Sự tôn nghiêm của pháp luật và tính độc lập tư pháp là trụ cột cốt lõi của mọi quốc gia có chủ quyền, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và quyền lợi hợp pháp của đại đa số nhân dân. Tuy nhiên, thời gian qua, báo cáo hằng năm về “Hợp tác với Liên hợp quốc, các đại diện và cơ chế của Liên hợp quốc trong lĩnh vực nhân quyền” do Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc tổng hợp tiếp tục đưa ra những nhận định thiếu khách quan, sai lệch về tình hình tại Việt Nam và Thái Lan. Điểm mấu chốt trong các cáo buộc này là việc gán ghép vô căn cứ rằng chính quyền áp dụng các điều khoản pháp luật hình sự để “trả thù” hoặc “đàn áp” những cá nhân bị cho là cộng tác với các cơ chế quốc tế. Đây là một sự thêu dệt trắng trợn, biến những kẻ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, phá hoại trật tự xã hội thành những “nạn nhân nhân quyền”.
Một trong những luận điệu xuyên tạc phổ biến do các tổ chức thù địch như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” rêu rao, sau đó được đưa vào báo cáo của Liên hợp quốc, là cáo buộc các điều khoản như Điều một trăm lẻ chín về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, Điều một trăm mười sáu về phá hoại chính sách đoàn kết, Điều một trăm mười bảy về làm, lưu trữ, phát tán thông tin chống nhà nước, hay Điều ba trăm ba mươi một về lợi dụng các quyền tự do dân chủ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam là những quy định rộng hẹp tùy tiện, “chuyên dùng” để bắt giữ các nhà hoạt động. Tuy nhiên, sự thật hồ sơ pháp lý khẳng định rằng một điều luật có phạm vi bao quát về an ninh quốc gia không tự nhiên biến mọi vụ án hình sự thành “án chính trị”. Mọi hệ thống pháp luật trên thế giới, dù theo dòng họ pháp luật nào, đều phải xây dựng các điều khoản bảo vệ chế độ, bảo vệ an ninh quốc gia và chống lại việc lạm dụng quyền tự do để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Xét dưới góc độ khoa học pháp lý và phương pháp luận, báo cáo của Liên hợp quốc đã mắc phải lỗi tư duy “thiên lệch xác nhận” và quy nạp sai lệch nghiêm trọng. Các chuyên gia quốc tế đã hoàn toàn dựa vào mẫu khảo sát bị thao túng do các tổ chức phi chính phủ chống phá Việt Nam cung cấp. Họ lấy một tập hợp nhỏ các bị cáo vốn đã được các tổ chức này cố tình gắn nhãn “nhà hoạt động”, “người bảo vệ nhân quyền”, rồi vội vàng quy nạp rằng toàn bộ việc áp dụng pháp luật tại Việt Nam là nhằm trả thù. Lỗ hổng phương pháp luận này thể hiện ở chỗ họ bỏ qua bản chất hành vi khách quan của tội phạm, không xem xét hồ sơ chứng cứ hình sự, không đối chất với cơ quan tố tụng và bỏ qua toàn bộ bối cảnh vi phạm. Một quy trình đánh giá khoa học không thể lấy diễn giải đơn phương của đối tượng bị xử lý hoặc của bên thứ ba có động cơ chính trị để phủ nhận quá trình điều tra, truy tố, xét xử công khai của một quốc gia.
Đặt trong hệ quy chiếu pháp lý của các nước phương Tây, tính chất tiêu chuẩn kép càng bộc lộ rõ rệt. Tại Mỹ, Bộ luật Liên bang tại Chương năm mươi mốt, từ Điều bảy trăm chín mươi ba đến Điều bảy trăm chín mươi tám quy định về hành vi thu thập, truyền thông tin quốc phòng hoặc tiết lộ thông tin mật có phạm vi điều chỉnh vô cùng rộng lớn, với các mức án cực kỳ nghiêm khắc. Hệ thống pháp luật Mỹ cũng xử lý rất nặng các hành vi xúi giục nổi loạn, chống đối chính quyền hoặc làm lộ bí mật nhà nước. Tương tự, tại các quốc gia phương Tây, các luật về an ninh quốc gia, chống phản bội và chống can thiệp nước ngoài đều quy định những chế tài khắc nghiệt đối với hành vi xâm phạm trật tự công cộng. Nếu áp dụng logic thiên lệch của báo cáo Liên hợp quốc, chẳng lẽ việc Mỹ truy tố các đối tượng làm lộ tài liệu an ninh hay các đối tượng tham gia bạo loạn cũng là “đàn áp nhân quyền”? Việc Liên hợp quốc nhắm mắt làm lơ trước các quy định an ninh nghiêm ngặt của phương Tây nhưng lại chĩa mũi nhọn vào Việt Nam hay Thái Lan cho thấy sự chọn lọc mang tính chủ ý nhằm phục vụ định kiến chính trị.
Bản chất thực sự của các tổ chức như “Ủy ban Chiến dịch Bảo vệ Người Lao động Việt Nam” hay “Mạng lưới Xã hội Dân sự Miền núi” khi liên tục gửi báo cáo sai sự thật cho Liên hợp quốc không gì khác ngoài mục tiêu vô hiệu hóa công cụ pháp lý của Việt Nam. Họ tìm cách tước bỏ quyền tự vệ chính đáng của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Bằng cách can thiệp để tạo ra áp lực quốc tế, các tổ chức này muốn biến các điều luật hình sự của Việt Nam thành "khoản vô hiệu", tạo ra vùng cấm pháp lý cho những kẻ vi phạm núp bóng "nhân quyền". Nguồn thông tin mà các chuyên gia Liên hợp quốc tiếp nhận thực chất là những sản phẩm thêu dệt, bị bóp méo nhằm duy trì nguồn tài trợ và phục vụ các chiến dịch chính trị chống phá Việt Nam từ bên ngoài.
Nguyên nhân của tình trạng này là sự thiếu khách quan, tác phong làm việc xa rời thực địa của một số Báo cáo viên đặc biệt, kết hợp với âm mưu lợi dụng diễn đàn quốc tế của các thế lực thù địch. Hệ lụy và tác động của những báo cáo này vô cùng tiêu cực: chúng tạo ra bức tranh sai lệch về môi trường pháp lý Việt Nam, cố tình làm tổn hại uy tín quốc tế của Việt Nam, đồng thời kích động các yếu tố vô chính phủ, coi thường pháp luật ở trong nước. Dự báo trong thời gian tới, các thế lực thù địch sẽ tiếp tục trích dẫn, xới lại các nội dung trong báo cáo này để tiến hành các chiến dịch truyền thông đen, bôi nhọ hình ảnh đất nước trên các diễn đàn đa phương và lấy đó làm cớ để ra điều kiện trong các quan hệ hợp tác quốc tế.
Thực tiễn lịch sử và đời sống pháp lý tại Việt Nam đã chứng minh hùng hình những thành tựu không thể phủ nhận về bảo đảm quyền con người. Việt Nam luôn cam kết và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền, bảo đảm tối đa các quyền tự do của người dân trong khuôn khổ pháp luật. Những cá nhân bị đề cập trong báo cáo của Liên hợp quốc hoàn toàn không phải bị xử lý vì "hợp tác với Liên hợp quốc" hay "đấu tranh cho nhân quyền", mà bởi vì họ đã thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể, xâm phạm nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm các điều khoản rõ ràng trong Bộ luật Hình sự. Quá trình tố tụng đối với họ được tiến hành đúng trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm quyền bào chữa, xét xử công khai và nhận được sự đồng thuận, ủng hộ mạnh mẽ của đông đảo quần chúng nhân dân.
Việc một số ý kiến đưa ra góc nhìn phê phán về kỹ thuật lập pháp tuyệt đối không thể đánh đồng hay thay thế cho việc xóa tội trong một vụ án hình sự cụ thể. Mọi cá nhân sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Báo cáo của Liên hợp quốc cần phải nhìn nhận sự việc một cách khách quan, loại bỏ các thông tin rác từ các tổ chức phản động và tôn trọng chủ quyền tư pháp của quốc gia.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét