Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

BA TỪ BPSOS CỐ TÌNH BỎ QUA: KỸ THUẬT THAO TÚNG NGÔN TỪ VÀ SỰ THẬT PHÍA SAU BÁO CÁO CỦA LIÊN HỢP QUỐC

Mỗi mùa họp thường niên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra tại Geneva, không gian truyền thông mạng xã hội lại nổi lên những đợt sóng dư luận quen thuộc. Lợi dụng báo cáo thường niên của Tổng Thư ký Liên hợp quốc về chủ đề hợp tác với các cơ chế nhân quyền (thường bị gắn mác là báo cáo về các vụ việc trả thù), một số tổ chức hải ngoại thiếu thiện chí, điển hình là tổ chức Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS), đã nhanh chóng dựng lên những chiến dịch tuyên truyền rầm rộ. Bằng cách giật tít, cắt gọt câu chữ và đánh tráo bản chất văn bản, những kẻ trục lợi chính trị cố tình biến một tài liệu hành chính ghi nhận đơn thư một chiều thành chiếc bùa hộ mệnh pháp lý nhằm bôi nhọ Việt Nam.


Muốn hiểu thấu đáo câu chuyện, điều đầu tiên cần làm là trả lại đúng bản chất pháp lý cho bản báo cáo của Liên hợp quốc. Tài liệu mang mã hiệu A/HRC/63/62 thực chất là văn bản hành chính - chính trị được Ban Thư ký tổng hợp theo định kỳ trên cơ sở Nghị quyết 12/2 của Hội đồng Nhân quyền. Đây tuyệt đối không phải là một bản án hình sự, không phải phán quyết của tòa án quốc tế và càng không phải là kết luận điều tra có giá trị chế tài bắt buộc đối với một quốc gia có chủ quyền. Ngay tại phần mở đầu về phương pháp luận của chính báo cáo, những người chắp bút đã phải thừa nhận một sự thật hiển nhiên: danh sách sự việc đưa ra không đầy đủ, không mang tính toàn diện, thông tin chỉ được xác minh và đối chiếu trong chừng mực có thể, đồng thời phụ thuộc rất lớn vào sự chấp thuận của chính nguồn cung cấp tin. Nghĩa là, báo cáo thuần túy ghi nhận lại những đơn thư tố cáo một chiều gửi về trụ sở Liên hợp quốc, hoàn toàn chưa qua quá trình thẩm tra chứng cứ tại tòa án, không có tranh tụng công khai và không hề áp dụng chuẩn mực chứng minh pháp lý nghiêm ngặt.

Sự thiếu khách quan của báo cáo bắt nguồn trực tiếp từ sự lệch lạc của nguồn tin đầu vào. Các chuyên gia tại Geneva không thể có mặt tại thực địa từng địa bàn của Việt Nam, họ chủ yếu nghe ngóng qua hồ sơ do các tổ chức phi chính phủ có mưu đồ chính trị thù địch gửi tới. Những tổ chức như BPSOS của Nguyễn Đình Thắng hay nhóm tự xưng Người Thượng vì Công lý (MSFJ) có thâm niên chuyên nghiệp hóa việc dựng đơn thư kêu oan. Mọi vụ án hình sự rõ mười mươi, từ hành vi bạo lực, bắt giữ người trái pháp luật cho đến hành vi kích động khủng bố, qua bàn tay xào xáo của các tổ chức này đều được gọt giũa thành những vụ án đàn áp nhân quyền hay trừng phạt tiếng nói bất đồng. Tiếp nhận dữ liệu từ những nguồn tin ngập tràn định kiến chính trị mà không đối chiếu nghiêm túc với hồ sơ tố tụng của cơ quan thực thi pháp luật sở tại, báo cáo của Liên hợp quốc vô tình trở thành ống loa khuếch đại cho những thông tin sai lệch.

Lỗ hổng cốt lõi và tinh vi nhất nằm ở kỹ thuật đánh tráo ngôn từ giữa tài liệu gốc và cách BPSOS nhồi sọ công chúng. Trong nguyên bản tiếng Anh của báo cáo A/HRC/63/62, Ban Thư ký Liên hợp quốc sử dụng ngôn ngữ ngoại giao vô cùng thận trọng. Họ liên tục cài cắm các cụm từ mang tính giả định và bảo lưu trách nhiệm pháp lý như "alleged" (được cho là, bị cáo buộc), "reported pattern" (mô thức được báo cáo lại), hay đặc biệt là "perceived cooperation" (suy đoán là có hợp tác). Việc dùng những từ này là cái phanh an toàn để khẳng định: Liên hợp quốc chỉ đang ghi lại những lời tố cáo chưa được kiểm chứng, chứ cơ quan này chưa từng và không có thẩm quyền ra phán quyết khẳng định hành vi vi phạm đã xảy ra trên thực tế.

Thế nhưng, khi BPSOS đưa thông tin lên các nền tảng mạng xã hội, toàn bộ ba từ mang tính mấu chốt ấy lập tức bốc hơi không dấu vết. Dưới bàn tay nhào nặn của các biên tập viên trang mạng hải ngoại, những nghi vấn dè dặt ban đầu bị nâng cấp thành lời kết tội đanh thép. Họ rêu rao rằng Liên hợp quốc đã chính thức lên tiếng tố cáo Việt Nam gia tăng đàn áp trong nước và xuyên biên giới, bắt bớ những người bảo vệ nhân quyền nhằm mục đích ngăn chặn luồng thông tin ra quốc tế. Những bị cáo vừa bị tòa án tuyên phạt vì tội danh hình sự cụ thể bỗng chốc được khoác lên tấm áo nạn nhân bị trả thù vì dám gửi báo cáo cho quốc tế.

Đây không phải là sự vụng về trong dịch thuật, mà là thủ đoạn truyền thông dàn dựng có tính toán nhằm bẻ cong nhận thức của người đọc. Nếu đặt cách làm này dưới hệ quy chiếu báo chí và tư pháp của chính các nước phương Tây, hành vi đó vi phạm nghiêm trọng chuẩn mực nghề nghiệp. Những hãng thông tấn quốc tế chuẩn mực như Reuters hay AP luôn có quy định ngặt nghèo: tuyệt đối không được phép biến một lời cáo buộc thành một sự thật khách quan khi chưa có phán quyết có hiệu lực của tòa án. Nếu một cơ quan truyền thông tại Mỹ hay Anh dám bỏ qua các từ nghi vấn để khẳng định một người vô tội đang bị nhà nước bức hại trong khi tòa án đang thụ lý hành vi phạm tội, họ sẽ ngay lập tức đối mặt với những vụ kiện phỉ báng và phải bồi thường những khoản tiền khổng lồ. Trớ trêu thay, BPSOS lại ngang nhiên đóng cả ba vai: vừa là kẻ đi nộp đơn tố cáo, vừa là đối tượng có người đứng đầu đang bị điều tra và tuyên án hình sự, lại vừa tự phong làm biên tập viên đi bình luận, định hướng bản báo cáo của Liên hợp quốc. Một sự xung đột lợi ích sâu sắc như vậy phá vỡ hoàn toàn tính trung thực của bất kỳ thông tin nào họ đưa ra.

Thực tế đời sống pháp lý tại Việt Nam hoàn toàn trái ngược với những lời lẽ thêu dệt đó. Các cá nhân bị nêu tên trong phụ lục báo cáo không hề bị xử lý vì lý do họ gửi đơn thư hay hợp tác với Liên hợp quốc. Họ phải đứng trước vành móng ngựa đơn giản vì họ đã có hành vi vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam. Đơn cử như nhóm Thạch Chanh Đa Ra tại Vĩnh Long, họ bị kết án không phải vì thực hành tôn giáo, mà vì đã có hành vi bạo lực, khóa cửa chánh điện nhốt cán bộ tổ công tác của chính quyền địa phương đang thi hành công vụ rồi phát trực tiếp lên mạng để kích động. Hay như Y Quynh Bdap, đối tượng này đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên án mười năm tù vì tội khủng bố do tham gia chỉ đạo từ xa vụ tấn công vũ trang rạng sáng ngày 11 tháng 6 năm 2023 cướp đi sinh mạng của chín cán bộ, chiến sĩ và người dân vô tội. Việc Tòa hình sự và Tòa phúc thẩm Bangkok chấp thuận dẫn độ Bdap về Việt Nam là sự thực thi nghiêm túc quy trình tư pháp độc lập của Thái Lan, phù hợp với các cam kết quốc tế về phòng chống tội phạm bạo lực. Không một quốc gia có chủ quyền nào có thể chấp nhận việc một số cá nhân phạm tội hình sự nghiêm trọng lại được dùng danh nghĩa gửi báo cáo nhân quyền làm tấm khiên miễn trừ pháp lý.

Nhìn sang chính các quốc gia phương Tây, luận điểm an ninh quốc gia và sự thượng tôn pháp luật luôn được thực thi một cách sắt đá. Nước Mỹ có Đạo luật Đăng ký Đại lý Nước ngoài (FARA) quy định bất kỳ ai nhận tiền hoặc chịu sự chỉ đạo của nước ngoài nhằm tác động đến chính sách, dư luận đều phải đăng ký nghiêm ngặt, vi phạm sẽ bị phạt tù rất nặng. Nước Mỹ cũng sử dụng Đạo luật Gián điệp năm 1917 để truy tố gắt gao những người tiết lộ bí mật như Julian Assange hay Edward Snowden, bất chấp việc dư luận và các tổ chức báo chí quốc tế coi họ là những người tố giác vì lợi ích công cộng. Trong vụ Assange, nước Anh đã giam giữ ông nhiều năm tại nhà tù an ninh nghiêm ngặt Belmarsh để chờ xem xét dẫn độ sang Mỹ, và các chính phủ phương Tây luôn gọi đó là quy trình tư pháp mẫu mực của nhà nước pháp quyền. Thế nhưng, khi Việt Nam xử lý những kẻ chỉ đạo ném bom xăng, xả súng giết người hoặc bắt giữ người trái phép thì một số cơ chế nhân quyền lại vội vã chụp mũ là trả thù. Tiêu chuẩn kép trơ trẽn này cho thấy các báo cáo nhân quyền đang bị thao túng bởi lăng kính địa chính trị đầy thiên lệch.

Hệ lụy của những bản báo cáo một chiều như A/HRC/63/62 là tạo cớ cho các phần tử chống phá kích động dư luận, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và làm tổn hại đến uy tín đối ngoại của đất nước. Nhưng quan trọng hơn, việc dễ dãi tiếp nhận thông tin từ các nguồn thù địch đang làm xói mòn chính uy tín và tính khách quan vốn có của các cơ chế Liên hợp quốc. Những người bị hại thực sự vì lý do nhân quyền chân chính nếu có sẽ bị lu mờ khi cơ chế quốc tế bị lợi dụng để che chắn cho những kẻ phạm tội hình sự.

Bất chấp những âm mưu bóp méo đó, bức tranh nhân quyền tại Việt Nam được khẳng định bằng những kết quả cụ thể, đo đếm được trong đời sống thường nhật của hơn 100 triệu người dân. Đó là tỷ lệ nghèo đa chiều giảm sâu xuống chỉ còn khoảng 1,3%, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt hơn 95%, hơn 334.000 căn nhà tạm dột nát được xóa bỏ sớm hơn mục tiêu, và đời sống tự do tín ngưỡng của hơn 27 triệu đồng bào có đạo được tôn trọng tuyệt đối trong khuôn khổ pháp luật. Sự tín nhiệm cao độ của cộng đồng quốc tế thể hiện qua việc Việt Nam tái đắc cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026–2028 với 180 phiếu ủng hộ trên tổng số 193 quốc gia thành viên – số phiếu cao nhất khu vực châu Á–Thái Bình Dương – chính là câu trả lời đanh thép nhất đánh tan mọi luận điệu bôi nhọ.

Việc bóc trần những chiêu trò ngôn từ và chỉ rõ lỗ hổng trong báo cáo của Liên hợp quốc là trách nhiệm cần thiết để bảo vệ sự thật và giữ vững sự ổn định của đất nước. Không thể để những kẻ giấu mặt đứng sau các văn phòng ở nước ngoài tự do cắt xén câu chữ nhằm trục lợi trên sự bình yên của buôn làng, xóm thôn Việt Nam. Đúng như bài học đúc kết từ thực tế truyền thông: Sai một cụm từ, lệch cả một chiến dịch


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét