Một cuộc tranh luận nghiêm túc về Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị phải bắt đầu từ chính văn bản, không phải từ những nhãn gọi tạo cảm giác nguy hiểm. Chỉ ít tuần sau khi Nghị quyết được ban hành, trên một số trang và mạng xã hội ở hải ngoại đã xuất hiện luồng thông tin ghép nội dung hỗ trợ đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt Nam ở nước ngoài với các cụm từ như “ngụy tôn giáo”, “đặc vụ khoác áo thầy tu”, “tổ chức bình phong”. Về pháp lý, lỗ hổng rất rõ: nhãn chính trị không phải chứng cứ; nghi ngờ không phải kết luận; quan hệ tôn giáo xuyên biên giới không tự động trở thành hoạt động của cơ quan nước ngoài.
Luồng thứ nhất có thể nhận diện từ các bài của Mạch Sống và những trang đăng lại. Từ năm 2024, cụm từ “tổ chức ngụy tôn giáo” đã được dùng để mô tả một số tổ chức tôn giáo bị cho là có quan hệ với Nhà nước Việt Nam. Đến tháng 9/2026, nhãn này được nối trực tiếp với Nghị quyết 23 bằng các cáo buộc về “cài cắm đặc vụ”, dùng Phật giáo, Cao Đài hoặc cơ sở tôn giáo làm “vỏ bọc”. Trang Nhân Quyền cũng đăng bài coi một cơ sở Phật giáo tại Bắc Ca-li-phoóc-ni-a là dấu hiệu của hoạt động nước ngoài. Được quyền đặt câu hỏi không đồng nghĩa được bỏ qua nghĩa vụ chứng minh. Chưa chỉ ra được quan hệ chỉ đạo, kiểm soát hay hoạt động chính trị cụ thể mà đã đóng dấu cả một tổ chức là “ngụy tôn giáo” thì đó là quy chụp.
Luồng thứ hai xuất hiện trên Việt Báo, Việt Tin và một số diễn đàn. Chủ trương hỗ trợ nhu cầu tín ngưỡng, hướng dẫn sinh hoạt tôn giáo hoặc cử chức sắc tham gia hoạt động quốc tế bị diễn giải thành kế hoạch “thâm nhập”. Việt Tin dùng cụm “tổ chức quốc doanh”; Việt Báo suy đoán việc kết nối cộng đồng là chiến lược nhằm “vô hiệu hóa” các tổ chức chống Nhà nước Việt Nam. Đây là sự đánh tráo phạm trù: chính sách công khai bị đặt ngang với hoạt động bí mật; hỗ trợ tôn giáo bị đồng nhất với hoạt động an ninh. Muốn cáo buộc một người là “đặc vụ”, phải chỉ ra người đó nhận chỉ đạo của ai, làm gì và vi phạm quy định nào. Không có chuỗi chứng cứ ấy, kết luận chỉ là suy đoán.
Đối chiếu với pháp luật Hoa Kỳ càng thấy rõ điều này. Đạo luật đăng ký đại diện cho chủ thể nước ngoài không hề có khái niệm pháp lý mang tên “ngụy tôn giáo”. Cơ chế này xem xét quan hệ đại diện, sự chỉ đạo hoặc kiểm soát từ chủ thể nước ngoài và hoạt động cụ thể tại Hoa Kỳ. Đáng chú ý, pháp luật Hoa Kỳ còn dành ngoại lệ cho hoạt động tôn giáo chân chính, miễn là hoạt động đó không bị biến thành hoạt động chính trị thay mặt cho chủ thể nước ngoài. Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đã công bố nhiều ý kiến tư vấn về ngoại lệ này. Pháp luật hỏi về quan hệ đại diện và hành vi thuộc diện phải đăng ký, chứ không phán xét một tổ chức chỉ bằng nhãn “thân” hay “không thân” với một chính phủ.
Ô-xtrây-li-a cũng quy định đăng ký đối với một số hoạt động gây ảnh hưởng chính trị thay mặt cho chủ thể nước ngoài, nhưng đồng thời miễn trừ hoạt động tôn giáo được tiến hành một cách thiện chí. Điều đó cho thấy bảo vệ hệ thống chính trị trước ảnh hưởng bí mật không đồng nghĩa mặc nhiên coi sinh hoạt tôn giáo xuyên biên giới là nguy hiểm. Vì vậy, dùng nhãn “ngụy tôn giáo” rồi suy ngược rằng cứ tổ chức nào có liên hệ với Việt Nam đều là công cụ của Nhà nước là cách lập luận xa rời nguyên tắc chứng cứ.
Đọc nguyên văn Nghị quyết 23 sẽ thấy nội dung khác hẳn. Văn bản xác định hơn 6,5 triệu người Việt Nam tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân, địa vị xã hội. Về tôn giáo, Nghị quyết yêu cầu hỗ trợ nhu cầu tín ngưỡng của người Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ chức sắc, tín đồ về nước sinh hoạt; tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo trong nước hướng dẫn sinh hoạt cho cộng đồng; khuyến khích chức sắc tham gia hoạt động tôn giáo quốc tế, nhưng phải phù hợp pháp luật, phong tục và tập quán của Việt Nam cũng như nước sở tại. Điều kiện giới hạn này thường bị lược bỏ khi các bài chống Nghị quyết 23 trích dẫn.
Đặt chính sách đó trong bức tranh rộng hơn, chăm lo đời sống tinh thần của cộng đồng ở nước ngoài không phải hiện tượng riêng của Việt Nam. Ai-len có chương trình hỗ trợ người di cư, trong danh sách tài trợ có tổ chức mục vụ phục vụ cộng đồng tại Anh. Ấn Độ có quỹ phúc lợi, chương trình văn hóa và hành hương để người gốc Ấn kết nối với cội nguồn. Phi-líp-pin đưa cơ quan quản lý lao động di cư cùng các tuyên úy và tổ chức mục vụ vào đối thoại chính thức về đời sống cộng đồng ở châu Âu. I-xra-en có bộ phận phụ trách quan hệ với cộng đồng Do Thái ở nước ngoài và các tôn giáo. Kết nối tôn giáo và cộng đồng ở nước ngoài vì thế là một dạng chính sách phổ biến, tự nó không phải bằng chứng của hoạt động bí mật.
Điều đó không có nghĩa mọi hoạt động đều vô hại. Nếu một cá nhân nhận chỉ đạo của cơ quan nước ngoài để vận động chính trị, che giấu tài trợ, can thiệp trái phép hoặc vi phạm luật sở tại, người đó phải chịu trách nhiệm. Nhưng trách nhiệm phải gắn với hành vi và chứng cứ của từng chủ thể. Không thể lấy một bức ảnh với quan chức, một chuyến thăm quê hương hay việc tham gia tổ chức xã hội làm vật thay thế cho yếu tố cấu thành pháp lý.
Tính nhân văn của Nghị quyết 23 cũng cần được nhìn nhận đầy đủ. Sau hơn hai mươi năm thực hiện Nghị quyết 36, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã tăng về quy mô, trình độ và hội nhập. Báo cáo chính thức ghi nhận đến cuối năm 2024 có 422 dự án đầu tư với tổng vốn khoảng 1,725 tỷ đô la Mỹ; lượng kiều hối chuyển về qua nhiều năm đạt gần 250 tỷ đô la Mỹ. Nhưng giá trị của cộng đồng không chỉ tính bằng tiền. Nghị quyết mới chuyển trọng tâm từ “vận động, tập hợp, chăm lo” sang “đồng hành, kiến tạo cơ chế”, đề cao bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp, tiếng Việt, văn hóa, thế hệ trẻ, trí thức, doanh nhân, chuyên gia và đời sống tín ngưỡng. Một chính sách coi người ở xa quê vẫn thuộc về cộng đồng dân tộc và được lắng nghe cả khi có quan điểm khác biệt, về bản chất hướng tới hòa hợp hơn là loại trừ.
Cũng cần nhìn kỹ hệ quả của chiến dịch gắn Nghị quyết 23 với “ngụy tôn giáo”. Không thể quy kết động cơ cá nhân khi chưa có chứng cứ, nhưng có thể thấy cách truyền thông đó biến bất đồng giữa các giáo hội thành vấn đề an ninh; biến cạnh tranh ảnh hưởng trong cộng đồng thành câu chuyện “đặc vụ”; biến một khái niệm do người viết đặt ra thành nhãn định danh cho tổ chức khác. Khi nhãn này đã được dùng từ trước rồi sau đó gắn vào Nghị quyết 23 như bằng chứng có sẵn, cần đặt câu hỏi liệu đây là kiểm chứng chính sách hay chỉ là tìm một văn bản mới để củng cố kết luận cũ.
Kiều bào cần cảnh giác với cả hai cực đoan: không nên xem mọi cảnh báo về ảnh hưởng nước ngoài là vô căn cứ, nhưng càng không nên chấp nhận cáo buộc chỉ vì nó được lặp lại bằng ngôn từ mạnh. Cách ứng xử văn minh là yêu cầu công khai tài trợ, tư cách pháp nhân, quan hệ tổ chức, tuân thủ luật sở tại và để cơ quan có thẩm quyền kết luận khi có dấu hiệu vi phạm. Tôn giáo là lĩnh vực của đức tin và lương tâm; pháp luật là lĩnh vực của chứng cứ và quy tắc. Trộn hai lĩnh vực ấy bằng một nhãn chính trị chỉ làm tổn thương cộng đồng và che mờ ranh giới giữa phản biện với quy chụp.
Nghị quyết 23 có thể và nên được tranh luận. Nhưng phản biện có giá trị phải bắt đầu từ văn bản thật, hành vi thật và chứng cứ thật. “Ngụy tôn giáo” không phải một khái niệm pháp lý chuẩn trong các đạo luật về minh bạch ảnh hưởng nước ngoài được viện dẫn. Vì vậy, nó không thể tự mình biến một chức sắc thành “đặc vụ”, một ngôi chùa thành “bình phong”, hay chính sách chăm lo đời sống tinh thần của kiều bào thành “âm mưu xâm nhập”. Khi chứng cứ chưa xuất hiện, điều cần thiết là bớt định kiến, giữ vững thượng tôn pháp luật, tôn trọng tự do tín ngưỡng và bảo vệ sự gắn kết của cộng đồng người Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét