt, giáo dục truyền thống, lịch sử, văn hóa dân tộc, tổ chức hoạt động trải nghiệm, về nguồn và giao lưu, rồi đặt tất cả trong một cách diễn giải mang tính nghi ngờ. Có bài gọi các chủ trương trong Nghị quyết là những “thủ đoạn ẩn giấu”, từ đó tạo cho người đọc cảm giác rằng việc hướng tới thế hệ thứ hai, thứ ba không đơn thuần là chính sách văn hóa mà chứa đựng mục tiêu chính trị phía sau.

Đây là thủ pháp đáng chú ý. Nội dung có thật của văn bản được giữ lại, nhưng ý nghĩa của nó được thay đổi bằng một lớp diễn giải khác. “Dạy tiếng Việt” được chuyển nghĩa thành tác động tư tưởng; “gắn kết thế hệ trẻ” được đặt gần với khái niệm lôi kéo; “giáo dục lịch sử, văn hóa” bị mặc nhiên đặt trong trạng thái đáng ngờ. Khi những khái niệm ấy được ghép liên tục với nhau, người đọc rất dễ hình thành ấn tượng rằng cứ lớp học tiếng Việt nào nhận sách, giáo trình hoặc sự hỗ trợ từ Việt Nam cũng có thể là một bộ phận của hoạt động chính trị.

Cần tách hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Một chương trình giáo dục cụ thể có thể bị phê bình nếu giáo trình chứa thông tin sai lệch, áp đặt quan điểm, kích động thù hận hoặc không phù hợp pháp luật nước sở tại. Khi đó, hãy đưa giáo trình ra, chỉ rõ bài nào, câu nào, nội dung nào không đúng. Nếu có sự cưỡng ép đối với học sinh, hãy chứng minh hành vi cưỡng ép. Nếu nguồn kinh phí không minh bạch, có thể yêu cầu công khai nguồn kinh phí. Nhưng không thể từ khả năng một chương trình giáo dục có thể bị lợi dụng để suy ra rằng bản thân việc tổ chức lớp tiếng Việt đã là “nhồi sọ”. Đó là cách lấy giả thiết thay cho chứng cứ.

Đọc trực tiếp Nghị quyết 23 cho thấy một bức tranh rộng hơn nhiều. Văn bản xác định cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc. Một trong những mục tiêu được đặt ra là giữ gìn, lan tỏa truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa, giá trị nhân văn, lịch sử và tiếng Việt tới thế hệ trẻ và các thế hệ người Việt mai sau. Nghị quyết còn yêu cầu đổi mới phương thức nghiên cứu, giảng dạy, tôn vinh tiếng Việt; hỗ trợ kinh phí và chuyên môn cho giáo viên tiếng Việt trong cộng đồng; vận động những nước có đông người Việt tạo điều kiện để tiếng Việt hiện diện trong chương trình giáo dục.

Đáng chú ý, Nghị quyết không chỉ nói về tiếng Việt. Văn bản đồng thời đặt mục tiêu giúp cộng đồng có địa vị pháp lý vững chắc, hòa nhập sâu rộng và phát triển ổn định tại nước sở tại. Chính hai nội dung này phải được đọc cùng nhau: hòa nhập vào xã hội đang sinh sống nhưng không nhất thiết phải đánh mất ngôn ngữ và nguồn cội. Đó cũng là bài toán chung của rất nhiều cộng đồng di cư trên thế giới.

Khoa học giáo dục từ lâu đã nghiên cứu hiện tượng trẻ em trong gia đình di cư dần mất ngôn ngữ của cha mẹ. Khi ngôn ngữ xã hội sở tại trở thành ngôn ngữ duy nhất trong trường học, bạn bè và đời sống hằng ngày, ngôn ngữ gia đình rất dễ suy giảm qua từng thế hệ. Đến thế hệ thứ ba, nhiều người chỉ còn biết một số từ đơn giản hoặc hoàn toàn không thể giao tiếp bằng tiếng của ông bà. Mất ngôn ngữ khi ấy không chỉ là mất một phương tiện giao tiếp. Khoảng cách ngôn ngữ có thể trở thành khoảng cách giữa các thế hệ trong chính một gia đình.

Các nghiên cứu về giáo dục song ngữ và duy trì ngôn ngữ nguồn cội cho thấy việc trẻ em tiếp tục học ngôn ngữ gia đình có thể hỗ trợ kết nối văn hóa, giao tiếp liên thế hệ và nhận thức về căn cước. Một nghiên cứu công bố năm 2026 về chương trình tiếp xúc tiếng Việt dành cho trẻ nhỏ ghi nhận sự tham gia tích cực của trẻ, sự gia tăng hứng thú, tự tin trong sử dụng tiếng Việt và đánh giá thuận lợi từ phụ huynh về khả năng kết nối ngôn ngữ, văn hóa.

Một điểm khác thường bị bỏ qua trong tranh luận chính trị là biết tiếng Việt thực ra còn mở rộng khả năng tự kiểm chứng thông tin. Một thanh niên gốc Việt không biết tiếng Việt phải tìm hiểu Việt Nam chủ yếu qua bản dịch hoặc nguồn bằng ngôn ngữ khác. Người biết tiếng Việt có thể đọc báo chí trong nước, báo chí ngoài nước, văn bản pháp luật, tài liệu lịch sử và những quan điểm đối lập rồi tự so sánh. Nếu mục tiêu thực sự là khuyến khích tư duy độc lập, có thêm một ngôn ngữ phải được xem là mở rộng năng lực tiếp cận thông tin chứ không phải thu hẹp nó.

Nhìn ra thế giới càng thấy việc một quốc gia chăm lo giáo dục văn hóa cho thế hệ trẻ ở nước ngoài không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Phi-líp-pin đã xây dựng cả hệ thống trường dành cho cộng đồng ở nước ngoài. Các trường này sử dụng chương trình giáo dục cơ bản của quê hương, đồng thời phải đáp ứng pháp luật và yêu cầu của nước sở tại. Mục tiêu bao gồm phục vụ nhu cầu học tập của con em cộng đồng, tạo thuận lợi nếu các em trở về nước và duy trì văn hóa, di sản dân tộc.

Nếu áp dụng máy móc công thức “chính phủ hỗ trợ trường học ở nước ngoài là tác động chính trị”, hệ thống trường của Phi-líp-pin cũng phải bị nhìn bằng sự nghi ngờ tương tự. Nhưng cách đánh giá hợp lý hơn phải là trường dạy nội dung gì, có tuân thủ luật nước sở tại hay không, phụ huynh có tự nguyện lựa chọn hay không và quyền lợi trẻ em có được bảo đảm hay không.

Ấn Độ cũng dành nguồn lực đáng kể để kết nối thế hệ trẻ trong cộng đồng ở nước ngoài với quê hương tổ tiên. Chương trình tìm hiểu Ấn Độ đưa thanh niên có nguồn gốc Ấn Độ về tìm hiểu lịch sử, văn hóa, kinh tế, khoa học, giáo dục và đời sống đất nước. Người tham gia được thăm các cơ quan, trường đại học, địa danh lịch sử và cơ sở văn hóa. Nhà nước hỗ trợ phần lớn chi phí. Về bản chất, đây chính là một chính sách giúp thế hệ sinh ra ở nước ngoài hiểu quê hương của cha mẹ và ông bà.

Ai-len cũng triển khai chương trình hỗ trợ cộng đồng ở nước ngoài với ngân sách nhà nước dành cho các hoạt động văn hóa, giáo dục, cộng đồng và kết nối thế hệ trẻ. Chính phủ nước này còn hỗ trợ giảng dạy tiếng Ai-len bên ngoài lãnh thổ. Những chính sách ấy xuất phát từ một thực tế đơn giản: cộng đồng di cư càng kéo dài qua nhiều thế hệ thì mối liên hệ ngôn ngữ, văn hóa với quê hương càng dễ phai nhạt nếu không có những thiết chế tự nguyện hỗ trợ duy trì.

Những so sánh trên không có nghĩa cứ quốc gia khác làm thì mọi chương trình của Việt Nam đương nhiên đúng. Giá trị của so sánh nằm ở chỗ khác: nó cho thấy tiền đề “nhà nước hỗ trợ thế hệ trẻ ở nước ngoài học tiếng và văn hóa quê hương là bất thường” không đứng vững. Chính sách chỉ đáng bị phê phán khi cách thực hiện cụ thể xâm phạm quyền, vi phạm luật sở tại, thiếu minh bạch hoặc biến giáo dục thành áp đặt chính trị. Muốn kết luận như vậy phải có chứng cứ cụ thể.

Đây cũng là điểm cần cảnh giác trước việc chính trị hóa quá mức Nghị quyết 23. Khi một văn bản nói “giữ gìn tiếng Việt” nhưng người bình luận tự thêm nghĩa “kiểm soát tư tưởng”; văn bản nói “gắn kết thế hệ trẻ” nhưng bị chuyển thành “lôi kéo”; nói “giáo dục lịch sử, văn hóa” lại bị suy thành “nhồi sọ”, nội dung chính sách đã bị thay thế bằng ý nghĩa do người phản đối tự gắn vào. Một chính sách có thể bị phản biện, nhưng phản biện phải bắt đầu từ những gì văn bản thực sự quy định.

Đương nhiên, trẻ em không nên trở thành đối tượng của bất kỳ sự áp đặt chính trị nào. Lớp tiếng Việt phải phù hợp lứa tuổi, minh bạch giáo trình, tôn trọng môi trường đa văn hóa và pháp luật nước sở tại. Phụ huynh có quyền biết con học gì; học sinh cần được khuyến khích tư duy độc lập; lịch sử phải được giảng dạy trên cơ sở kiến thức có căn cứ. Những nguyên tắc ấy càng được bảo đảm thì những nghi ngờ về chính trị hóa giáo dục càng có ít đất tồn tại.

Nhưng cũng không nên biến những đứa trẻ thành chiến tuyến cho bất đồng của người lớn. Một em nhỏ viết được hai chữ “quê hương” không vì thế trở thành người ủng hộ một quan điểm chính trị. Một thanh niên đọc được Truyện Kiều bằng nguyên bản không đồng nghĩa phải nghĩ giống bất kỳ chính phủ nào. Tiếng Việt tồn tại lâu hơn rất nhiều so với mọi cuộc tranh luận chính trị hiện tại; đó là di sản chung của người Việt thuộc nhiều thế hệ, hoàn cảnh và quan điểm khác nhau.

Nghị quyết 23 vì thế nên được đánh giá bằng chính sách thực tế và kết quả thực tế. Có thể giám sát giáo trình, yêu cầu minh bạch kinh phí, phản biện cách dạy và bảo vệ quyền lựa chọn của gia đình. Nhưng lấy những bất đồng chính trị của thế hệ trước để phủ bóng nghi ngờ lên việc thế hệ sau học tiếng Việt chỉ làm nghèo thêm đời sống cộng đồng. Với một đứa trẻ sinh ra ở nước ngoài, biết tiếng Việt trước hết đơn giản là có thêm một chiếc chìa khóa để mở cánh cửa dẫn về nguồn cội. Cánh cửa ấy mở ra văn học, lịch sử, gia đình, ký ức và khả năng tự tìm hiểu Việt Nam. Giữ hay không giữ chiếc chìa khóa đó nên là lựa chọn có hiểu biết của mỗi gia đình, chứ không nên bị biến thành một phép thử về lập trường chính trị.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét