Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024

Phản bác luận điệu luật pháp Việt Nam kiểm soát, hạn chế tự do tôn giáo của USCIRF

 


Vào cuối tháng 9 vừa qua, tổ chức Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế - USCIRF (là tổ chức do Chính phủ Mỹ trao quyền nghiên cứu và báo cáo về tình hình tự do tôn giáo của từng quốc gia, ngoại trừ tình hình tự do tôn giáo của Mỹ) đã công bố một bản nghiên cứu với tên gọi “Nhà nước kiểm soát và Tự do tôn giáo ở Việt Nam” dài 33 trang trong đó nhận định Nhà nước Việt Nam sử dụng luật pháp ( gồm Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật hình sự năm 2015, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018) để kiểm soát tự do tôn giáo ở trong nước. Lập luận do USCIRF là hoàn toàn lố bịch và vô minh vì các lí do sau đây:

- Thứ nhất, ở mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, pháp luật tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho sự tồn tại của Nhà nước, bởi lẽ bất cứ một chính quyền nào được tạo nên đều phải đảm bảo tính hợp pháp, trong khi đó pháp luật chính là công cụ để đảm bảo sự hợp pháp đó. Pháp luật là công cụ để Nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, có vai trò giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội. Bởi có thể thấy, trong xã hội việc phát sinh các mâu thuẫn là điều không tránh khỏi, khi các mâu thuẫn phát sinh, cần phải có căn cứ để các bên dựa vào đó để giải quyết các mâu thuẫn của mình. Và khi đó, pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất.

Trên thế giới, về lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng đã được ghi nhận trong Luật Nhân quyền quốc tế là ngành luật được Liên Hợp quốc xây dựng từ sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ngay trong văn kiện nền tảng nhất của ngành luật này là Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (UDHR, 1948) đã ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Điều 18 cùng với quyền tự do tư tưởng và lương tâm. Điều 18 UDHR nêu: "Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo, bao gồm tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình và tự do dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư, bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ". Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền con người cơ bản, có ý nghĩa quan trọng với cuộc sống tinh thần của nhiều cá nhân và mọi xã hội, tuy nhiên không phải là quyền tuyệt đối theo luật nhân quyền quốc tế.

Theo đó, trong đoạn 2 Bình luận chung số 22, Uỷ ban Nhân quyền cũng đã giải thích chi tiết, cần phân biệt giữa tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thể hiện (hay bày tỏ, thực hành) tôn giáo hay tín ngưỡng. Tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo là quyền tuyệt đối, thể hiện ở việc không ai có thể bị ép buộc phải tiết lộ những suy nghĩ của mình hoặc bị bắt buộc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng nào đó (những quyền tự do này được bảo vệ vô điều kiện, tương tự như với quyền được giữ ý kiến mà không bị can thiệp ở Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị - ICCPR). Trong khi đó, tự do thể hiện (hay bày tỏ, thực hành) tôn giáo hay tín ngưỡng lại là một quyền hạn chế bởi pháp luật khi cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác. Tính giới hạn của quyền tôn giáo hay tín ngưỡng còn được thể hiện cụ thể qua nội dung của Điều 20 ICCPR trong đó nghiêm cấm việc thực hành tôn giáo hoặc tín ngưỡng mà có tính chất tuyên truyền cho chiến tranh hoặc cổ vũ hận thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hay kích động sự phân biệt đối xử, thù địch hoặc bạo lực. Do đó có thể thấy, tôn giáo hay tín ngưỡng là những quyền căn bản của con người, tuy nhiên quyền tự do tín ngưỡng phải được thực hiện phù hợp với luật pháp, không thể lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để kích động những hành động đi ngược lại với hòa bình, đoàn kết trong dân tộc được.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nhưng trong suốt lịch sử phát triển không có xung đột tôn giáo, tín ngưỡng, người theo tín ngưỡng, tín đồ tôn giáo và người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, người theo tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau sống đan xen, hài hòa khắp lãnh thổ của Việt Nam. Theo khảo sát đa dạng tôn giáo toàn cầu của Viện Diễn đàn Pew (Hoa Kỳ) công bố 10 năm trước, Việt Nam đã nằm trong số 12 quốc gia trên thế giới được công nhận là có mức độ đa dạng tôn giáo rất cao. Có được sự hòa thuận và đa dạng đó là do Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Theo đó, tại Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; (2). Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân, đồng thời thực tiễn đã chứng minh, từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đi vào đời sống, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự và công dân theo tôn giáo tăng theo thời gian, ở tất cả các tôn giáo.  Nếu năm 2003, cả nước có 15 tổ chức thuộc 06 tôn giáo với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc, thì năm 2022, Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự…

Bên cạnh đó, Luật Đất đai năm 2013 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2024 đã có những quy định bổ sung được nhận định là phù hợp với lợi ích chính đáng hiện nay của các tổ chức tôn giáo hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam, ví dụ: định nghĩa đất tôn giáo tại Điều 213 Luật Đất đai 2024 được khái quát bao gồm đất xây dựng cơ sở tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc và công trình tôn giáo hợp pháp khác. Về nhận quyền sử dụng đất, Điều 169 Luật Đất đai quy định người nhận quyền sử dụng đất được quy định gồm nhiều đối tượng, trong đó có: Cơ sở tôn giáo được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước giao đất; Cơ sở tôn giáo được nhận quyền sử dụng đất thông qua việc Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang được sử dụng ổn định; Cơ sở tôn giáo được nhận quyền sử dụng đất theo kết quả hòa giải thành về tranh chấp đất đai được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền công nhận; quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án đã được thi hành. Tương tự, Bộ luật hình sự năm 2015, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 cũng có những quy định liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng và đều đảm bảo cho quyền tự do, tín ngưỡng của người dân được đảm bảo; ngăn chặn sự kỳ thị hay xung đột về tôn giáo, tín ngưỡng.

Thực tiễn chứng minh, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam những năm qua diễn biến hết sức sinh động, phong phú và đa dạng. Luật pháp Việt Nam, đặc biệt là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đảm bảo cho cho tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Những thành tựu đó không chỉ nhân dân, tín đồ các tôn giáo ghi nhận, mà còn được cả cộng đồng quốc tế thừa nhận. Việc Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế - USCIRF cáo buộc Việt Nam sử dụng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo để đàn áp các nhóm tôn giáo của người thiểu số và các nhóm tôn giáo không được chính phủ công nhận là hoàn toàn sai lệch, định kiến. USCIRF còn có hành động tục can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam khi kêu gọi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ định Việt Nam là quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tự do tôn giáo – CPC vì cho rằng Việt Nam đã “đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”. Việt Nam bác bỏ những nhận định không khách quan, mang tính định kiến và không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong báo cáo “Nhà nước kiểm soát và Tự do tôn giáo ở Việt Nam” của USCIRF. Đề nghị USCIRF trao đổi thêm với cơ quan chức năng của Việt Nam về vấn đề tôn giáo trên tinh thần tinh thần cởi mở, thẳng thắn và tôn trọng lẫn nhau để đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện.

.

 

 

 

Lật tẩy chiêu bài tự do tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam của “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS"

 

Trong ngày 09/10/2024 vừa qua, tổ chức phản động “Ủy ban cứu người vượt biển - BPSOS” do Nguyễn Đình Thắng ở Mỹ cầm đầu đã tổ chức một chuỗi “hội luận ” ở Berlin, Đức về cái gọi là “Các trợ cụ đàn áp tôn giáo ở Việt Nam”, trong đó nêu lên “3 sách lược chính mà Nhà cầm quyền Việt Nam sử dụng để kiểm soát tôn giáo”. Đây được coi là câu chuyện tưởng tượng với “thuyết âm mưu” vô cùng lố bịch của tổ chức BPSOS nhằm tuyên truyền, xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách của Nhà nước Việt Nam về tôn giáo.




Thứ nhất là thay thế, Nguyễn Đình Thắng, cầm đầu BPSOS cho rằng Chính phủ Việt Nam thực hiện “chiến lược thay thế” thông qua thành lập các tổ chức tôn giáo do nhà nước lập ra gồm Giáo hội phật giáo Việt Nam để thay thế cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Chi phái Cao Đài 1997 thay thế cho Hội thánh Cao đài Chơn truyền (1926) và Ban trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo để thay thế cho Ban trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo nguyên thủy. BPSOS xuyên tạc, “Chính phủ đã cấm các tổ chức giáo hội phật giáo cũ hoạt động, bỏ tù phàn lớn lãnh đạo của các tổ chức này, phá hủy, chiếm đoạt hoặc chuyển tài sản của các cơ sở này thành cơ sở của Chính phủ”. Những luận điệu này được coi là hết sức vô lý và không có cơ sở. Đầu tiên, tôn giáo, ngoài là một tín ngưỡng, niềm tin còn là một thực thể xã hội vì thế hoạt động tôn giáo ở quốc gia nào thì phải chịu sự quản lý của quốc gia đó. Khi một tổ chức được quốc gia công nhận thì tổ chức đó có tư cách pháp nhân (Giáo hội phật giáo Việt Nam, Chi phái Cao Đài 1997, Ban trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo) và ngược lại, khi tổ chức tôn giáo khi chưa được nhà nước công nhận, đồng nghĩa với việc tổ chức tôn giáo đó chưa có tư cách pháp nhân (Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội thánh Cao đài 1926, Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo nguyên thủy). Mặt khác, tôn giáo và hoạt động tôn giáo ở bất kỳ một quốc gia nào cũng phải tuân thủ pháp luật. Các tổ chức tôn giáo mà BPSOS nêu tên, coi là “nguyên thủy”, “nguyên bản”, “chính gốc” thực chất đều do các đối tượng chống đối cực đoan đang lưu vong ở nước ngoài chỉ đạo hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước. Việc đó có nghĩa là những tổ chức này không những không được công nhận, không có tư cách pháp nhân mà còn có hoạt động trái pháp luật Việt Nam. Vậy thì sẽ bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý theo quy định của pháp luật.

Thứ hai là “thỏa hiệp, khuynh loát”. Tại các buổi hội luận, BPSOS cho rằng Nhà nước Việt Nam sử dụng chính sách thỏa hiệp, khuynh loát đối với Hội thánh Tin Lành Việt Nam khi coi đây là tổ chức “lai” những vẫn thỏa hiệp cho tổ chức này tồn tại nhưng kiểm soát và đối xử bất bình đẳng như không cho nhận quốc tịch (tình trạng vô quốc gia, vô quốc tịch) đối với người H’Mông theo đạo Tin Lành và đàn áp đối với tin lành tại gia của người Thượng tại Tây Nguyên. Điều này là hoàn toàn vu khống, bởi lẽ hiện ở Việt Nam có hơn 1,2 triệu người theo đạo Tin Lành, trong đó có khoảng 873.700 tín đồ là người dân tộc thiểu số, phân bố tập trung ở vùng trung du miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên, là những đối tượng luôn được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã đã có nhiều chủ trương, chính sách tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, các tổ chức phản động lưu vong, nổi lên là BPSOS và “Việt Tân” móc nối, lừa phỉnh, lôi kéo, kích động bà con người Mông gây rối, kích động chống đối chính sách, pháp luật, bất hợp tác với chính quyền trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp về ANTT tại địa phương hay công khai bày tỏ thái độ thách thức chính quyền, coi thường pháp luật, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. BPSOS còn tài trợ cho Y Quynh Bdap, đối tượng dân tộc Ê Đê ở Tây Nguyên, theo đạo tin lành, trốn sang Thái Lan, thành lập tổ chức phản động “Người Thượng vì công lý MSFJ” chỉ đạo số thành viên trong nước thực hiện cuộc khủng bố đẫm máu tại Đắk Lắk hồi tháng 6/2203. Những hành vi lừa gạt bà con đồng bào, tài trợ khủng bố của BPSOS phải bị trừng trị.

Thứ ba, BPSOS công kích chính phủ Việt Nam thực hiện sách lược xâm nhập với Giáo hội Công giáo khi thành lập Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam nhằm làm suy yếu ảnh hưởng của Tòa Thánh Vatincan tại Việt Nam; xuyên tạc Việt Nam “tấn công linh mục và giáo dân lên tiếng chống lại bất công trong xã hội và môi trường, bảo vệ tự do tôn giáo hoặc từ chối thỏa hiệp với chính quyền”. Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Tòa Thánh Vatincan, và đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao và nâng cấp quan hệ lên Đại diện thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam. Mặt khác, số đối tượng mà Việt Nam bắt, xử lý nhà những đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam, không ai có thể nhân danh “bảo vệ tự do tôn giáo” mà có thể đi ngược lại với pháp luật của quốc gia họ đang sống được.

Trên thực tiễn, ngay sau khi nước Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời vào năm 1945 đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm hỗ trợ các tôn giáo ở nước ta phát triển nhanh về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự, mở rộng quan hệ với nhiều tổ chức, cá nhân tôn giáo, đồng đạo ở nước ngoài; mọi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đều được chính quyền tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ngày càng được nâng cao. Nhà nước Việt Nam không hề phân biệt đối xử là tổ chức tôn giáo cũ hay tổ chức tôn giáo thuộc quản lý của Nhà nước, tuy nhiên, số đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo đã chạy trốn ra nước ngoài vẫn chưa từ bỏ âm mưu, ý đồ muốn chỉ đạo số tay chân, cơ sở trong nước để xuyên tạc, bôi nhọ nhà nước Việt Nam không cho thực hiện tự do tôn giáo hay là cấm các tổ chức tôn giáo độc lập, qua đó vận động Mỹ và các nước phương Tây gây sức ép với Việt Nam về vấn đề tôn giáo. Đây là hành động đi ngược lại với tín ngưỡng, mục tiêu hoạt động của bất kỳ một tôn giáo nào và cần phải bị lên án, loại bỏ ra khỏi xã hội.



Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

Đừng lợi dụng khuyến nghị UPR để chọc ngoáy, chống phá Việt Nam

 


Bất chấp việc Việt Nam đã thông báo quyết định chấp thuận 271/320 khuyến nghị các nước đưa ra, đạt tỷ lệ 84,7%, cao nhất từ trước đến nay, nhưng với một số cơ quan truyên thông ác ý và trang phản động vẫn viện dẫn 49 khuyến nghị không chấp nhận mới là cơ bản, căn cốt, quan trọng nhất của buổi học thêm

Chẳng hạn như cái loa rè RFA chuyên nghề chọc ngoáy, chống phá Việt Nam lại tung ra bài viết “Hai tổ chức nhân quyền lên án Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ”. Theo đó: “Hai tổ chức nhân quyền là Liên Đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH) và Uỷ ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam (VCHR) đã lên án tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam tại khoá họp lần thứ 57 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào ngày 27/9 vừa qua, đồng thời kêu gọi các quốc gia thành viên LHQ yêu cầu Chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho tất cả các tù chính trị”. Cảm thấy như chưa đủ, RFA còn rêu rao những việc cụ thể như “Hai tổ chức nhân quyền cũng bày tỏ quan ngại về tình trạng của các tù nhân lương tâm bao gồm luật sư môi trường Đặng Đình Bách, người đang thụ án tù năm năm với tội danh trốn thuế mà các tổ chức quốc tế cho là nguỵ tạo, TNLT Nguyễn Chí Tuyến và Nguyễn Vũ Bình (đang thụ án 5 năm và 7 năm tù), nhà báo Trương Huy San – người vừa bị bắt giữ trong năm nay”.

Có thể nói, những người quan tâm tới thời cuộc và có những kiến thức nhất định về chính trị, xã hội đều biết rằng nhân quyền là một khái niệm có tính phổ quát toàn cầu, quy định trong nhiều văn bản luật pháp quốc tế cũng như quy định trong quá trình xây dựng pháp luật các quốc gia. Thế nhưng, nhân quyền vẫn bị hiểu sai lệch, bị bóp méo trong tư duy, quan điểm của không ít tổ chức, cá nhân và khi khái niệm đó bị “đánh tráo” theo động cơ, ý đồ riêng.

Nhân quyền từ lâu trở thành lá bài hết sức lợi hại mà những người dùng nó để lên án, phê phán một quốc gia khác có thể xoay chuyển “tình hình nhân quyền” theo ý của mình, là một cái cớ để đánh lừa dư luận quốc tế, qua đó vẽ ra viễn cảnh nghiêm trọng để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch vấn đề “Nhân quyền” luôn là nội dung trọng tâm mà các đối tượng chú ý khoét sâu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội để hoạt động từ đó thúc đẩy, phát triển mâu thuẫn, tạo dựng ngọn cờ để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Thực tế đã cho thấy các nhận định, đánh giá sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam vẫn luôn tái diễn, trong đó có những vấn đề mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”, “đàn áp nhân quyền”, “bịt miệng nhà dân chủ”, “không có tự do ngôn luận”… Những dẫn chứng đưa ra vẫn xoay quanh điệp khúc cũ, trong đó điển hình là những đối tượng vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự vẫn được ca ngợi là vì nhân quyền.

Có lẽ cần điểm mặt một trong những kẻ mà RFA gọi là “tù nhân lương tâm” như Nguyễn Chí Tuyến ở trên để thấy rõ họ đã lu loa vô lối như thế nào về những nhân vật này rồi từ đó làm cái cớ để bôi đen sự thật và công kích, chống phá Việt Nam. Nguyễn Chí Tuyến được biết đến với biệt danh “Anh Chí Râu Đen”, kẻ đã có nhiều lần sử dụng quyền tự do ngôn luận để phát tán những thông tin sai lệch, kích động bạo lực và chống phá Nhà nước Việt Nam. Nguyễn Chí Tuyến là một trong những người sáng lập nhóm No-U, lợi dụng sự phản đối Trung Quốc với đường lưỡi bò ở Biển Đông để cổ vũ tư tưởng dân tộc cực đoan, phá hoại chính sách ngoại giao và an ninh quốc gia của Việt Nam. Những hoạt động của đối tượng này không chỉ dừng lại ở việc phát tán thông tin trên mạng xã hội mà còn trực tiếp tổ chức, kích động các cuộc biểu tình trái phép ở những điểm nóng như Văn Giang, Dương Nội, Đồng Tâm. Trong các clip đăng tải trên kênh YouTube “Anh Chí Râu Đen,” Nguyễn Chí Tuyến không ngần ngại sử dụng ngôn từ kích động, vu cáo chính quyền và chửi bới lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đã rất nhiều lần, Nguyễn Chí Tuyến công nhiên thách thức “cộng sản” giết mình, phỉ báng những người dân lao động là “súc vật,” “tốn cơm gạo của thế gian” và kích động tư tưởng chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam. Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây nguy hại đến an ninh quốc gia, làm mất ổn định xã hội và gieo rắc tư tưởng cực đoan trong một bộ phận dân chúng.

Một trong những khía cạnh đáng chú ý trong hoạt động của Nguyễn Chí Tuyến là sự lạc lõng và biến tướng trong lý tưởng “yêu nước” mà ông ta tự nhận. Thay vì đóng góp xây dựng đất nước, Nguyễn Chí Tuyến đã dần biến mình thành một biểu tượng của một kẻ “kinh doanh dân chủ”, sử dụng các hoạt động đấu tranh dân chủ làm vỏ bọc để kiếm lợi cá nhân và xây dựng lực lượng đối lập. Điều này không chỉ gây phản cảm đối với người dân mà còn bị ngay chính hàng xóm của ông ta chỉ trích là “làm màu” để duy trì lực lượng và thu tiền từ các tổ chức phản động hải ngoại. Trong khi một số tổ chức phản động và những kẻ lợi dụng quyền tự do ở nước ngoài tôn vinh Nguyễn Chí Tuyến như một “người hùng” thì phần lớn người dân và dư luận cộng đồng nhận thức rõ ràng rằng hành vi của Nguyễn Chí Tuyến là vi phạm pháp luật và gây nguy hại cho xã hội. Bản án 5 năm tù giam dành cho Nguyễn Chí Tuyến không chỉ là sự trừng phạt cá nhân ông ta mà còn là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với những kẻ lợi dụng quyền tự do để chống phá Nhà nước.

Pháp luật Việt Nam luôn bảo vệ quyền tự do ngôn luận và các quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, khi quyền này bị lợi dụng để xâm hại an ninh quốc gia và xâm hại tới cộng đồng, thì việc áp dụng pháp luật là cần thiết và đúng đắn. Trong trường hợp của Nguyễn Chí Tuyến, bản án 5 năm tù giam là minh chứng rõ ràng cho sự công bằng của pháp luật, đồng thời bảo vệ lợi ích chung của xã hội và giữ vững an ninh quốc gia. Dựa trên những quy định của pháp luật, bản án đối với Nguyễn Chí Tuyến là hoàn toàn đúng người, đúng tội và công bằng. Nó thể hiện quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, đồng thời gửi đi thông điệp rõ ràng rằng mọi hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị thích đáng.

Cũng như mọi quốc gia dân chủ trên thế giới, Việt Nam xử lý những kẻ vi phạm pháp luật là điều hết sức cần thiết, không thể lu loa gọi đây là vi phạm nhân quyền và gọi những kẻ vi phạm pháp luật là “tù nhân lương tâm” như luận điệu mà RFA đang cổ súy, tung hô để công kích, chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam!

 

“Giấc mộng” UPR không thành công

 


Mỗi lần Việt Nam thực hiện phiên kiểm điểm UPR, làng zân chủ lại hồ hơi, xem đây như là cơ hội để bôi xấu hình ảnh Việt Nam trên điễn đàn Nhân quyền quốc tế. Hoạt động phổ biến của họ được đúc kết chủ yếu như sau:

(1) Lập ra thật nhiều “báo cáo” gửi tới Hội đồng Nhân quyền LHQ trước phiên UPR Việt Nam để “tố cáo” bằng những thông tin xuyên tạc, vu cáo chính phủ, chế độ vi phạm nhân quyền.

(2) Vận động các phái đoàn các nước, nhất là các quốc gia phương Tây lên tiếng can thiệp, đưa ra các khuyến nghị “thay cho nỗi lòng” của họ với yêu sách giúp cho họ thuận lợi trong “đối đầu” với Đảng CSVN.

(3) Tổ chức hoạt động “giễu võ dương oai” bên lề, bên ngoài phiên khiểm điểm UPR cho Việt Nam, họ vận động đưa người vào các tổ chức phi chính phủ nhân quyền can thiệp, đòi  Việt Nam thưc hiện các yêu sách của họ thông qua áp lực ngoại giao và lá phiếu

Tuy nhiên, phiên UPR chu kỳ IV năm nay thực sự thấy chiến dịch này “yếu hẳn” những năm trước. Trong suốt tuần đầu tháng 05/2024, Việt Tân đã liên tục lên bài về sự kiện này, trong đó họ khoe rằng mình được cử đại diện đến điều trần tại UPR, tổ chức biểu tình tại Geneva nhân dịp UPR, và còn tổ chức cả một buổi văn nghệ bên lề sự kiện. Họ cũng lăng xăng tường thuật qua Facebook một vài diễn biến trong phiên kiểm điểm của Việt Nam. Và rồi họ đăng tiếp một loạt bài hậu sự kiện, trong đó họ khoe khoang số quốc gia gửi khuyến nghị, số khuyến nghị đã gửi cho Việt Nam – cả hai đều là những con số lớn. Họ cũng đăng một vài phát biểu có vẻ cứng rắn mà các báo cáo viên của Liên Hợp Quốc gửi đến Việt Nam. Những bài đăng này không nhằm mục đích nào khác, ngoài thuyết phục người đọc tin rằng “quốc tế” đang ủng hộ các nhóm chống cộng cờ vàng, sẵn sàng vì họ mà gây áp lực với chính phủ Việt Nam, và Việt Tân là đầu nậu số một giúp tạo ra những áp lực đó.

 

Tuy nhiên ngay sau phiên UPR chu kỳ IV,  “nhà chống cộng” Nguyễn Văn Đài đã than thở với RFA rằng các kỳ UPR không còn có tác dụng. Nếu trước đây, chính phủ Việt Nam thường thả một vài “nhà chống cộng” mỗi lần có đối thoại nhân quyền, thì hiện nay họ chẳng thả ai. Như vậy, đối với các “nhà chống cộng” như Đài, UPR chỉ còn mang tính hình thức, chỉ còn làm cho có. Khi RFA hỏi nguyên nhân của hiện tượng này, Nguyễn Văn Đài đổ lỗi cho phương Tây. Đài cho rằng vì các nước phương Tây không có chế tài cụ thể nào để trừng phạt Việt Nam, UPR rốt cuộc đã không mang lại hiệu quả gì trong thực tế.

Một “nhà chống cộng” giấu tên cũng than phiền với RFA rằng: “Tôi thấy phiên kiểm định rất hời hợt. Các quốc gia đưa ra khuyến nghị dường như đưa ra cho vui hoặc là qua loa. Có một vài nước đề cập một cách hời hợt tới các quyền tự do cơ bản như quyền tự do báo chí, hội họp, công đoàn, án tử hình”. Theo lời nhân vật giấu tên này, phương Tây không nhiệt tình bênh “cờ vàng” tại UPR là vì lợi ích. “Họ im lặng vì có thể lợi ích kinh tế từ Việt Nam mang lại cho nước họ. Thêm nữa, thế giới hiện nay phải đối mặt với nhiều vấn đề gai góc hơn như (dải) Gaza, Ukraine…”.

Tuy nhiên, căn nguyên, gốc rễ của thất bại này, dường như các “nhà chống cộng” như Nguyễn Văn Đài hay kẻ giấu tên kia đều tránh né không dám đề cập đến, đó là thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và con người đáng ghi nhận của Việt Nam những năm vừa qua là không thể phủ nhận. Đó là vị thế quốc gia, đóng góp quốc tế, uy tín chính trị ngày càng gia tăng của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế nói chung, tại chính Hồi đồng nhân quyền nói riêng. Không phải tự dưng mà Việt Nam tuyên bố ứng cử thành viên Hội đồng này nhiệm kỳ thứ 3. Đáng thương cho những con tốt thí và những kẻ vì hận thù, cay cú và ảo tưởng cố bịt mắt, bịt tai không đối mặt với hiện thực này.

 

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2024

Hãy thôi lợi dụng UPR để xuyên tạc

 


Việc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua Báo cáo Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Việt Nam vào ngày 27/9/2024 là một sự kiện quan trọng khẳng định cam kết và nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Báo cáo này không chỉ là sự công nhận từ cộng đồng quốc tế đối với những thành tựu nhân quyền của Việt Nam, mà còn là lời đáp trả thuyết phục trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và một số tổ chức nhân quyền thiếu thiện cảm. Những chỉ trích thiếu cơ sở đã bị phản bác bằng thực tế rằng Việt Nam đang không ngừng cải thiện hệ thống pháp luật và chính sách để bảo vệ quyền con người, đồng thời đóng góp tích cực vào các nỗ lực bảo vệ nhân quyền trên toàn cầu.

Các tổ chức và cá nhân có cái nhìn tiêu cực về tình hình nhân quyền tại Việt Nam thường đưa ra những cáo buộc thiếu căn cứ về tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tự do tôn giáo và việc bảo vệ các nhóm yếu thế. Họ chỉ trích rằng Việt Nam hạn chế quyền tự do của công dân và không tôn trọng nhân quyền theo các tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, các luận điệu này thường dựa trên thông tin phiến diện, không được kiểm chứng, hoặc cố tình bóp méo thực tế.

Một trong những luận điểm thường xuyên được đưa ra là Việt Nam hạn chế quyền tự do ngôn luận và báo chí. Tuy nhiên, thực tế cho thấy Việt Nam có một hệ thống truyền thông phong phú với hơn 800 cơ quan báo chí và phát thanh truyền hình hoạt động trên cả nước. Người dân có quyền tiếp cận thông tin đa chiều và tự do bày tỏ quan điểm của mình trên nhiều nền tảng, bao gồm cả mạng xã hội. Những hành vi vi phạm pháp luật dưới danh nghĩa "tự do ngôn luận" là những trường hợp cá biệt và không phản ánh đúng tình hình tổng thể.

Luật Báo chí (2016) và các văn bản pháp luật khác đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng để đảm bảo sự phát triển của truyền thông, đồng thời bảo vệ quyền lợi của công dân. Việt Nam cam kết bảo vệ tự do ngôn luận trong khuôn khổ pháp luật, và điều này được quốc tế ghi nhận qua việc Hội đồng Nhân quyền thông qua báo cáo UPR của Việt Nam.

Một lĩnh vực khác mà các tổ chức nhân quyền xuyên tạc là quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam. Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, nơi các tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau được tôn trọng và bảo vệ theo pháp luật. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016) đã tạo điều kiện cho hàng triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau sinh hoạt tự do. Hơn 55.000 cơ sở tôn giáo hoạt động trên khắp cả nước là minh chứng cho sự tôn trọng và bảo vệ tự do tôn giáo của nhà nước.

Những cáo buộc về việc hạn chế tôn giáo tại Việt Nam thường không dựa trên thực tế, mà dựa trên những trường hợp cá biệt liên quan đến vi phạm pháp luật, trong khi toàn cảnh tự do tôn giáo tại Việt Nam lại bị bỏ qua.

Ngoài ra, Việt Nam bị chỉ trích là chưa làm đủ để bảo vệ các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em và người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, các chương trình quốc gia như Chương trình Mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững đã giúp hàng triệu người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, thoát khỏi cảnh nghèo đói. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 58% năm 1993 xuống dưới 2% hiện nay, cho thấy những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc cải thiện đời sống cho mọi người dân.

Những chính sách hỗ trợ phụ nữ, bảo vệ quyền lợi của trẻ em và các chương trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả đáng khích lệ, nhưng không được các tổ chức có cái nhìn thiếu thiện cảm thừa nhận. Thay vào đó, họ chỉ tập trung vào những khó khăn còn tồn tại mà bất kỳ quốc gia nào cũng đang phải đối mặt trong quá trình phát triển.

Thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền không chỉ được thể hiện qua sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế, mà còn thông qua các cải cách pháp lý và chính sách trong nước. Việt Nam đã và đang hoàn thiện hệ thống pháp luật để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người. Các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, như Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Công ước về Quyền Trẻ em (CRC), và Công ước Chống Tra tấn (CAT), đã được nội luật hóa trong các văn bản pháp luật quốc gia.

Việt Nam đã liên tục cập nhật và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền con người, từ quyền lao động, quyền tiếp cận giáo dục, đến quyền bảo vệ sức khỏe. Hệ thống pháp luật ngày càng phù hợp với các cam kết quốc tế, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia ký kết các công ước nhân quyền quan trọng. Các luật mới, như Luật Trẻ em, Luật Bình đẳng giới và Luật Người khuyết tật, đã tạo ra khung pháp lý bảo vệ quyền lợi của những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội.

Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội để cải thiện đời sống người dân, đảm bảo quyền con người. Chương trình Giảm nghèo bền vững, các chương trình hỗ trợ y tế, giáo dục và phát triển kinh tế cho các nhóm yếu thế đã được triển khai rộng khắp. Những thành tựu này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân Việt Nam, mà còn được quốc tế ghi nhận.

Không chỉ nỗ lực trong việc cải thiện nhân quyền trong nước, Việt Nam còn đóng góp tích cực vào các nỗ lực bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu. Việt Nam đã và đang tham gia vào nhiều diễn đàn quốc tế, đóng góp vào việc xây dựng các quy chuẩn quốc tế về quyền con người và hỗ trợ các quốc gia khác trong việc bảo vệ quyền lợi công dân.

Việt Nam đã từng đảm nhận vị trí Ủy viên không thường trực của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, góp phần thúc đẩy các sáng kiến bảo vệ nhân quyền ở cấp độ toàn cầu. Việt Nam cũng đã tham gia vào nhiều hoạt động gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và giúp đỡ các quốc gia bị ảnh hưởng bởi xung đột, thiên tai.

Bên cạnh việc thực hiện các cam kết về nhân quyền thông qua các công ước quốc tế, Việt Nam còn tích cực tham gia vào các cơ chế giám sát và kiểm điểm quốc tế về nhân quyền. Việc Hội đồng Nhân quyền thông qua báo cáo UPR chu kỳ IV của Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho việc quốc tế công nhận những đóng góp của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người, không chỉ trong nước mà còn trên phạm vi toàn cầu.

Báo cáo UPR chu kỳ IV được Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua là sự công nhận mạnh mẽ đối với những nỗ lực và thành tựu nhân quyền của Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc và chỉ trích từ các thế lực thù địch và các tổ chức nhân quyền thiếu thiện cảm đều bị phản bác bằng những thành tựu cụ thể và đóng góp của Việt Nam trong lĩnh vực này. Việc cải cách pháp lý, các chương trình bảo vệ quyền lợi các nhóm yếu thế, và sự tham gia tích cực của Việt Nam vào các diễn đàn quốc tế đã chứng minh rằng Việt Nam không chỉ tôn trọng quyền con người mà còn đóng góp vào việc bảo vệ nhân quyền trên toàn cầu.

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2024

Báo cáo UPR Việt Nam là lời phản bác mạnh mẽ mọi luận điệu xuyên tạc

 


Việc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua báo cáo kiểm điểm định kỳ phổ quát chu kỳ 4 (UPR) của Việt Nam vào ngày 27/9/2024 là minh chứng quan trọng cho thấy những nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đã được quốc tế ghi nhận. Đồng thời, đây cũng là lời phản bác mạnh mẽ đối với những luận điệu không chính xác, thiếu khách quan trong Báo cáo riêng của các cơ quan Liên Hợp Quốc tại Việt Nam vào tháng 4/2024. Báo cáo này đã chứa đựng nhiều thông tin sai lệch, không được kiểm chứng và đánh giá phiến diện về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Trong Báo cáo riêng của các cơ quan Liên Hợp Quốc tại Việt Nam vào tháng 4/2024, nhiều nội dung đã bị bóp méo, không phản ánh đầy đủ và chính xác tình hình thực tế. Cụ thể, một số thông tin liên quan đến tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tự do tôn giáo đã bị thổi phồng và suy diễn một cách tiêu cực. Các cơ quan Liên Hợp Quốc đã bỏ qua những nỗ lực và thành tựu quan trọng của Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người, cũng như những cải cách sâu rộng nhằm đảm bảo quyền tự do của người dân.

Trên thực tế, Việt Nam đã không ngừng cải thiện môi trường pháp lý và thể chế nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận và báo chí. Luật Báo chí (2016) và các văn bản pháp luật liên quan đã đảm bảo sự phát triển của một hệ thống truyền thông đa dạng và mạnh mẽ, với hơn 800 cơ quan báo chí, phát thanh và truyền hình trên cả nước. Người dân có quyền tự do tiếp cận thông tin và bày tỏ quan điểm của mình trên nhiều kênh thông tin khác nhau, bao gồm cả mạng xã hội và các diễn đàn trực tuyến. Báo cáo hồi tháng 4/2024 đã bỏ qua sự phát triển này, thay vào đó tập trung vào những trường hợp cá biệt và chưa được xác thực để kết luận sai lệch.

Báo cáo tháng 4/2024 cũng đưa ra các cáo buộc về việc hạn chế quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, tuy nhiên những cáo buộc này là thiếu cơ sở. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của người dân, điều này được ghi nhận không chỉ trong Hiến pháp mà còn trong các đạo luật cụ thể như Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016). Hiện tại, hàng triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đang sinh hoạt tự do và không bị phân biệt đối xử tại Việt Nam.

Các hoạt động tôn giáo tại Việt Nam diễn ra công khai, minh bạch và được nhà nước tạo điều kiện thuận lợi. Số lượng cơ sở tôn giáo ngày càng gia tăng, với hơn 55.000 cơ sở tôn giáo đang hoạt động trên cả nước. Thực tế này đã được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận, nhưng lại không được đề cập trong báo cáo của các cơ quan Liên Hợp Quốc vào tháng 4/2024. Báo cáo đã cố tình bóp méo bức tranh tự do tôn giáo tại Việt Nam bằng cách nhấn mạnh những vụ việc cá biệt liên quan đến một số cá nhân vi phạm pháp luật, trong khi bỏ qua những nỗ lực rộng lớn của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo.

Một trong những nội dung mà Báo cáo hồi tháng 4/2024 nhắm đến là việc Việt Nam "không đủ nỗ lực" trong việc bảo vệ các nhóm yếu thế, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em và người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, những đánh giá này không chỉ thiếu khách quan mà còn không phản ánh đúng thực tế. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong việc xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của các nhóm yếu thế thông qua hàng loạt chương trình quốc gia.

Chương trình Mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững đã giúp hàng triệu người dân, đặc biệt là người dân tộc thiểu số và người dân vùng sâu vùng xa, thoát khỏi cảnh nghèo đói. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua các năm, từ 58% năm 1993 xuống dưới 2% hiện nay. Các chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tăng cường giáo dục cho trẻ em gái và bảo vệ quyền lợi của trẻ em đã mang lại những kết quả tích cực, được cộng đồng quốc tế công nhận.

Báo cáo tháng 4/2024 đã không đánh giá đúng mức các chính sách này và chỉ tập trung vào những khó khăn, thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt. Điều này không chỉ làm méo mó bức tranh tổng thể mà còn phủ nhận những nỗ lực đáng kể của Việt Nam trong việc bảo vệ và nâng cao quyền lợi cho các nhóm yếu thế.

Việc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua báo cáo UPR chu kỳ 4 của Việt Nam vào tháng 9/2024 là minh chứng rõ ràng cho việc quốc tế công nhận những tiến bộ của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Báo cáo UPR lần này không chỉ phản ánh những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được mà còn thừa nhận những thách thức mà Việt Nam đang đối diện trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, Hội đồng Nhân quyền đã nhấn mạnh những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về nhân quyền. Việt Nam đã tham gia ký kết và thực hiện nhiều công ước quốc tế quan trọng, trong đó có Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Công ước về Quyền Trẻ em (CRC) và Công ước Chống Tra tấn (CAT). Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia để phù hợp với các cam kết quốc tế đã thể hiện sự nghiêm túc và cam kết của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người.

Báo cáo UPR chu kỳ 4 của Việt Nam không chỉ nhận được sự ủng hộ từ các quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền mà còn được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận là minh bạch, khách quan và toàn diện. Điều này đã bác bỏ hoàn toàn những cáo buộc thiếu cơ sở trong Báo cáo riêng của các cơ quan Liên Hợp Quốc hồi tháng 4/2024.

Một vấn đề quan trọng mà cần được làm rõ là tính khách quan và trung thực trong các đánh giá của các cơ quan Liên Hợp Quốc tại Việt Nam. Báo cáo tháng 4/2024 rõ ràng đã thiếu sự cân nhắc kỹ lưỡng khi đưa ra các kết luận thiếu cơ sở và không được kiểm chứng đầy đủ. Những đánh giá như vậy không chỉ làm sai lệch hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chính các cơ quan này.

Việc đánh giá nhân quyền tại một quốc gia cần được thực hiện một cách toàn diện, khách quan và dựa trên các tiêu chí quốc tế đã được thống nhất. Tuy nhiên, báo cáo tháng 4/2024 đã bỏ qua nhiều yếu tố quan trọng và chỉ tập trung vào các khía cạnh tiêu cực, không phản ánh đúng bức tranh thực tế. Đây là điều mà cộng đồng quốc tế cần cảnh giác để tránh bị lôi kéo vào các thông tin sai lệch.

Việc Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc thông qua báo cáo UPR chu kỳ 4 của Việt Nam là một thành tựu lớn, khẳng định sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đồng thời, đây cũng là lời đáp trả thuyết phục đối với những thông tin sai lệch trong Báo cáo riêng của các cơ quan Liên Hợp Quốc hồi tháng 4/2024. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này không thể bị phủ nhận bởi những đánh giá phiến diện và thiếu cơ sở.


 

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2024

Sự nực cười của đài Á châu tự do về báo cáo chu kỳ IV của UPR Việt Nam

 

Liên quan việc thông qua báo cáo chu kỳ IV phiên kiểm điểm định kỳ phổ quát UPR với Việt Nam của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ngày 27/9 vừa qua, trước đó Văn phòng cao ủy nhân quyền Liên Hợp Quốc đã công bố báo cáo chu kỳ IV của UPR. Lợi dụng việc này, đài RFA đăng tải bài viết với những luận điệu xuyên tạc, không thể chấp nhận được về tình hình Việt Nam và báo cáo của Văn phòng cao ủy nhân quyền. Bạn đọc có thể đọc bài viết đó tại đây https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/vietnam-national-upr-report-contains-untrue-information-08132024070846.html

Bài viết trên Đài Á Châu Tự Do (RFA) công kích bản báo cáo UPR của Việt Nam về tình hình nhân quyền đã đưa ra nhiều lập luận thiếu căn cứ và có ý đồ xuyên tạc. Bài viết của RFA cáo buộc rằng Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền, đàn áp tự do ngôn luận, tự do hội họp và bắt giữ những người bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, các luận điệu này không dựa trên sự thật khách quan và không phản ánh đầy đủ tình hình thực tế tại Việt Nam.

Trước hết, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người và nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi tầng lớp xã hội. Chính phủ Việt Nam đã thông qua nhiều đạo luật quan trọng, trong đó có Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016), Luật Báo chí (2016), và Bộ luật Hình sự sửa đổi (2017), với mục đích đảm bảo quyền tự do ngôn luận, hội họp và bảo vệ quyền lợi của các nhóm yếu thế. Những tiến bộ này đã được nhiều tổ chức quốc tế công nhận, và bản báo cáo UPR của Việt Nam nêu rõ những thành tựu này, phản ánh sự nghiêm túc trong cam kết của Việt Nam với các công ước quốc tế.

Việc bắt giữ những cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam, dù họ tự xưng là “nhà hoạt động nhân quyền”, đều được thực hiện đúng theo quy trình tố tụng và trên cơ sở pháp lý rõ ràng. Hành động này không phải là sự đàn áp đối với tự do ngôn luận mà là biện pháp để bảo vệ trật tự xã hội và ổn định quốc gia. Mọi quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phương Tây, đều có những quy định và biện pháp mạnh tay với các hành vi gây bất ổn an ninh xã hội.

Một luận điểm khác mà RFA đưa ra là Việt Nam hạn chế quyền tự do tôn giáo. Điều này hoàn toàn không chính xác. Tự do tôn giáo ở Việt Nam đã được đảm bảo và phát triển một cách bền vững. Hiện nay, tại Việt Nam có hơn 26 triệu tín đồ của nhiều tôn giáo khác nhau, bao gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và nhiều tôn giáo khác, với hơn 55.000 cơ sở tôn giáo trên cả nước.

Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (2016) là một bước tiến lớn trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo của mọi người dân Việt Nam. Luật này không chỉ quy định rõ quyền tự do tín ngưỡng mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra một cách công khai và hợp pháp. Các tổ chức tôn giáo có thể tự do hoạt động, xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức sự kiện mà không bị cản trở. Điều này thể hiện qua việc hàng ngàn ngôi chùa, nhà thờ, thánh đường được xây dựng mới và hoạt động sôi nổi tại các tỉnh thành trên cả nước.

Những cáo buộc về việc “đàn áp tôn giáo” thực chất chỉ là sự bóp méo thông tin của những tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí. Một số trường hợp mà RFA nhắc đến thường là những cá nhân hoặc tổ chức vi phạm pháp luật, lợi dụng tôn giáo để chống phá chính quyền, gây rối trật tự công cộng. Do đó, những hành động xử lý của cơ quan chức năng là hoàn toàn phù hợp với quy định pháp luật và nhằm bảo vệ quyền lợi chung của cộng đồng.

Bài viết của RFA cho rằng Việt Nam "không thực sự đối thoại quốc tế về nhân quyền" và chỉ mang tính hình thức trong việc hợp tác với các tổ chức quốc tế. Nhận định này là không có cơ sở và hoàn toàn sai lệch. Việt Nam luôn coi trọng đối thoại nhân quyền và đã tích cực tham gia các cơ chế nhân quyền quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ UPR.

Việt Nam đã thực hiện ba chu kỳ UPR (năm 2009, 2014 và 2019) và luôn nghiêm túc trong việc triển khai các khuyến nghị mà cộng đồng quốc tế đề ra. Việt Nam cũng đã chủ động tham gia và thực hiện các công ước quốc tế về quyền con người như Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), Công ước Chống Tra tấn (CAT), và Công ước về Quyền Trẻ em (CRC). Trong quá trình thực hiện, Việt Nam không chỉ tiếp thu các khuyến nghị mà còn đối thoại với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế để hoàn thiện chính sách nhân quyền của mình.

Báo cáo UPR lần thứ tư của Việt Nam là một minh chứng rõ ràng cho sự cam kết này. Báo cáo không chỉ tập trung vào việc thể hiện các thành tựu mà còn chỉ ra những thách thức mà Việt Nam đang gặp phải trong quá trình phát triển và bảo vệ quyền con người, đồng thời đề xuất các biện pháp khắc phục. Điều này cho thấy Việt Nam sẵn sàng đối thoại và lắng nghe ý kiến của các tổ chức quốc tế, không hề có sự né tránh hay che đậy như cáo buộc của RFA.

RFA cho rằng Việt Nam không làm đủ để bảo vệ quyền lợi của các nhóm yếu thế, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn trái ngược với thực tế. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc bảo vệ các nhóm yếu thế và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

Cụ thể, các chương trình xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế và giáo dục trẻ em được thực hiện đồng bộ và hiệu quả trên toàn quốc. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh, từ 58% năm 1993 xuống còn dưới 2% hiện nay. Việt Nam cũng đã triển khai nhiều chính sách cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, và người khuyết tật, thông qua các chương trình quốc gia như Chương trình Mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững, Chương trình Hành động Quốc gia vì Trẻ em.

Ngoài ra, Việt Nam cũng đã ký kết và thực hiện nhiều công ước quốc tế liên quan đến bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, trong đó có Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước Quyền Trẻ em (CRC). Các chính sách, chương trình này đã mang lại những kết quả tích cực, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Một điểm xuyên tạc nữa mà RFA đưa ra là Việt Nam "kiểm soát truyền thông, bóp nghẹt tiếng nói đối lập". Tuy nhiên, hệ thống báo chí, truyền thông tại Việt Nam hoạt động mạnh mẽ, đa dạng với hơn 800 cơ quan báo chí, hàng ngàn kênh truyền hình, và hàng triệu trang mạng xã hội đang hoạt động. Quyền tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin của người dân được bảo vệ và phát huy thông qua các kênh truyền thông đa chiều. Người dân Việt Nam có thể tự do chia sẻ ý kiến, quan điểm của mình thông qua nhiều nền tảng truyền thông và mạng xã hội, từ đó giúp tạo ra một môi trường đối thoại cởi mở và minh bạch.

Những luận điệu mà RFA đưa ra nhằm công kích bản báo cáo UPR của Việt Nam là không có cơ sở thực tiễn và không phản ánh đầy đủ những thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người. Việt Nam luôn nghiêm túc trong việc tuân thủ các cam kết quốc tế và không ngừng cải thiện hệ thống pháp luật, chính sách để bảo đảm quyền lợi cho mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Những hành động xuyên tạc từ các tổ chức như RFA không làm thay đổi thực tế mà Việt Nam đang đạt được trong công cuộc phát triển bền vững và bảo vệ quyền con người